BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_______________________
Nguyễn Thị Thanh Hà Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học môn hóa học
Mã số : 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN THỊ HOÀNG OANH Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
GV : giáo viên
GVCN : giáo viên chủ nhiệm
HĐGD NGLL : hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HS : học sinh
MC : người dẫn chương trình
NGLL : ngoài giờ lên lớp
NXB : nhà xuất bản
SGK : sách giáo khoa
THPT : trung học phổ thông
TB : trung bình
TN : thanh niên
TP : thành phố
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, Đảng ta
đã xác định: “Giáo dục nhân cách đa dạng, độc lập, đó là cơ sở của sáng tạo và
canh tân xã hội. Thế kỷ XXI là thế kỷ của tài năng và nhân cách đa dạng. Học để tự
khẳng định mình là tạo ra sự phát triển toàn diện con người với toàn bộ sự phong
phú, đa dạng vốn c
ó của nhân cách cá nhân.” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần II khóa VIII năm 1996).
Như vậy, mục đích của việc dạy học ngày nay là giáo dục học sinh (HS)
thành những con người toàn diện, dạy chữ kết hợp với dạy người.
Từ những năm gần đây, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đưa vào chương trình học
một nội dung mới: ngoài giờ lên lớp (NGLL). Mục tiêu chính của hoạt động này là
LL có nội dung hóa học.
Tổ chức và tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động
NGLL, nhằm góp phần giáo dục toàn diện HS khối lớp 10 và 11.
3. Khách thể - đối tuợng nghiên cứu
Khách thể: quá trình giáo dục toàn diện HS ở trường THPT.
Đối tượng: việc thiết kế các hoạt động NGLL cho HS lớp 10 và 11 trường
THPT.
4. Nhiệm vụ của đề tài
Hoàn thiện hệ thống cơ sở lí luận về hoạt động NG
LL.
Tìm hiểu, điều tra thực trạng các tiết học NGLL ở trường THPT.
Xác định những nội dung của hóa học có thể kết hợp cùng với hoạt động
NGLL.
Sưu tầm, sáng tạo những hình thức kết hợp hóa học – NGLL.
Xây dựng tiết NGLL có nội dung hóa học.
Tiến hành thực nghiệm sư phạm.
Tìm ra các biện phá
p để nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động NGLL.
5. Phạm vi nghiên cứu
Chương trình: khối lớp 10 và 11.
Nội dung: việc đưa nội dung hóa học vào hoạt động NGLL.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu đưa nội dung hóa học vào hoạt động NGLL tiết học sẽ thêm phong phú,
sinh động, thiết thực, nhờ vậy sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục, góp phần phát triển
năng lực và hoàn thiện nhân cách của HS.
7. Các phuơng pháp nghiên cứu
– Đọc và tham khảo các tài liệu.
– Quan sát.
– Trò chuyện, phỏng vấn.
– Dùng phiếu điều tra.
môn nhiều hơn việc rèn luyện những phẩm chất, kĩ năng, bồi dưỡng nhận thức cho
HS. Một số trường có tổ chức các buổi ngoại
khóa bài bản thì lại tập trung chủ yếu
vào kiến thức chuyên môn, hoặc tạo nơi vui chơi, giải trí cho HS sau giờ học.
Trong thời gian này, chương trình giáo dục ở trường phổ thông không có
HĐGD NGLL. Việc tổ chức các hoạt động này cho HS được tiến hành qua văn bản
“Hướng dẫn giáo dục theo chủ điểm” mà Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành bằng
chỉ thị số 1960 CT/1983. Sau đó,
hàng năm Bộ Giáo dục & Đào tạo lại có văn bản
hướng dẫn bổ sung. Với văn bản hướng dẫn này, các nhà trường đã tổ chức thực
hiện HĐGD cho HS tuỳ theo điều kiện và khả năng cho phép [30, tr.3].
Nói một cách đơn giản là hoạt động NGLL chưa được chú trọng đúng mức
như hiện nay. Đó cũng là lí do vì sao trước đây, tài liệu viết về hoạt động NGLL
không nhiều. C
ó thể kể ra một số tài liệu như:
+ HĐGD NGLL ở trường THCS, của Đặng Vũ Hoạt (1999).
+ Thực hành tổ chức các HĐGD, của Hà Nhật Thăng (2005).
1.1.2. Giai đoạn 2: Hoạt động được đưa vào chương trình chính khóa
Bắt đầu từ năm học 2006 – 2007, cùng với việc cải cách nội dung, chương
trình SGK, hoạt động NGLL cũng được đưa vào c
hương trình như một phần của
việc học văn hóa. Nhờ vậy, hoạt động mới phát huy được hết tác dụng giáo dục đối
với sự hình thành và phát triển nhân cách HS.
Từ đó, với mong muốn có thể đạt được mục tiêu đề ra ban đầu, việc nghiên
cứu về hoạt động này cũng được quan tâm nhiều hơn.
1. Hiện nay, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã xuất bản 3 tập sách cho 3 khối học
trong cấp THPT [6, 7, 8] như một kim chỉ nam cho HĐGD NGLL theo chủ điểm
từng tháng của từng khối. Việc làm này không những khẳng định HĐGD NGLL c
ó
vai trò như một môn học chính thức mà còn giúp điều chỉnh, định hướng HĐGD
đội và thực hành tổ chức HĐGD NGLL, do nhóm tác giả trường Cao đẳng Sư phạm
TP. Hồ Chí Minh biên soạn (2007) [13].
“Tổ chức hoạt động NGLL có nội dung hóa học góp phần giáo dục toàn
diện HS ở trường THPT”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Lê Thị Kim
Dung (2008) [14]
. Đây là công trình khoa học gần nhất với huớng nghiên cứu của
tác giả. Luận văn gồm 153 trang, nội dung nghiên cứu gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã xác định được vai trò quan trọng của hoạt động NGLL, đồng thời
làm sáng tỏ phương pháp thiết kế và tổ chức hoạt động NG
LL.
Kết hợp kiến thức hóa học với hoạt động NGLL, làm rõ nhiệm vụ, tác
dụng và nguyên tắc hoạt động của hoạt động NGLL có nội dung hóa học.
Nêu rõ cách thức tổ chức và tiến hành hoạt động NGLL có nội dung hóa
học cụ thể cho từng loại hình: hoạt động NGLL theo chủ đề tháng và hoạt
động ngoại khóa hóa học.
Điều tra thực tế nhằm rút ra một số vấn đề thực tiễn của hoạt động NG
LL
hiện nay ở TP. Hồ Chí Minh.
Phần 2. Thiết kế một số HĐGD NGLL có nội dung hóa học
Tác giả đã sáng tạo, thiết kế được:
+ 5 hoạt động NGLL theo chủ đề tháng: Sân chơi hấp dẫn, Lớp chúng
mình – các nguyên tố hóa học, Những món quà đặc biệt, Bảo vệ môi
trường, Hóa học và tài nguyên môi trường.
+ 3 hoạt độn
g theo chủ đề ngoại khóa hóa học: Vui chơi cùng hóa học,
Hóa học lí thú, Cùng kể chuyện các nguyên tố hóa học.
Trong từng bài thiết kế, tác giả nêu rõ mục đích hoạt động, phần chuẩn bị,
cách tiến hành, và vai trò, tác dụng của nội dung hóa học trong hoạt động.
Phần 3. Tiến hành thực nghiệm và chứng minh tính khả thi của đề tài
tác động qua lại giữa con người (chủ thể) và thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm
cả về phía thế giới, cả về phía con người. Trong mối quan hệ đó có hai quá trình
diễn ra đồng thời và bổ sung c
ho nhau, thống nhất với nhau:
Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa, trong đó chủ thể chuyển năng
lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, có nghĩa là tâm lý của của con người
được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm.
Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa: khi hoạt động con người chuyển
từ phía khách thể vào bản thân mình những qui luật, bản chất của thế giới tạo nên
tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm lĩnh thế giới đó.
1.2.2. Những đặc điểm của hoạt động
Hoạt động bao giờ cũng là “hoạt động có
đối tượng”: đối tượng của hoạt
động là cái con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh (động cơ).
Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể.
– Hoạt động bao giờ cũng có tính mục đích: mục đích của hoạt động là làm
biến đổi thế giới (khách thể), biến đổi bản thân chủ thể.
– Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián
tiếp: trong hoạt động con người
“gián tiếp” tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý trong đầu, qua việc sử dụng
công cụ lao động và sử dụng phương tiện ngôn ngữ.
1.2.3. Các loại hoạt động
Có nhiều cách phân loại hoạt động:
1. Xét về phương diện cá thể: có 4 loại hoạt động là vui chơi, học tập, lao động và
hoạt động xã hội.
2. Xét về phương diện sản phẩm (vật chất ha
y tinh thần) có hai loại hoạt động:
– Hoạt động thực tiễn : tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu.
– Hoạt động lý luận: tạo ra sản phẩm tinh thần.
3. Còn có cách phân loại khác, chia hoạt động thành 4 loại: hoạt động biến đổi, hoạt
Sản phẩm
1.2.5. Vận dụng lý thuyết hoạt động vào đề tài nghiên cứu
Dựa vào cấu trúc của hoạt động, chúng tôi có những vận dụng vào đề tài
nghiên cứu như sau:
■ Muốn tạo đư
ợc một sản phẩm mới, đạt chất lượng – ở đây chính là sự lĩnh
hội tri thức, sự hình thành và phát triển kĩ năng, sự hoàn thiện dần về ý thức và tư
tưởng của HS, bản thân người thiết kế cần phải nắm rõ cấu trúc của hoạt động.
– Chủ thể của hoạt động ở đây là người tổ chức (có thể l
à GV hoặc chính HS),
người tham gia (HS); khách thể là các hoạt động NGLL có nội dung hóa học.
Cụ thể: giữa chủ thể và khách thể phải có sự tác động qua lại lẫn nhau. HS
tác động (thực hiện), làm cho hoạt động này phát huy, bộc lộ tác dụng của chúng.
Thông qua đó, HS lại thu về được kiến thức, kĩ năng, hình thành thái độ, nhận thức
mới.
■ Để làm được như vậy, khi thiết kế hoạt động, GV cần chú ý đến sự thống
nhất, xuyên suốt giữa động cơ, mục đích và phương tiện tiến hành. Hoạt động luôn
hướng vào động cơ. Do đó, các hoạt động NGLL thông qua các hình thức tổ chức
phải thu hút, hấp dẫn với người tham gia, và phải có tác dụng phát huy khả năng,
bồi dưỡng tư tưởng, nhận thức, tình cảm. Kh
i chủ thể tìm thấy mục đích của mình
trong đối tượng thì sẽ có nhiều nỗ lực hơn để giành được nó. Mặt khác, sự hấp dẫn,
thú vị của tiết học cũng có tác dụng tạo ra tâm lý thoải mái cho người tham gia,
thêm điều kiện thuận lợi cho quá trình hoạt động.
■ Khi tiến hành hoạt động, về phía chủ thể (HS) có ba thành tố là hoạt động –
hành động – thao tác. Để việc rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực có
hiệu quả, khi tổ chức một hoạt động
NGLL, GV cần chú ý đến thao tác, hành động
bao gồm thao tác làm việc theo nhóm, thuyết trình, tìm tư liệu, chất vấn, thao tác thí
quá trình xã hội đó, tuy không thể thay thế cho toàn bộ các nhân tố và ảnh hưởng
của các quá trình xã hội, không thể một mình quyết định toàn bộ tiến trình phát triển
của cá nhân, nhưng lại đóng vai trò “chủ đạo” là định hướng, dẫn dắt sự phát triển
nhân cách. Vai trò chủ đạo của giáo dục được thể hiện trong bốn phương diện sau:
Giáo dục chủ động đề ra mục đíc
h, qui định phương hướng, nội dung và
mức độ của sự phát triển. Giáo dục căn cứ vào mục tiêu đào tạo tổng quát để
qui định mức độ phát triển cá nhân, bằng cách xây dựng chương trình giáo
dục cho từng loại đối tượng thích ứng với lứa tuổi, cấp học, loại trường, thời
gian, loại hình và phương pháp đào tạo.
Giáo dục can thiệp, điều chỉnh các yếu tố, tổ chức các hoạt động và giao
lưu nhằm tạo nê
n sự phát triển nhân cách thuận lợi.
Giáo dục tạo ra tiền đề cho tự giáo dục và hoạt động cá nhân. Trình độ,
khả năng tự giáo dục của cá nhân phần lớn bắt nguồn từ sự định hướng đúng
đắn của giáo dục. Sự thống nhất giữa giáo dục và tự giáo dục còn tạo ra khả
năng tự đề kháng của cá nhân trước các tác động, ảnh hưởng tiêu cực của
hoà
n cảnh xã hội.
Giáo dục phải đi trước, đón đầu sự phát triển. Sự định hướng của giáo dục
không chỉ thích ứng với các yêu cầu của xã hội hiện tại mà còn phải đi trước
hiện thực, hướng về tương lai để chủ động đón đầu và thúc đẩy sự phát triển.
Để giáo dục giữ vai trò chủ đạo và có tác động thực sự đến sự hình thành và
phát triển nhân cách của HS, cần có sự kết hợp giữa giáo dục và tự giáo dục. Thành
công trong giáo dục chính là làm cho người được giáo dục nhận thức được và chấp
nhận những yê
u cầu của nhà giáo dục và của tập thể, biến chúng thành của mình,
làm cho họ biết tự đề ra cho mình những mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống, tự bồi
dưỡng và tự rèn luyện những phẩm chất và năng lực mới cho bản thân.
1.3.3. Nguyên tắc chung của tổ chức HĐGD
n để cho các em khuấy
động không khí lớp bằng một vài trò chơi nho nhỏ. Cũng như vậy, trong từng tình
huống của hoạt động, mỗi HS sẽ có một cách nhìn nhận, xử lý khác nhau, GV
không nên áp đặt như thế là sai hay đúng.
Nguyên tắc 3: tiếp cận hệ thống và phát triển
Sự phát triển nhân cách của HS chịu sự tác động của các hệ thống: hệ thống
môi trường, hệ thống giáo dục, các nhân tố sinh học… Do đó việc xác định chức
năng và nhiệm vụ giáo dục cần phải xem xét đến tính hệ thống của hoạt động.
HĐGD là hoạt động luôn luôn biến động và phát triển không ngừng về nội dung,
phương pháp, hì
nh thức tổ chức để phù hợp với đối tượng của nó là HS đang trưởng
thành và phát triển, trong điều kiện xã hội cũng đang biến đổi như vũ bão.
Để thực hiện được nguyên tắc này, các nhà giáo dục cần lưu ý các yêu cầu:
Xác định rõ chức năng, vai trò từng nhân tố và đặt HĐGD trong điều kiện
xã hội cụ thể.
Tổ chức HĐGD phải gắn bó hữu cơ với hoạt động dạy học nhằm hướng
tới mục tiêu giáo dục nhâ
n cách toàn diện.
Có sự thống nhất cao giữa mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức giáo dục, tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
Luôn tạo động lực cho HS, luôn nhìn nhận các bản chất, xu hướng phát
triển của đối tượng giáo dục.
■ Khi thiết kế các HĐGD NGLL,
GV cần lưu ý đảm bảo:
– Hoạt động có nội dung và mục đích gắn liền với mục đích giáo dục chung
sao cho HS thấy được sự liên hệ mật thiết giữa nội khóa và ngoại khóa, giữa các
môn học với nhau.
– Dựa vào mục tiêu cuối cùng cần đạt – giáo dục HS thành những con người
với đầy đủ phẩm chất chân – thiện – mĩ để đề ra hình thức hoạt động phù hợp.
về HĐGD NGLL ở những khía cạnh sau:
1.4.1. Khái niệm
HĐGD NGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông
nói chung và trường THPT nói riêng. Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài
giờ học các môn học văn hóa trên lớp. HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy
học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa
nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở HS.
HĐGD NGLL là con đường hoàn thiện nhân cách thế hệ trẻ.
1.4.2. Mục tiêu và vai trò
1.4.
2.1. Mục tiêu
Như chúng ta đã biết, HĐGD NGLL là điều kiện tốt nhất để HS phát huy vai
trò chủ thể, tính tích cực, chủ động trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện. Với
ý nghĩa đó, mục tiêu của HĐGD NGLL được thể hiện ở những điểm sau:
■ Về nhận thức
: góp phần củng cố, mở rộng và khắc sâu kiến thức đã học trên
lớp, nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực của đời sống xã hội, về những giá trị truyền
thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và của thời đại;
có ý thức trách nhiệm đối với bản thân và xã hội, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp
cho bản t
hân.
■ Về kĩ năng
: Củng cố vững chắc các kĩ năng cơ bản đã được rèn luyện từ
Trung học cơ sở để trên cơ sở đó tiếp tục phát triển các năng lực chủ yếu như : năng
lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực thích ứng, năng lực hoạt động
chính trị – xã hội, năng lực tổ chức quản l
ý, năng lực hợp tác và cạnh tranh lành
mạnh; có lối sống phù hợp với các giá trị xã hội.
■ Về tư tưởng
: Bồi dưỡng nhân sinh quan, thế giới quan khoa học để từ đó có
HS phù hợp với yêu cầu, mục tiêu của giáo dục và đòi hỏi của xã hội.
Thu hút và phát huy tiềm năng của các lực lượng giáo dục, góp phần quan
trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
Mặt khác, hoạt động NGLL còn có ảnh hưởng tích cực đến kĩ năng tổ chức và
quản lý thời gian của HS. Các hoạt động này chiếm mất một số buổi trong t
hời khóa
biểu của HS, trong khi nhiệm vụ chính của họ vẫn là học tập. Để có thể tham gia
được các hoạt động mà họ yêu thích, HS phải biết sử dụng thời gian một cách hiệu
quả, lập kế hoạch cá nhân một cách hợp lý nhất để có thể hoàn thành đư
ợc mọi
nhiệm vụ (Rachel Hollrah, 2007) [15].
Với vai trò như vậy, HĐGD NGLL thực sự là một bộ phận hữu cơ của hệ
thống giáo dục ở trường THPT, cùng với hoạt động dạy và học trên lớp là một quá
trình gắn bó, thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học.
1.4.3. Sự phân bố thời lượng và nội dung chương trình HĐGD NGLL
1.4.3.1. Thời lượng
– Theo “Kế hoạch giáo dục của trường THPT”: trong một tháng, bên cạnh
các môn học cụ thể còn có các hoạt động khác, trong đó có 4 tiết HĐGD NGLL và
2 tiết hoạt động tập thể”.
– Theo tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của tác giả Từ Đức Văn [45]
thì
“HĐGD NGLL được qui định thực hiện vào tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, tiết
sinh hoạt lớp cuối tuần và 4 tiết hoạt động trong 1 tháng”.
1.4.3.2. Nội dung chương trình
HĐGD NGLL ở trường phổ thông tập trung vào 6 vấn đề lớn như sau:
– Lẽ sống của thanh niên trong giai đoạn CNH – HĐH đất nước.
– Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình.
– Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
– Tr
uyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng, bảo vệ di sản văn hóa.
phương hướng sau:
1. Trước hết, phải đa dạng hóa các hình thức HĐGD NGLL, khắc phục tính
chất đơn điệu, lặp đi lặp lại một vài hình thức đã quá que
n thuộc với HS và gây ra
nhàm chán, tẻ nhạt đối với các em.
Để thực hiện phương hướng này, cần gắn đổi mới hình thức hoạt động với đổi
mới phương pháp tổ chức hoạt động. Điều này thể hiện ở chỗ tăng cường tính chất
tương tác, tính chất sáng tạo của HS khi tham gia hoạt động. Tí
nh sáng tạo là công
cụ nhận thức thiết yếu giúp HS nâng cao hiểu biết của mình qua hoạt động. Đổi mới
phương pháp tổ chức HĐGD NGLL là phải khuyến khích tính sáng tạo của HS.
2. Đổi mới phương pháp tổ chức HĐGD NGLL cần định hướng vào việc phát
triển tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, khả năng hoạt động độc lập, khả
năng tự đề xuất và giải q
uyết vấn đề trong hoạt động cũng như khả năng tự kiểm tra
đánh giá kết quả hoạt động của các em. Nói cách khác đó là phát huy khả năng tự
quản các HĐGD NGLL của HS. Đổi mới phương pháp tổ chức HĐGD NGLL phải
kiên quyết khắc phục tính chất áp đặt, bao biện làm thay HS.
3. Đổi mới đánh giá kết quả hoạt động. Khi đánh giá phải bám sát vào mục
tiêu, đối chiếu với mục tiêu để xem xét mức độ thực hiện hoạt động của HS. Bởi vì
đánh giá là dịp giúp HS tự nhìn nhận được những tiến bộ cũng như những tồn tại
cần khắc phục trong quá trình tham gia và điều khiển hoạt động.
Đánh giá trong hoạt động cần nhấn mạnh kĩ năng, hành vi và thái độ, coi đó
là những yêu cầu cơ bản cần đạt được sau hoạt động. Phải để HS tự đánh gi
á và
đánh giá, đó chính là phương pháp đã được đổi mới.
1.4.5. Một số phương pháp tổ chức HĐGD NGLL
1. Phương pháp thảo luận
Là một dạng tương tác nhóm đặc biệt mà trong đó các thành viên đều giải
quyết một vấn đề cùng quan tâm nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung.
HS được đặt m
ình trong các tình huống có vấn đề gắn với thực tiễn, đòi hỏi
phải có những hành động cụ thể đưa ra phương án giải quyết. Do vậy, trong các
HĐGD NGLL, có thể có các tình huống thực tế nảy sinh cần được xử lí kịp thời
(như: HS thảo luận lạc đề, bí không trả lời được vấn đề đặt ra, vấn đề đặt ra không
phù hợp với thực tiễn…) hoặc có những có vấn đề được tạo ra (như tình huống tiểu
phẩm để sắm vai, các trò chơi…) nhằm
giúp HS có cơ hội rèn luyện các kĩ năng tìm
phương án giải quyết các tình huống.
Làm phong phú thêm tính hấp dẫn của các hoạt động và mang lại hiệu quả
cao cho các hoạt động.
Tuy nhiên, GV cũng cần lưu ý rằng: trong việc giải quyết các tình huống thực
tiễn, không phải bao giờ cũng có giải phá
p duy nhất đúng. Cần phải khuyến khích
sự sáng tạo của HS trong những trường hợp này.
5. Phương pháp giao nhiệm vụ
Được dùng trong nhóm các phương pháp giáo dục.
Giao nhiệm vụ là đặt HS vào vị trí nhất định buộc các em phải thực hiện
trách nhiệm cá nhân. Giao nhiệm vụ cũng là tạo cơ hội để HS thể hiện khả năng của
mình, là dịp để các em được rèn luyện kĩ năng nhằm tích lũy thêm kinh nghiệm ch
o
bản thân.
Trong việc tổ chức HĐGD NGLL, giao nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ lớp sẽ
tạo nên thế chủ động cho các em khi điều hành hoạt động. Điều đó sẽ giúp phát
triển tính chủ động, sáng tạo, khả năng ứng đáp trong mọi tình huống của HS. Cán
bộ lớp sẽ chủ động hơn trong việc phâ
n công nhiệm vụ cho từng tổ, nhóm, cá nhân
với phương châm “lôi cuốn tất cả mọi thành viên trong lớp” vào việc tổ chức thực
hiện hoạt động.
Vì thế, muốn giao nhiệm vụ có kết quả, GV cần cố gắng đảm bảo nhiệm vụ
a) Về nhận thức: HĐGD NGLL nhằm cung cấp cho HS những hiểu biết,
những thông tin gì?
b) Về kĩ năng: qua HĐGD NGLL thực tế, cần bồi dưỡng hình thành cho HS
những kĩ năng gì?
c) Về thái độ: qua đó giáo dục cho HS về mặt tình cảm, thái độ gì?
Bước 3: Xây dựng kế hoạch hoạt động
GV phải vạch ra được tất cả các yếu tố, điều kiện cần chuẩn bị trước khi hoạt
động, những công việc và phương t
hức thực hiện công việc, và ai là người đảm
nhận công việc đó. Cụ thể là :
a) Xác định rõ và liệt kê những nội dung công việc dự định sẽ thực hiện theo
một trình tự nhất định.
b) Dự kiến một hệ thống các biện pháp để tiến hành HĐGD NGLL. Các biện
pháp này không bất biến mà có thể thay đổi trong quá trình thực hiện, vì vậy
cần có một số biện phá
p dự trữ.
c) Người thực hiện : dự kiến và phân công nhiệm vụ cho từng người.
− GV: giữ vai trò chủ đạo, quan tâm, đôn đốc, động viên, hỗ trợ HS và
liên kết các lực lượng giáo dục khác.
− HS: chủ động, tích cực tham gia chuẩn bị.
– Các lực lượng giáo dục khác: quan tâm hỗ trợ và tạo điều kiện.
Bước 4: Xác định nội dung và hình thức của h
oạt động
Các căn cứ để xác định nội dung và hình thức của hoạt động: chủ đề của hoạt
động, mục tiêu của hoạt động, điều kiện của hoạt động (về CSVC của trường, lớp,
năng lực HS, các lực lượng hỗ trợ…), thời điểm diễn ra hoạt động.
Bước 5: Chuẩn bị hoạt động
Giáo viê
n: giữ vai trò cố vấn nên khi dự kiến kế hoạch tổ chức hoạt động cần chủ
động, cụ thể và sáng tạo.