LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển
mạnh, tốc độ phát triển nền kinh tế luôn duy trì ở mức cao hàng đầu tại khu
vực châu Á. Nền kinh tế đang có những bước chuyển dịch mạnh hướng tới
mục tiêu chiến lược đến năm 2010 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công
nghiệp phát triển.Ngành du lịch đang dần trở thành một ngành kinh tế mũi
nhọn và được những sự đầu tư lớn cả trong nước và nước ngoài.Là một nước
giàu tiểm năng du lịch với nhiều thắng cảnh,di tích lịch sử, di sản thế giới và
nền chính trị ổn định, Việt Nam đang là sự lựa chọn của nhiều khách du lịch
quốc tế song hành với sự gia tăng nhanh chóng của du khách trong nước do
đời sống ngày càng cao.Cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên của
WTO đã mở toang cánh cửa hội nhập và tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho
việc thu hút khách du lịch quốc tế.Với hơn 5 năm hoạt động trong lĩnh vực lữ
hành Công ty cổ phần du lịch và thương mại Bắc Thăng Long đã tạo được
thương hiệu và đạt đươc những thành công nhất định. Tuy nhiên để đứng
vững được trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp lữ hành
trong nước và những đối thủ cạnh tranh tiềm năng từ nước ngoài công ty cần
có những chính sách và phương hướng phát triển phù hợp.Một trong những
vấn đề trọng tâm đó chính là nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh lữ
hành nhằm tăng cường khả năng thu hút khách, tăng lợi nhuận cũng như tạo
điểu kiện cho sự phát triển của các hoạt động khác trong chuỗi dịch vụ khép
kín của công ty như nhà hàng, khách sạn…
Vì những lý do đó , em đã quyết định chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh lữ hành tại công ty cổ phần du lịch và thương mại Bắc
Thăng Long” làm chuyên đè thực tập tốt nghiệp nhắm áp dụng những kiến
thức đã được học vào thực tiễn , góp một số kiến nghị để doanh nghiệp tăng
sức cạnh tranh trên thị trường.
1
1
Để hoàn thành chuyên đề này, em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình
của Thạc sĩ Lê Trung Kiên cùng sự giúp đỡ nhiệt tình ban giám đốc và các
phần, trọn gói cho lữ hành nội địa.
Doanh nghiệp lữ hành nội địa: có trách nhiệm xây dựng, bán và tổ chức
thực hiện các chương trình Du lịch nội địa, nhận uỷ thác để thực hiện nhiệm
vụ chương trình Du lịch cho khách nước ngoài đã được các doanh nghiệp lữ
hành quốc té đưa vào Việt Nam.
1.1.1.2 - Vai trò của công ty lữ hành
Các Công ty lữ hành thực hiện các hoạt động sau đây:
- Tổ chức hoạt động trung gian bán và tiêu thụ sản phẩm của các nhà
cung cấp dịch vụ du lịch. Hệ thống các điểm bán, các đại lý du lịch tạo thành
mạng lưới phân phối sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch. Trên cơ sở đó,
rút ngắn hoặc xoá bỏ khoảng cách khách du lịch với các cơ sở kinh doanh du
lịch.
3
3
- Tổ chức các chương trình du lịch trọn gói. Các chương trình này nhằm
liên kết các sản phẩm du lịch như vận chuyển, lưu trú thăm quan, vui chơi giải
trí,… thành một sản phẩm thống nhất, hoàn hảo, đáp ứng được nhu cầu của
khách. Các chương trình du lịch trọn gói sẽ xoá bỏ tất cả những khó khăn lo
ngại của khách du lịch, tạo cho họ sự an tâm, tin tưởng vào thành công của
chuyến đi du lịch.
Các công ty lữ hành lớn với hệ thệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật phong
phú từ các công ty hàng không đến các chuỗi khách sạn, hệ thống ngân
hàng…đảm bảo phục vụ tất cả các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên
đến khâu cuối cùng. Những tập đoàn lữ hành, du lịch mang tính chất toàn cầu
sẽ quyết định tới xu hướng tiêu dùng trên thị trường hiện tại và trong tương
lai.
Sơ đồ : Vai trò của các công ty lữ hành du lịch trong mối quan hệ
cung- cầu du lịch
4
4
xuất riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với
một mức giá gộp. Có nhiều tiêu thức để phân loại các chương trình du lịch. Ví
dụ như các chương trình nội địa và quốc tế, các chương trình du lịch dài ngày
và ngắn ngày, các chương trình du lịch tham quan văn hoá và giải trí . Khi tổ
chức các chương trình du lịch trọn gói, các Công ty lữ hành có trách nhiệm
đối với khách du lịch cũng như các nhà sản xuất ở một mức độ cao hơn nhiều
so với hoạt động trung gian.
5
5
c) Các hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành tổng hợp.
Trong quá trình phát triển, các doanh nghiệp lữ hành có thể mở rộng
phạm vi hoạt động của mình, trở thành những người sản xuất trực tiếp ra các
sản phẩm du lịch. Vì lẽ đó các doanh nghiệp lữ hành lớn trên thế giới hoạt
động trong hầu hết các lĩnh vực có liên quan đến du lịch.
- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
- Kinh doanh các dịch vụ vui chơi, giải trí.
- Kinh doanh vận chuyển du lịch: hàng không, đường thuỷ,…
- Các dịch vụ ngân hàng phục khách du lịch ( điển hình là American
express).
Các dịch vụ này thường là kết quả của sự hợp tác, liên kết trong du lịch.
Trong tương lai, hoạt động lữ hành du lịch càng phát triển, hệ thống sản phẩm
của các doanh nghiệp lữ hành sẽ càng phong phú.
1.1.2 - Nội dung hoạt động kinh doanh lữ hành
1.1.2.1 - Định nghĩa chương trình du lịch
- Theo luật du lịch Việt Nam năm 2006:” Chương trình du lịch là lịch trình,
các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách
du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc.”
- Theo giáo trình “ Quản trị kinh doanh lữ hành” do TS Nguyễn Văn Mạnh và
TS. Phạm Hồng Chương đồng chủ biên:” Chương trình du lịch là sản phẩm
chủ yếu và đặc trưng của hoạt động kinh doanh lữ hành .Quy trình kinh doanh
chọn phương tiện vận chuyển thích hợp cho mỗi chặng. Người xây dựng
chương trình du lịch cần lưu ý đến khoảng cách giữa các điểm du lịch có
trong chương trình, xác định được nơi dừng chân ở đâu, trong thời gian bao
lâu… Ngoài ra, cần lưu ý đến tốc độ, sự an toàn, tiện lợi và mức giá của các
7
7
phương tiện vận chuyển lựa chọn. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, giới
hạn về quỹ thời gian là yếu tố quyết định phương án vận chuyển.
Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống:
Việc quyết định lựa chọn khách sạn và nhà hàng phải căn cứ vào các
yếu tố chủ yếu: vị trí và thứ hạng của cơ sở, mức giá, chất lượng phục vụ,
số lượng dich vụ và mối qua hệ của cơ sở lưu trú, ăn uống đó với chính bản
thân doanh nghiệp lữ hành.
Mặt khác, một yếu tố quan trọng nữa là sự thuận tiện: khách sạn, nhà
hàng phải ở gần điểm du lịch.
Sau khi hoàn tất việc lựa chọn các dịch vụ chủ yếu, phải bổ sung thêm
các hoạt động vui chơi giải trí, mua sắm và các dịch vụ khác nhằm tạo nên sự
phong phú hấp dẫn của chương trình, chi tiết hoá lịch trình theo từng buổi,
từng ngày.
Để một chương trình du lịch được thực hiện trong một chuyến nhất
định đạt chất lượng mong muốn cần chú ý những yêu cầu sau:
- Tốc độ thực hiện hợp lý, không quá dồn dập, gây căng thẳng về tâm
sinh lý cho khách, cần có thời gian nghỉ ngơi phù hợp.
Đa dạng hoá các loại hình hoạt động, tránh tạo cảm giác nhàm chán ch
du khách ( nhất là hoạt động về buổi tối)
Chú trọng tới hoạt động đón tiếp và tiễn khách ( thể hiện sự quan tâm
chăm sóc khách hàng. Điều này sẽ cho phép nâng cao mức độ thoả mãn của
khách du lịch)
- Phải có sự cân đối giữa thời gian – tài chính và các yêu cầu của khách
với nội dung, chất lượng của chuyến hành trình; đảm bảo chữ tín trong kinh
biến đổi
Chi phí
cố định
1 Khách sạn ( lưu trú)
∗
2 Ăn uống
∗
3 Bảo hiểm
∗
4 Vé tham quan
∗
5 Vi sa- hộ chiếu
∗
6 Vận chuuyển ( ôt tô, thuyền )
∗
7 Hướng dẫn viên
∗
8 Các chi phí thuê bao khác (Văn
nghệ ... )
∗
9 Tổng B A
Giá thành của một khách du lịch được tính theo công thức:
Z = b +A/N
Giá thành cho cả đoàn:
Z = b.B + A
Trong đó: N: Số thành viên trong đoàn
A: Tổng chi phí cố định tính cho cả đoàn khách
b: Tổng chi phí biến đổi tính cho một khách
Phương pháp tính giá trên có ưu điểm là dễ tính, dễ kiểm tra, linh hoạt,
khi có sự thay đổi một dịch vụ nào đó thì giá thành vẫn có thể xác định một
Các chi phí thuê bao
khác (Văn nghệ ... )
∗
Chi phí chung Visa
.....
∗
Tổng chi phí B A
Giá thành của một khách du lịch được tính theo công thức:
Z = b +A/N
Giá thành cho cả đoàn:
Z = b.B + A
11
11
Trong đó: N: Số thành viên trong đoàn
A: Tổng chi phí cố định tính cho cả đoàn khách
b: Tổng chi phí biến đổi tính cho một khách
Phương pháp này còn có ưu điểm là xác đinh được chi phí cần sử dụng
trong từng ngày tour.
Tuy nhiên với phương pháp kinh doanh sử dụng các hợp đồng du lịch
thì việc xác định này là không cần thiết. Phương pháp này vẫn tồn tại một
nhược điểm là cách tính quá dài và phần nào kém linh hoạt so với phương
pháp trước. Trên thực tế người ta vẫn áp dụng phương pháp 1 và thận trọng
trong việc tập hợp các khoản mục.
Xác định giá bán:
Giá bán của một chương trình du lịch phụ thuộc các yếu tố sau:
- Mức giá phổ biến trên thị trường.
- Vai trò, khả năng của công ty trên thị trường.
- Mục tiêu của công ty.
- Giá thành của công trình.
Căn cứ vào các yếu tố trên ta có thể xác định được các giá bán thông
.Z
)1(
∑
+=
aZG
Nếu như tất cả được tính theo giá bán thì ta có thể viết như sau:
G = Z + õ
b
G + õ
k
G + õ
p
G + õ
t
G
∑
−
=
β
1
Z
G
Nếu như trong chương trình có vé máy bay thì công thức trên được áp
cho giá mặt đất. Sau đó để có giá bán thì cộng thêm giá vé máy bay bán lẻ
thông thường.
G = G
MĐ
+ G
+ Hấu hết các sản phẩm bị cạnh tranh .
+ Hấu hết các sản phẩm đều bị thay thế .
• Thực hiện chương trình .
Công việc thực hiện chương trình vô cùng quan trọng. Một chương
trình du lịch trọn gói dù có tổ chức thiết kế hay nhưng khâu thực hiện kém sẽ
dẫn đến thất bại. Bởi lẽ khâu thực hiện liên quan đến vấn đề thực tế, phải giải
quyết nhiều vấn đề phát sinh trong chuyến du lịch .
Công việc thực hiện chương trình du lịch trọn gói bao gồm:
- Chuẩn bị chương trình du lịch.
- Tiến hành du lịch trọn gói .
- Báo cáo sau khi thực thiện chương trình .
- Giải quyết các phàn nàn của khách .
• Hoạch toán chuyến du lịch.
14
14
Sau khi thực hiện chương trình trên cơ sở các chứng từ thu được, phòng
tài chính kế toán sẽ hoạch toán chuyến du lịch.
Phòng tài chính kế toán sẽ theo dõi các chứng từ của khách hàng, theo
dõi lượg tiền mặt đã trả, phải trả và khoản phải thu. Doanh thu của chuyến đi
du lịch chủ yếu là thông qua số tiền mà khách phải trả .
Doanh thu = Giá chương trình * Số khách đoàn
Tập hợp các hoá đơn chi trong chương trình du lịch như hoá đơn về cơ
sở lưu trú, vận chuyển, vé thăm quan…chi cho hướng dẫn viên (tạm ứng)
hoặc tiền công của hướng dẫn viên (nếu thuê ngoài) .
ở đây cần chu ý về cách ghi hoá đơn giá trị gia tăng để thuận tiện cho
việc khấu trừ thuế và không để thiệt cho công ty .
Chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, chi phí khác được phân
bổ lần lượt trong kỳ. Lãi gộp của chuyến du lịch là khoản chênh lệch giữa
doanh thu và chi phí của chuyến du lịch đó. Cuối kỳ kế toán sẽ phân bổ các
hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền sản xuất xã hội. Hay nói một cách cụ
16
16
thể hơn thì hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa kết quả thu được và chi
phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.3. Hiệu quả xã hội.
Hiệu quả xã hội là chỉ tiêu phản ánh mức độ ảnh hưởng một cách kết
quả đạt được đến xã hội và môi trường. Là sự tác động tiêu cực hay tích cực
của các hoạt động của các con người,trong đó có hoạt động kinh tế đối với xã
hội và môi trường.
Giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có quan hệ thống nhất đối với
nhau, tức là mục đích về hiệu quả kinh tế bao giờ cũng gắn liên với mục đích
về hiệu qủa xã hội. Tuy nhiên trong thực tế khi thực hiện có thể nẩy sinh mâu
thuẫn.
Đối với mặt thống nhất thi hiệu quả kinh tế không đơn thuần là hiệu quả
kinh tế trong các chỉ tiêu về kết quả và chi phí thì luân có yếu tố nhằm mục
đích xã hội. Ví dụ việc xây dưng một công viên nước thì ngoài ra việc kinh
doanh còn tạo mục đích công ăn việclàm, mục đích xã hội là vui chơi, giải
trí…
Ngược lại hiệu quả xã hội cũng không đơn thuần chỉ là về mặt hiệu quả
xã hội. Vì trong các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội nó còn phụ thuộc vào chi phí
phát sinh trong hoạt động kinh doanh.
Sự thống nhất giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội đã tạo ra sự
tương tác thúc đẩy lẫn nhau. Việc thực hiện hiệu quả xã hội như việc cải tạo
điều kiện sống, cải tạo điều kiện làm việc sẽ tạo ra những năng suất lao động
cao và từ đó thúc đẩy hiệu quả kinh tế tăng lên.
Ngoài sự thông nhất với nhau, thì giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội có mặt mâu thuẫn với nhau. Đó là, trong quá trình thực hiên có hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội triệt tiêu lẫn nhau. Điều này xuất phát từ thực tế khi
thực hiện hoạt động kinh doanh thì lợi nhuận là trên hết dẫn đến bất chấp hậu
KDCTDL
: Tổng doanh thu từ kinh doanh chương trình
du lịch
* Doanh thu từ dịch vụ trung gian gồm :
+ Dịch vụ đặt chỗ và bán vé máy bay.
+ Dịch vụ đặt chỗ và bán vé trên các loại phương tiện khác: tàu thủy,
đường sắt, ô tô,….
+ Môi giới cho thuê xe ô tô.
+ Môi giới và bán bảo hiểm.
+ Dịch vụ đặt chỗ và bán các chương trình du lịch
+ Dịch vụ đặt chõ trong khách sạn
+ Các dich vụ môi giới trung gian khác.
* Doanh thu từ kinh doanh chương trình du lịch:
18
18
Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh kết quả kinh doanh chuyến du lịch của
công ty mà còn dùng để xem xét từng loại chương trình du lịch của doanh
nghiệp đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của sản phẩm. Mặt khác nó
cũng làm cơ sở để tính toán chỉ tiêu lợi nhuận thuần và chỉ tiêu tương đối để
đánh gía vị thế, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Công thức :
DT
KDCTDL
=
∑
=
n
i
ii
QP
lịch thứ i là tất cả các chi phí cần thiết để thực hiện chương trình du lịch
đó như chi phí lưu trú, chi phí vận chuyển, phí thăm quan…
+ Chi phí quản lý kinh doanh là có chi phí điện, nước, điện thoại, tiếp
khách…
• Lợi nhuận từ kinh doanh lữ hành.
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng của hiệu quả
kinh doanh trong kỳ phân tích. Nó còn để so sánh giữa các kỳ, các thị
trường…
Và được tính bằng công thức.
LN
KDLH= ΣDT
KDLH
- ΣTC
KDLH
(đồng)
Trong đó : LN
KDLH
: Lợi nhuận từ kinh doanh từ lữ hành
Σ DT
KDLH
: Tổng doanh thu từ kinh doanh lữ hành trong
kỳ.
ΣTC
KDLH
: Tổng chi phí từ kinh doanh lữ hành trong kỳ.
Lợi nhuận phụ thuộc vào doanh thu và chi phí. Muốn tăng lợi nhuận
thì phải tăng doanh thu hoặc giảm chi phí.
• Số khách trung bình trong một chương trình du lịch.
Chỉ tiêu này cho biết trong một chuyến du lịch thì trung bình có mấy
khách tham gia nó được tính bằng công thức :
SK
=
N
TSLK
(khách)
21
21
Trong đó :
SK
: Số hành khách trung bình một chuyến du lịch .
TSLK : Tổng số lượt khách .
N : Số chuyến du lịch thực tế trong kỳ.
Đây là chỉ tiêu có nghĩa quan trọng tới kết quả kinh doanh chuyến đi du
lịch, trước hết nó đánh giá tính hấp dẫn của chương trình du lịch, khả năng
thu khách của công ty. Nó liên quan đến điểm hoà vốn trong một chuyến du
lịch, chính sách giá của doanh nghiệp, số khách đông làm sử dụng hết công
suất của tài sản cố định tức là giảm chi phí của doanh doanh nghiệp.
Thường trong một kỳ phân tích người ta thường tính theo từng loại
chương trình, từng loại khách và từng thời gian khác nhau để đánh giá chính
xác.
• Năng suất lao động trung bình.
Đây là chỉ tiêu tổng quát nhất để so sánh hiệu quả sử dụng lao động
giữa các kỳ phân tích với nhau, giữa các ngành với nhau nó được tính như
sau.
NSLĐ =
TLD
* Tỷ suất lợi nhuận trên vốn.
TSLN
v
= * 100% (%)
Trong đó: TSLN : tỷ suất lợi nhuận/ vốn
LN: lợi nhuận sau thuế
TS: Tổng tài sản
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cho biết một đồng tài sản bỏ vào kinh
doanh thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một kỳ kinh doanh. Tỷ
lệ này càng lớn càng có hiệu quả. Nó còn cho biết doanh nghiệp sử dụng
vốn có hiệu quả hay không.
* Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
23
23
Công thức tính:
TSLN
r
= *100% (%)
Trong đó: TSLN
r
: tỷ suất lợi nhuận/doanh thu
LN : lợi nhuận sau thuế ΣD: Tổng doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng doanh thu và thì có bao nhiêu
đồng lợi nhuận và dùng đẻ so sánh giữa các kỳ phân tích, giữa các thi
trường mục tiêu.
* Số vòng quay của tài sản.
Công thức tính :
được một vòng, tức là tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Số vòng
quay càng lớn tức là sử dụng vốn lưu động càng có hiệu quả.
1.2.3 . Hệ thống chỉ tiêu đánh giá vị thể doanh nghiệp.
Vị thế của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trên thị
trường du lịch. Vị thế của doanh nghiệp được đánh giá thông qua chỉ tiêu
thị phần của doanh nghiệp và chỉ tiêu về tốc độ phát triển.
• Chỉ tiêu thị phần.
Thị phần của doanh nghiệp là phần thị trường mà doanh nghiệp
chiếm được so với thị trường của ngành trong không gian và thời gian
nhất định, đồng thời cũng thông qua thị phần của doanh nghiệp gíup cho
các nhà quản lý doanh nghiệp hoạch định chính sách kinh doanh một cách
thích hợp.
• Chỉ tiêu tốc độ phát triển liên hoàn.
Vị thế tương lai của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành được đánh giá
thông qua các chỉ tiêu về tốc độ phát triển khách hoặc doanh thu giữa hai
kỳ phân tích.
Đây là chỉ tiêu phản ánh sự biến đọng về khách hoặc doanh thu giữa
hai kỳ phân tích.
• Tốc độ phát triển bình quân.
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ phát triển trung bình về khách hoặc
doanh thu kinh doanh chuyến du lịch trong một thời kỳ nhất định.
1.3. ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh lữ hành du lịch
25
25