đề án chuyên ngành: công cụ lãi suất của chính sách tiền tệ vn potx - Pdf 14

LỜI MỞ ĐẦU
  
Ngày nay, vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu trong tiến
trình toàn cầu hóa nền kinh tế. Có thể thấy việc gia nhập tổ chức thương mại
thế giới (WTO) chính là cơ hội để Việt Nam tiến sâu vào hội nhập và phát
triển bình đẳng với các quốc gia trên thế giới. Song nhìn về đặc điểm, trình
độ, các mối quan hệ kinh tế hiện hữu và năng lực điều hành kinh tế vi mô, vĩ
mô, thì chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức không phải là nhỏ.
Gắn với công cụộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải giải
quyết cùng một lúc: vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở
rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài… Vì vậy cần
phải có những bước đi thận trọng với những chính sách linh hoạt để tránh
những “cơn sốc” hay “khủng hoảng” đối với kinh tế Việt Nam trên con đường
hội nhập.
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực
kỳ quan trọng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng
lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm
phát… Để đạt được các mục tiêu của CSTT thì việc sử dụng các công cụ của
nó có vai trò cơ bản, quyết định. Từ khi đổi mới đến nay, các công cụ của
CSTT dang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với
nền kinh tế. Việc lựa chọn các công cụ sao cho phù hợp và việc sử dụng
chúng sao cho hiệu quả nhất trong từng giai đoạn kinh tế luôn là một vấn đề
mà Nhà nước quan tâm theo dõi và đưa ra các quyết định cụ thể. Đặc biệt
trong bối cảnh hiện nay, thì việc nghiên cứu các công cụ của CSTT là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao. Trong các công cụ của chính sách tiền tệ
thì công cụ lãi suất là một công cụ quan trọng. Chính vì vậy, em đã chọn đề
tài: “Công cụ lãi suất của CSTT ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện” để tìm hiểu và nghiên cứu.
Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài gồm 03 chương với bố cục như sau:
Chương 1: Tổng quan về CSTT trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng công cụ lãi suất của CSTT ở Việt Nam

hoặc CSTT thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản
xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng – CSTT ổn
định giá trị đồng tiền).
1.1.2 Vị trí
Vị trí CSTT: Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
thì CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực
tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các
chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khóa, chính sách thu nhập,
chính sách kinh tế đối ngoại.
Đối với NHNN việc hoạch định và thực thi CSTT là hoạt động cơ bản
nhất, mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho CSTT quốc gia được thực hiện
có hiệu quả hơn.
1.1.3 Đặc trưng của CSTT
CSTT là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài chính quốc
gia.
Mức độ tiền tệ hóa cao hay thấp còn thể hiện trình độ phát triển kinh tế
một nước. Vì vậy, tiền tệ đã trở thành một yếu tố rất quan trọng trong một nền
3
kinh tế. CSTT là một bộ phận trung tâm của các chính sách kinh tế - tài chính
quốc gia.
CSTT là công cụ thuộc tầm vĩ mô.
Khối lượng tiền tệ là đối tượng mà một số NHNN xem là yếu tố cần tác
động chính, từ đó tác động đến lãi suất, đầu tư, ảnh hưởng đến sản xuất và lưu
thông hàng hóa. Vì vậy, CSTT là một chính sách thuộc tầm vĩ mô.
NHNN là người đề ra và vận hành CSTT.
CSTT hướng đến việc thay đổi lượng tiền cung ứng và lưu thông sao
phù hợp với mục tiêu, vì vậy chủ thể nào cung ứng tiền thì chủ thể đó phải
trực tiếp vạch ra CSTT.
1.2 Mục tiêu của CSTT
1.2.1 Ổn định giá cả

Sự phối hợp ba mục tiêu: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công
ăn việc làm là rất quan trọng. Vì giữ các mục tiêu có sự mâu thuẫn với nhau,
nên NHNN không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng
thời gian nhất định. Do vậy, khi đặt ra các mục tiêu cho CSTT, cần phải có sự
dung hòa. Cụ thể là phải tùy lúc, tùy thời, tùy điều kiện cụ thể mà sắp xếp thứ
tự ưu tiên. Muốn vậy NHNN phải luôn nắm bắt được thực tế diễn biến của
quá trình thực hiện các mục tiêu, nhằm điều chỉnh chúng khi có sự thay đổi
bằng những giải pháp thích hợp.
1.3 Các công cụ của CSTT
Để thực thi CSTT, thực hiện chức năng và vai trò của mình, NHNN đã
sử dụng hàng loạt các công cụ như: lãi suất, dự trữ bắt buộc, hạn mức tín
dụng, cho vay tái chiết khấu… Mỗi loại công cụ có cơ chế vận hành riêng và
có ưu nhược điểm khác nhau. Do đó, tùy thuộc vào điều kiện thực tế của nền
kinh tế để sử dụng nó một cách phù hợp, hiệu quả. Nhìn chung, các công cụ
này tác động đến hai đầu mối chủ yếu là ngân hàng trung gian và thị trường
mở.
1.3.1 Lãi suất
Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi của lãi suất sẽ
kéo theo sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay
mở rộng khối lượng tín dụng trong nền kinh tế. Do đó, lãi suất là một trong
những công cụ chủ yếu của CSTT. Thực tế cho thấy, tùy theo điều kiện thực
tế và trình độ phát triển của thị trường tài chính, NHNN có thể sử dụng công
cụ lãi suất để điều hành CSTT theo các chính sách:
1.3.1.1 Lãi suất cơ bản
5
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất
khác hình thành trong nền kinh tế thị trường. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí
quan trọng trong cơ chế thị trường.
Lãi suất cơ bản do NHTW xác định và công bố trên cơ sở tình hình
thực tế của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.

đa, lãi suất cho vay tối đa, lãi suất tái chiết khấu của NHTW đối với các tổ
chức tín dụng hoặc lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.
Lãi suất cơ bản là lãi suất tái chiết khấu: đây là phương pháp phổ biến
được NHTW các nước áp dụng. Do lãi suất này được chủ động công bố và
được xem xét, tính toán tương đối thường xuyên nên thực sự đóng vai trò
quyết định đối với các mức lãi suất kinh doanh cũng như cung cầu vốn của
các TCTD. Nhưng lại mang nặng tính chất điều hành chính sách tiền tệ.
Lãi suất cơ bản là lãi suất tiền gửi tối đa: Thực chất của lãi suất cơ bản
loại này là NHTW công bố và kiểm soát lãi suất tiền gửi tối đa và tự do hóa
lãi suất cho vay. Các tổ chức tín dụng sẽ ấn định các mức lãi suất tiền gửi
trong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các mức lãi suất
cho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn.
Lãi suất cơ bản là lãi suất cho vay tối đa: NHTW công bố một mức lãi
suất trần nhưng có thể quy định biên độ phù hợp vời từng loại hình TCTD,
thời hạn khác nhau.
Lãi suất cơ bản là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng: Lãi suất liên
ngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM. Lãi suất liên ngân hàng được
hình thành trên cở sở thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia và quan hệ cung
cầu vốn trong nền kinh tế. Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn liền với thị
trường nhiều hơn và dễ biến động hơn. Thông thường, lãi suất cơ bản bằng lãi
suất liên ngân hàng cộng với một biên độ gồm chi phí quản lý món vay, chi
phí rủi ro…
Sử dụng lãi suất cơ bản phải linh hoạt tùy vào từng thời điểm như: hạn
chế tăng trưởng tín dụng bằng cách tăng lãi suất tiền vay và tăng lãi suất tiền
gửi. Biện pháp tăng lãi suất tiền vay nhằm khống chế tình trạng đồng vốn vay
được sử dụng tự do trên thị trường. Tăng lãi suất tiền gửi để thu hút một
lượng tiền nhàn rỗi trong lưu thông. Hai biện pháp này sẽ hỗ trợ cho nhau
giúp NHNN chủ động “cầm nắm” được thị trường tiền tệ. Nhờ vậy mà góp
phần kiềm chế được tình trạng lạm phát, kinh tế vĩ mô được điều tiết hợp lý,
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong đó các ngân hàng thương mại

theo luật định. Mức DTBB cao hay thấp tùy thuộc vào tỷ lệ DTBB – do
NHNN quy định – cao hay thấp. Tỷ lệ DTBB là tỷ lệ phần trăm trên lượng
tiền gửi mà NHTM huy động được, phải để dưới dạng dự trữ. Như vậy, mỗi
ngân hàng chỉ được cho vay số tiền còn lại sau khi đã trừ phần dự trữ bắt
buộc. Qua đó, việc tăng hay giảm tỷ lệ DTBB, NHNN có thể hạn chế hoặc
8
bành trướng khối lượng tiền tệ mà hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứng
cho nền kinh tế.
Khi tỷ lệ DTBB tăng hoặc giảm thì hệ số tạo tiền của hệ thống NHTM
giảm hoặc tăng dẫn đến khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế giảm hoặc
tăng. Đây là công cụ mang tính hành chính của NHNN. Ưu điểm của nó là có
thể tác động đến tất cả các NHTM như nhau và tác động một cách đầy quyền
lực. Bên cạnh đó việc thay đổi tỷ lệ DTBB sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu
doanh lợi của các NHTM.
1.3.3 Hạn mức tín dụng
Công cụ hạn mức tín dụng là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính
hành chính của NHNN. Bằng công cụ hạn mức tín dụng, NHNN quy định cho
các NHTM một hạn mức tăng tín dụng tối đa. Như vậy, biện pháp này cho
phép NHNN ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế
trong một thời gian nhất định. Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng
kể. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế nhất định như:
- Có thể làm tăng lãi suất, bởi vì cung hạn chế.
- Làm giảm cạnh tranh giữa các ngân hàng.
- Gây ra tiêu cực trên thị trường vốn.
- Hạn mức tín dụng cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ vì các
ngân hàng thường chọn doanh nghiệp lớn dể cho vay nhằm giảm chi phí và
bảo đảm an toàn trong giới hạn tín dụng được phép.
1.3.4 Tái cấp vốn
Tái cấp vốn là một phương pháp mà qua đó NHNN sẽ cung ứng tiền
cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các NHTM trên cơ sở nhận

trường mở, thì lượng tiền mặt trong lưu thông tăng lên, đự trữ của các NHTM
tăng lên. Mặt khác, việc NHNN mua chứng khoán sẽ làm tăng cầu về chứng
khoán, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá chứng khoán sẽ tăng,
dẫn đến lãi suất chứng khoán giảm, và đến lượt lãi suất ngân hàng giảm, kích
thích doanh nghiệp đi vay, khối tiền tệ tăng lên.
1.3.6 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa
hai đồng tiền. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ
nước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.
Sự biến động của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt
động kinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu
dùng trong nước qua biến đổi của giá cả hàng hóa. Do vậy, tỷ giá hối đoái là
một công cụ để NHNN thực thi CSTT của mình. Tuy nhiên, khi vận dụng
10
công cụ này, NHNN không đẩy tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp mà là
ổn định tỷ giá ở mức phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của quốc gia
trong từng giai đoạn.
Khi vận hành tỷ giá hối đoái, NHNN có thể ấn định tỷ giá cố định, hoặc
thả nổi tỷ giá theo quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Các
loại tỷ giá như: tỷ giá cố định, tỷ giá thả nổi hoàn toàn, tỷ giá thả nổi có sự
quản lý của Nhà nước.
Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơ
bản. Cụ thể, cung – cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, do vậy, nếu NHNN
ấn định một mức tỷ giá cố định thì tác động đến quy luật cung – cầu trên thị
trường. Còn nếu thả nổi tỷ giá thì sự biến động của tỷ giá có ảnh hưởng lớn
đến nền kinh tế, có thể làm cho nền kinh tế phát triển nhưng cũng có thể đưa
nền kinh tế lâm vào trình trạng khoảng hoảng trầm trọng.
Tỷ giá thả nổi có quản lý là tỷ giá được hình thành trên cơ sở quan hệ
cung – cầu ngoại hối, nhưng khi cần thiết NHNN có thể can thiệp bằng những
biện pháp thích hợp, tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quan hệ

để đối phó với lạm phát, FED đã liên tiếp tăng lãi suất từ 1% vào giữa năm
2004 lên 5,25% vào giữa năm 2006 khiến lãi vay phải trả trở thành áp lực quá
lớn với người mua nhà. Thị trường bất động sản thời điểm này bắt đầu có dấu
hiệu đóng băng và sụt giảm.
Trước tình hình trên, các ngân hàng, công ty bảo hiểm, tổ chức tài
chính đã mua lại các hợp đồng thế chấp và biến chúng thành tài sản đảm
bảo để phát hành trái phiếu ra thị trường. Loại sản phẩm phái sinh này được
đánh giá cao bởi các tổ chức định giá tín dụng, nên thanh khoản tốt. Không
chỉ dừng lại ở đó, nhiều công ty bảo hiểm, trong đó có AIG, còn sẵn sàng bảo
lãnh cho những hợp đồng hoán đổi này. Chiến lược trên được đưa ra với mục
đích giảm rủi ro cho những khoản vay bất động sản. Tuy nhiên, trái lại nó tạo
ra hiệu ứng sụp đổ dây chuyền và khiến rủi ro bị đẩy lên cao hơn. Những bất
ổn từ hoạt động cho vay dưới chuẩn khiến giá nhà sụt giảm mạnh, thị trường
nhà đất đóng băng. Cuộc khủng hoảng từ đó lan từ thị trường bất động sản
12
sang thị trường tín dụng và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính tại Mỹ
và tràn sang nhiều nước châu Âu, khiến nhiều công ty lớn phá sản.
Trong năm 2008, NHNN đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản.
Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tương
ứng. Cơ chế điều hành tỷ giá ghi nhận những điều chỉnh chưa từng có trong
lịch sử. Biên độ có 3 lần nới rộng, từ +/- 0,75% lên +/- 3%; tỷ giá bình quân
liên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh vào tháng 6 và cuối tháng 12. Bên
cạnh đó, đã thực hiện tốt 8 nhóm giải pháp của Chính phủ về ưu tiên kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã
hội.
Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ (CSTT) đã phải đối mặt với
nhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác
động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế.
Trước những tác động bất lợi như vậy, NHNN đã thực thi CSTT một
cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị

(lãi suất huy động và lãi suất cho vay) bằng đồng Việt Nam không vượt quá
150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố áp dụng trong từng
thời kỳ; quyết định số 546/2002/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 5 năm 2002 về
việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại
bằng VNĐ của tổ chức tín dụng đối với khách hàng hết hiệu lực thi hành.
Việc huy động vốn bằng VNĐ của các tổ chức tín dụng phù hợp với quy định
về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mức trần lãi suất huy động 12%/năm theo
công điện số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 cũng không còn hiệu lực. Qua
đó, đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất khả năng
thanh toán của các Ngân hàng thương mại trong những tháng cuối năm 2008;
an toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo, củng cố lòng tin của các nhà đầu
tư, doanh nghiệp và người dân đối với hệ thống ngân hàng. Khắc phục được
tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong huy động vốn giữa các Ngân
hàng thương mại. Cùng với diễn biến lạm phát có xu hướng giảm, kinh tế vĩ
mô ổn định và hoạt động của các Ngân hàng thương mại đảm bảo khả năng
thanh toán, làm cho thị trường tiền tệ và lãi suất trong năm 2009 tương đối ổn
định.
Năm 2008, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Cụ thể:
- Trong 6 tháng đầu năm, áp lực lạm phát gia tăng mang tính toàn cầu,
trước tình hình đó, NHNN đã tăng tỷ lệ DTBB và mở rộng diện tiền gửi phải
DTBB ở tất cả các kỳ hạn; phát hành tín phiếu bắt buộc 20.300 tỷ đồng cho
các NHTM
14
- NHNN đã tăng tính thanh khoản cho thị trường bằng cách bơm mạnh
tiền qua nghiệp vụ thị trường mở, chuyển từ đấu thầu lãi suất sang đấu thầu
khối lượng, tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động tín dụng của các
NHTM.
- Tuy nhiên, các biện pháp chính sách trên chưa ngăn chặn được đà tăng
lãi suất huy động và mở rộng tín dụng của các NHTM, do vậy buộc NHNN
phải quy định trần lãi suất huy động tiền gửi của các NHTM không được quá

thống ngân hàng Việt Nam đứng trước một năm đầy khó khăn và thách thức.
Trên cơ sở bám sát chỉ đạo, điều hành của Chính phủ cùng với sự nỗ lực của
toàn ngành, hoạt động ngân hàng năm 2009 đã đạt được nhiều kết quả tích
cực. Trong đó, nổi bật là việc triển khai kịp thời cơ chế hỗ trợ lãi suất, điều
hành chính sách tiền tệ và hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM)
trong năm 2009 đã có sự ổn định tương đối so với năm 2008. Tuy nhiên, trên
thực tế, những biến động và căng thẳng trên thị trường tiền tệ vẫn còn tồn tại,
ở một số thời điểm, đã có những ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh
nghiệp và tâm lý của người dân trong nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra
những thách thức đối với hoạt động của ngành Ngân hàng trong năm 2010.
Một trong những vấn đề của năm 2009, mặc dù đã có những giải đáp cụ thể
về chính sách điều hành, song, trong những tháng đầu năm 2010, vẫn nổi lên
những vấn đề tranh luận xoay quanh việc điều hành chính sách lãi suất của
NHNN, đặc biệt là việc dỡ bỏ trần lãi suất huy động có được thực hiện hay
không đã gây ảnh hưởng không tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân
hàng.
Ta biết rằng mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn Ngân
hàng Trung ương của các nước trên thế giới cũng như NHNN Việt Nam là ổn
định giá trị đồng tiền của quốc gia - thông qua việc kiểm soát lạm phát. Trong
đó, lãi suất là một trong những công cụ điều hành chính sách tiền tệ (CSTT)
của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó.
Về lý thuyết lãi suất danh nghĩa và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều.
Khi lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa tăng để đảm bảo mức lãi suất thực
được chấp nhận bởi các chủ thể trong nền kinh tế. Triển vọng của lãi suất
thực có ảnh hưởng đến các kỳ vọng và hoạt động chi tiêu và đầu tư. Sau khi
xác định được các kỳ vọng lạm phát, nếu người tiêu dùng tin rằng lãi suất tiết
kiệm sẽ không thay đổi hoặc tăng rất thấp, nghĩa là lãi suất thực sẽ âm thì họ
sẽ có khuynh hướng rút tiền gửi tiết kiệm và đầu tư vào bất động sản hoặc
chứng khoán để bảo vệ sức mua. Điều này sẽ tạo nên bong bóng trên thị
trường bất động sản và ngay lập tức sẽ làm cho CPI có xu hướng gia tăng, vì

Lãi suất
chính thức
(*)
Lãi suất
thị trường
Giá bất
động sản
Kỳ vọng
thị trường
Tỷ giá
Tổng
cầu
Lạm phát
Áp lực
lạm phát
nội địa
Giá nhập
khẩu
Sản
lượng
(*)Trong đó, lãi suất chính thức là lãi suất chỉ đạo của NHTW công bố
làm cơ sở tham khảo một cách chuẩn mực (Ví dụ như Federal Fund rate của
Mỹ, Overnight rate của Anh) để các NHTM hình thành nên các mức lãi suất
huy động và cho vay đối với nền kinh tế, đồng thời các mức lãi suất này cũng
là một chỉ báo về động thái điều hành CSTT của NHTW. Tại phần lớn các
nước, tỷ lệ lãi suất chính thức – thường được gọi là lãi suất cơ bản, lãi suất
chuẩn, sẽ phát huy vai trò truyền dẫn tác động của CSTT đến việc thực hiện
các mục tiêu kinh tế vĩ mô (tăng trưởng, lạm phát,việc làm,….)
Việc điều hành linh hoạt lãi suất, vừa là công cụ điều tiết thị trường,
vừa là động thái phát tín hiệu về chủ trương của Chính phủ và giải pháp điều

Cán cân thương mại hàng hóa 11/09 tháng thâm hụt 10,95 tỷ USD bằng
21,3% xuất khẩu), nguồn bù đắp cho thâm hụt này suy giảm như nguồn đầu
tư trực tiếp nước ngoài giảm sút mạnh so với năm 2008, đầu tư gián tiếp nước
ngoài không tăng mà còn giảm; nguồn kiều hối cũng giảm do khủng hoảng
kinh tế toàn cầu do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tình hình này
tiếp tục gây bất lợi cho việc ổn định tỷ giá.
Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt
ngân sách ở mức 6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà
gây áp lực giảm giá VND.
Trên thị trường tiền tệ xuất hiện những hiện tượng bất cập, mâu thuẫn
nhau: Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay
vốn của doanh nghiệp, VND vẫn khan hiếm, biểu hiện ở áp lực tăng lãi suất,
thanh khoản VND mỏng manh.
Sự khan hiếm tiền đồng về mặt lý thuyết là làm cho VND lên giá.
Nhưng chính sách điều tiết vĩ mô thì lãi suất lại thấp (lãi suất cho vay hỗ trợ,
trần lãi suất cho vay ) gây áp lực giảm giá VND, đồng thời kích thích nhu cầu
sử dụng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng, gây ra vòng xoáy khan hiếm tiền
đồng, gây áp lực cho NHNN phải cung ứng thêm tiền đồng. Điều này tiếp tục
gây áp lực giảm giá VND. Đồng thời, sự biến động mạnh của giá vàng cũng
có những tác động bất lợi đến tỷ giá.
Đồng thời với điều chỉnh tỷ giá, NHNN đã thực hiện nâng các mức lãi
suất chỉ đạo lên thêm 1%. Đây là giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với tình
hình thực tế, vừa có tác dụng tiếp tục duy trì tăng trưởng của nền kinh tế đồng
thời chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và trước mắt ổn định thị trường
ngoại hối.
19
Biểu đồ 2.2 :
Lãi suất chủ đạo của NHNN Việt Nam năm 2008 và 2009
(Nguồn: Số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Việc điều hành linh hoạt lãi suất, vừa là công cụ điều tiết thị trường,

hiện kết hợp giữa điều tiết khối lượng tiền thông qua các công cụ gián tiếp,
điều hành linh hoạt các mức lãi suất chủ đạo và làm tốt công tác truyền thông.
Sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất theo hướng tự do hoá phải trên cơ
sở đánh giá một cách khoa học và thực tiễn các điều kiện kinh tế, thị trường
tài chính - tiền tệ ở trong và ngoài nước, cũng như các rủi ro có thể xảy ra và
các biện pháp xử lý để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, sự an toàn và phát triển
của hệ thống tài chính.
Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
2010 đã xác định mục tiêu tổng quát của năm 2010 là “nỗ lực phấn đấu phục
hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định
kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở
lại; tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội; chủ động hội nhập và nâng cao
hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn
xã hội; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; phấn đấu đạt mức cao nhất
các chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010”.
Trong đó, vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) góp phần thực
21
hiện thành công các mục tiêu trên là không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh sức
ép gia tăng lạm phát như hiện nay
2.3 Đánh giá quá trình thực hiện các công cụ của CSTT trong những
năm qua
2.3.1 Những thành tựu đạt được
Mặc dù trong giai đoạn vừa qua (2008 – 2010) nền kinh tế Việt Nam có
nhiều biến động thăng trầm, phải đối phó với lạm phát ở mức cao, phải chống
chọi lại cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu (năm 2008), sang năm 2009 nền
kinh tế lại có dấu hiệu giảm phát tuy nhiên với việc thực thi CSTT linh hoạt,
hiệu quả của NHNN đã từng bước đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và
dần dần đang trên đà hồi phục. Cụ thể:
Năm 2008, với việc thực thi CSTT như trên về cơ bản đạt được mục
tiêu đề ra là ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ

đứng và đẩy lùi từ đỉnh điểm 3,91%/tháng (tương đương 25,2%/năm). Tỷ lệ
lạm phát cả năm 2008 chỉ còn là 19,89%.
Sau khi đã thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát, NHNN đã
từng bước nới lỏng chính sách tiền tệ và lãi suất vẫn là một công cụ hết sức
quan trọng. LSCB từ từ giảm xuống, cùng với LSCB, LSTCK, LSTCV cũng
được điều chỉnh giảm; các NHTM được bán tín phiếu bắt buộc trước hạn; Tỷ
lệ dự trữ bắt buộc được nới lỏng dần đi kèm với việc điều chỉnh lãi suất
DTBB. Các công cụ trên đã tác động mạnh tới thị trường, làm tăng dần mức
cung tiền cho nền kinh tế.
- Hỗ trợ lãi suất
Đầu năm 2009, Chính Phủ đã đưa ra gói kích cầu bao gồm các nhóm
giải pháp cơ bản:
- Với doanh nghiệp: giảm, giãn thuế TNDN, hỗ trợ lãi suất ở mức 4%.
- Với dân cư: trợ cấp người nghèo, giãn/miễn thuế TNCN, giảm VAT,
đào tạo lao động.
23
- Về phía Chính Phủ: tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng chi tiêu công, đẩy
mạnh xúc tiến thương mại để tăng xuất khẩu.
Nổi bật và có tác động rõ rệt nhất là chính sách hỗ trợ lãi suất mà ở đó
vai trò của hệ thống ngân hàng và các công cụ chính sách tiền tệ một lần nữa
lại được phát huy mạnh mẽ.
Để đối phó với suy thoái, Chính Phủ của hầu hết các nước đều đưa ra
các gói hỗ trợ lên tới hàng ngàn tỷ USD với cách thức chủ yếu là hỗ trợ trực
tiếp: mua tài sản xấu, sở hữu vốn của các tập đoàn tài chính và tập đoàn công
nghiệp lớn; chi tiền cho người nộp thuế, người tiêu dùng; thưởng tiền cho
người hủy xe cũ, mua xe mới, … Gói hỗ trợ của Chính Phủ Việt Nam được
định lượng là 1 tỷ USD với cách làm rất sáng tạo, rất linh hoạt. Phần lớn tiền
hỗ trợ không được chi trực tiếp mà được hỗ trợ gián tiếp thông qua hỗ trợ lãi
suất. Bằng cách này chúng ta đã kích thích tăng trưởng mạnh tín dụng, giúp
các doanh nghiệp có được nguồn vốn giá rẻ nên giảm được giá thành sản

vốn, nhưng lại rất khó khăn để kiểm soát khối lượng tiền trong nền kinh tế và
kiềm chế lạm phát.
Năm 2008 dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào ào ạt, việc hạn chế dòng
vốn này vào Việt Nam là vấn đề không đơn giản khi Việt Nam đã gia nhập
WTO, thị trường tài chính từng bước tự do hóa. Vì vậy, việc hạn chế sự gia
tăng nguồn vốn nước ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của NHNN, mà đòi hỏi
phải có chính sách vĩ mô đồng bộ để đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn nước
ngoài có hiệu quả, giám sát chặt chẽ luồng vốn đầu tư gián tiếp, hạn chế tình
trạng đầu cơ trên thị trường chứng khoán,… nhằm hạn chế những tác động
bất lợi của dòng vốn này.
Năm 2008, NHNN đã thực hiện một loạt các biện pháp mạnh nhằm trị
bằng được “cơn ho” lạm phát. Việc thắt chặt tiền tệ với các biện pháp như
tăng dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu… là phù
hợp với xu thế tự do hóa và thông lệ quốc tế, ở đó, NHNN cần thực thi chính
sách tiền tệ của mình thông qua các công cụ gián tiếp. Thế nhưng, các liệu
pháp trên vẫn chưa đủ liều và hình như chưa đủ răn đe.
Chính sách thắt chặt tiền tệ thông qua việc phát hành tín phiếu trên thị
trường mở thì không có gì lạ, song điều mà nhiều người dễ nhận thấy là tần
suất thực hiện các liệu pháp tiền tệ là quá dày và mang tính mệnh lệnh hành
chính không phù hợp với xu thế thị trường.
2.3.2.2 Nguyên nhân
Một là, NHNN quá bị động và đôi khi còn chủ quan trong việc thực thi
chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát. Sự bị động này một phần là do
25

Trích đoạn Nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status