Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Kinh Doanh Xây Lắp Tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại-xây Dựng Vietracimex Hà Nội - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ
nghĩa từ 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng
khích lệ thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao. Đặc biệt là hiện
nay khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế
giới (WTO) thì cơ hội để phát triển của đất nước ngày càng rộng mở, tạo điều
kiện hội nhập vào sự phát triển chung của thế giới. Nhưng quá trình hội nhập
vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã và đang đặt ra cho các Công ty nước ta
nhiều cơ hội cũng như nhiều thách thức mới. Đó là cơ hội thu hút vốn đầu tư, kỹ
thuật, công nghệ tiên tiến, tiếp thu cách làm việc khoa học, năng động, có cơ hội
đưa sản phẩm của mình đến nhiều nước trên thế giới. Mặt khác, các Công ty
cũng phải đối mặt với không ít những khó khăn, phải chấp nhận sự cạnh tranh
gay gắt diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, phải khắc phục những hạn chế về
năng lực quản lý, về vốn kinh doanh… Đặc biệt hiện nay sự bảo hộ của nhà
nước gần như không còn, các Công ty phải tự điều hành quản lý các hoạt động
sản xuất kinh doanh, tự hạch toán, tổ chức thực hiện mọi việc một cách hiệu quả
để đứng vững trên thị trường. Các câu hỏi đạt ra cho các doanh nghiệp trong quá
trình hội nhập với nền kinh tế thế giới là:“ Hoạt động kinh doanh có hiệu quả
không? Doanh thu có trang trải được toàn bộ chi phí bỏ ra và có lợi nhuận hay
không? Làm thế nào để tối ưu hoá lợi nhuận? ...” Muốn vậy, các Công ty phải
tạo được doanh thu cao nhất và lợi nhuận hợp lý. Để có được doanh thu, lợi
nhuận cao thì điều đặc biệt quan trọng với các doanh nghiệp là giảm được chi
phí sản xuất kinh doanh. Bởi vì thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là tăng
đầu tư hay tăng sản lượng mà là nâng cao chất lượng hiệu quả kinh doanh. Như
vậy, thường xuyên quan tâm phân tích hiệu quả kinh doanh nói chung và phân
1
tích khả năng giảm chi phí sản xuất kinh doanh nói riêng đã trở thành một nhu
cầu thực tế cần thiết đối với bất kỳ Công ty nào.
Trong thời gian học tập ở trường Đại Học Kinh Doanh và Công nghệ Hà

Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp hệ thống hóa,
phân tích tổng hợp số liệu, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê kết
hợp với việc tìm hiểu thực tế củaCông ty.
4. Cấu trúc của luận văn gồm
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả kinh doanh xây lắp và nâng cao hiệu
quả kinh doanh xây lắp
Chương 2: Thực trạng về hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp tại công ty
cổ phần thương mại - xây dựng VIETRACIMEX HÀ NỘI
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp tại
công ty cổ phần thương mại - xây dựng VIETRACIMEX HÀ
NỘI
3
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH XÂY LẮP VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH DOANH XÂY LẮP
I. ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
XÂY LẮP
1. Đặc điểm và nội dung của ngành xây lắp
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận
với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp
không thể hiện rõ.
- Ngành xây lắp có tính lưu động cao, thiếu tính ổn định và thường xuyên
phải di chuyển từ vùng này sang vùng khác do sản phẩm xây lắp cố định tại
nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (máy móc, thiết bị thi công, người lao
động…) phải di chuyển đến địa điểm công trình xây lắp. Đặc điểm này làm
cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp do ảnh
hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mất mát, hư hỏng… Do đó,
nảy sinh nhiều chi phí cho việc di chuyển máy móc, thiết bị xây dựng tới nơi
thi công. Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải trang bị những máy

- Một đặc điểm nữa của ngành xây lắp là trong một công trình có nhiều
lực lượng lao động, nhiều công ty cùng tham gia, hợp tác và ảnh hưởng trực
tiếp tới thời gian và chất lượng sản phẩm xây lắp. Vì vậy, hoạt động quản lý
xây dựng hết sức khó khăn, đòi hỏi các bên phải luôn tôn trọng hợp đồng,
không được gây chậm trễ cản trở lẫn nhau.
5
2. Hiệu quả kinh doanh xây lắp và nâng cao hiệu quả kinh doanh xây lắp
Hiệu quả kinh doanh xây lắp là một phạm trù kinh tế, một chỉ tiêu chất
lượng tổng hợp, phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh
xây lắp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra xây lắp công trình
trong suốt quá trình kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp. Dưới góc độ này
chúng ta có thể xác định hiệu quả kinh doanh cụ thể bằng các phương pháp
định lượng thành các chỉ tiêu hiệu quả cụ thể và từ đó có thể so sánh tính toán
được, lúc này phạm trù hiệu quả kinh doanh là một phạm trù cụ thể nó đồng
nhất và là biểu hiện trực tiếp của lợi nhuận, doanh thu… Ngoài ra nó còn biểu
hiện mức độ phát triển doanh nghiệp theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai
thác các nguồn lực trong sản xuất nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh.
Lúc này, phạm trù hiệu quả kinh doanh lại là một phạm trù trừu tượng và nó
phải được định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh
vực sản xuất kinh doanh. Nói một cách khác, ta có thể hiểu hiệu quả kinh
doanh là chỉ tiêu phản ánh trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp.
Lúc này hiệu quả kinh doanh thống nhất với hiệu quả quản lý doanh nghiệp.
Dưới góc độ này thì hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ và khả năng kết
hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất.
Trong thực tế, hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được
trong các trường hợp sau:
• Kết quả tăng, chi phí giảm
• Kết quả tăng, chi phí tăng nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc
độ tăng của kết quả.
Nói tóm lại ở tầm vĩ mô, hiệu quả kinh doanh phản ánh đồng thời các

kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội. Đây
7
là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh. Chính
việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh
nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai
thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để đạt được mục tiêu kinh
doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các nguồn lực nội tại, phát huy
năng lực, hiệu lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí.
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt hiệu
quả tối đa với chi phí tối thiểu, hay là phải đạt kết quả tối đa với chi phí nhất
định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây
được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng
nguồn lực, đồng thời bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là chi phí của
sự lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua, hay là chi phí của sự hy sinh công việc kinh
doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được
vào chi phí kế toán và phải loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ được lợi
ích kinh tế thực. Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa
chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.
2.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường.
Trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp phải gắn mình với nền
kinh tế thị trường, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay đặt các doanh
nghiệp trong sự cạnh tranh gay gắt lẫn nhau. Do đó để tồn tại trong nền kinh
tế thị trường cạnh tranh hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động có
hiệu quả hơn.
Các nguồn lực sản xuất xã hội là một phạm trù khan hiếm: càng ngày
người ta càng sử dụng nhiều các nhu cầu khác nhau của con người. Trong khi
các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người ngày
càng đa dạng. Điều này phản ánh qui luật khan hiếm. Qui luật khan hiếm bắt
8

cùng quan trọng, nó được thể hiện thông qua:
Thứ nhất: nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của doanh nghệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác
định bằng sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh
doanh lại là yếu tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu của
doanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do đó việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh là một tất yếu khách quan đối với tất cả các
doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do yêu cầu của sự
tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh
nghiệp phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các
yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi
trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp
phải tăng hiệu quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết
sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự
tạo ra hàng hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ nhu cầu xã hội, đồng
thời tạo ra sự tích lũy cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi doanh
nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra và có
lãi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy mới đáp ứng được nhu
cầu tái sản xuất trong nền kinh tế. Và như vậy chúng ta buộc phải nâng cao
hiệu quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình hoạt động
kinh doanh như là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là yêu cầu
mang tính chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng của doanh nghiệp mới
là yêu cầu quan trọng. Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp luôn phải đi kèm
10
với sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích lũy đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển. Như vậy
để phát triển và mở rộng doanh nghiệp, mục tiêu lúc này không còn là đủ bù
đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm
bảo có tích lũy đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng, phù hợp với quy luật

2.3. Các nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các
doanh nghiệp
Nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là yêu cầu quan
trọng và là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp. Chính vì vậy nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc nâng cao
hiệu quả của tất cả các hoạt động trong quá trình kinh doanh. Hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều các nhân tố ảnh hưởng
khác nhau. Để đạt được hiệu quả nâng cao đòi hỏi phải có các quyết định
chiến lược và quyết sách đúng trong quá trình lựa chọn các cơ hội hấp dẫn
cũng như tổ chức, quản lý và điều khiển hoạt động kinh doanh cần phải
nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống các yếu tố đến việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh có thể chia thành hai
nhóm: nhóm các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp và nhóm các
nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp. Mục tiêu của quá trình nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh nhằm mục đích lựa chọn
các phương án kinh doanh phù hợp. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh cần được thực hiện liên tục trong suốt
quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường.
12
2.3.1. Nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
2.3.1.1. Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh
Nhân tố môi trường kinh doanh bao gồm nhiều nhân tố như là: đối thủ
cạnh tranh, thị trường, cơ cấu ngành, tập quán, mức thu nhập bình quân của
dân cư…
* Đối thủ cạnh tranh
Bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp (cùng tiêu thụ các sản phẩm
đồng nhất) và đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có
khả năng thay thế). Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ trở nhên khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vì

trong hoạt động kinh doanh. Nó tác động rất lớn đến sự thành bại của việc
nâng cao hiệu quả kinh doanh. Sự tác động này là sự tác động phi lượng hóa
vì chúng ta không thể tính toán, định lượng. Hình ảnh, uy tín tốt của doanh
nghiệp có liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, chất lượng sản phẩm… là cơ sở
tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp mặt khác
tạo cho doanh nghiệp có ưu thế lớn trong việc tạo nguồn vốn hay mối quan hệ
với bạn hàng… Với mối quan hệ rộng sẽ tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội,
nhiều đầu mối và từ đó doanh nghiệp lựa chọn những cơ hội, phương án kinh
doanh tốt nhất cho mình.
Ngoài ra, môi trường kinh doanh còn có các nhân tố khác như hàng hóa
thay thế, hàng hóa phụ thuộc doanh nghiệp, môi trường cạnh tranh… nó tác
động trưc tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cũng cần phải quan tâm đến nó để có những cách
cư xử với thị trường trong từng doanh nghiệp, từng thời điểm cụ thể.
14
2.3.1.2. Nhân tố môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố như thời tiết, khí hậu, mùa vụ,
tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý…
*Nhân tố thời tiết, khí hậu, mùa vụ
Các nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến quy trình công nghệ, tiến độ
thực hiện kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là các mặt hàng mang
tính chất mùa vụ như nông, lâm, thủy sản… Với những điều kiện thời tiết và
mùa vụ nhất định, doanh nghiệp phải có chính sách cụ thể phù hợp với điều
kiện đó. Như vậy khi các yếu tố này không ổn định sẽ làm cho chính sách
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không ổn định và là nhân tố đầu tiên
làm mất ổn định hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
*Nhân tố tài nguyên
Nhân tố này chủ yếu ảnh hưởng đến các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Một khu vực có nhiều tài nguyên

2.3.1.4. Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ
thống thông tin liên lạc, điện, nước,…đều là những nhân tố tác động mạnh mẽ
đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh ở khu
vực có hệ thống giao thông thuận lợi, điện, nước đầy đủ, dân cư đông đúc và
có trình độ dân trí cao … sẽ có nhiều điều kiện để thúc đẩy sản xuất, tăng tốc
độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí kinh doanh… và do đó
nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Ngược lại ở các vùng nông thôn,
miền núi, biên giới, hải đảo,…không thuận lợi cho hoạt động như vận chuyển,
lưu thông hàng hóa… các doanh nghiệp hoạt động với hiệu quả kinh doanh
16
không cao. Thậm chí có nhiều vùng sản phẩm làm ra rất có giá trị xong do
điều kiện giao thông không thuận lợi vẫn không thể tiêu thụ được dẫn đến
hiệu quả kinh doanh thấp.
Trình độ dân trí tác động rất lớn đến chất lượng của lực lượng lao động
xã hội nên tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp. Chất
lượng của đội ngũ lao động là nhân tố bên trong ảnh hưởng quyết định hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.2. Các nhân tố bên trong
Các nhân tố chủ quan trong doanh nghiệp thể hiện tiềm lực của mỗi doanh
nghiệp. Cơ hội, chiến lược kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp còn phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố phản ánh tiềm lực của một
doanh nghiệp cụ thể. Tiềm lực của một doanh nghiệp cụ thể không phải là bất
biến, mạnh lên hay yếu đi, có thể thay đổi toàn bộ hay một phần. Chính vì vậy
trong quá trình kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phải chú ý đến các yếu tố
này nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hơn nữa.
2.3.2.1. Nhân tố vốn
Đây là một nhân tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp
thông qua khối lượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh,
khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản lý có

động. Chất lượng của chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và quan trọng
nhất quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp. Các nhà
quản trị, đặc biệt là các nhà quản trị cao cấp lãnh đạo doanh nghiệp bằng
phẩm chất và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng có
tính chất quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Kết quả và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp đều phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn
18
của đội ngũ các nhà quản trị cũng như cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh
nghiệp, việc xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận và
thiết lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức đó.
2.3.2.5. Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Thông tin được coi là hàng hóa, là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế
thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hóa. Để đạt được thành
công khi kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt,
các doanh nghiệp cần nhiều thông tin chính xác về cung cầu thị trường hàng
hóa, về công nghệ kỹ thuật, về người mua, về đối thủ cạnh tranh… Ngoài ra,
doanh nghiệp còn cần rất nhiều thông tin về kinh nghiệm thành công hay thất
bại của các doanh nghiệp khác trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin
về các thay đổi trong chính sách kinh tế của Nhà nước cũng như các nước
khác có liên quan.
Trong kinh doanh, biết mình biết người và nhất là biết rõ các đối thủ
cạnh tranh thì mới có đối sách dành thắng lợi, có chính sách phát triển mối
quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau. Kinh nghiêm thành công của nhiều doanh
nghiệp nắm được các thông tin cần thiết và biết sử dụng các thông tin đó kịp
thời là một điều kiện quan trọng để ra các quyết định kinh doanh có hiệu quả
cao. Những thông tin chính xác được cung cấp kịp thời sẽ là cơ sở vững chắc
để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược
kinh doanh dài hạn.
2.4. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh
2.4.1. Các quan điểm cơ bản trong đánh giá hiệu quả kinh doanh

2.4.1.3. Về mặt định lượng
Hiệu quả kinh tế phải được thực hiện thông qua mối tương quan thu chi
theo hướng tăng thu giảm chi. Điều này có nghĩa là tiết kiệm đến mức tối đa
chi phí sản xuất kinh doanh để tạo ra một sản phẩm có ích.
2.4.1.4. Về mặt định tính
Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, hiệu quả kinh tế mà doanh
nghiệp đạt được phải gắn với hiệu quả của toàn xã hội. Giành được hiệu quả
kinh tế cao cho doanh nghiệp chưa phải là đủ mà đòi hỏi phải mang lại hiệu
quả cho toàn xã hội. Trong nhiều trường hợp, hiệu quả cho toàn xã hội lại là
mặt có tính chất quyết định khi lựa chọn một giải pháp kinh tế, dù xét về mặt
kinh tế nó chưa hoàn toàn được thỏa mãn.
Trong bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào khi đánh giá hiệu quả
của hoạt động ấy không chỉ đánh giá kết quả đạt được mà còn đánh giá chất
lượng của kết quả ấy. Có như vậy thì hiệu quả sản xuất kinh doanh mới được
đánh giá một cách toàn diện hơn.
Cụ thể khi đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh chúng ta cần quán
triệt một số quan điểm trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh:
Thứ nhất: đảm bảo hài hòa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể, lợi ích người
lao động, lơi ích trước mắt, lợi ích lâu dài… Quan điểm này đòi hỏi việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ việc thỏa mãn một cách thích đáng
nhu cầu của các chủ thể trong mối quan hệ mắt xích phụ thuộc lẫn nhau.
Trong đó quan trọng nhất là việc xác định hạt nhân của việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh đã từ đó thỏa mãn lợi ích của chủ thể này tạo động lực, thỏa
mãn lợi ích của chủ thể tiếp theo và cứ thế cho đến đối tượng và mục đích
cuối cùng. Nói tóm lại theo quan điểm này thì quy trình thỏa mãn lợi ích giữa
các chủ thể phải từ thấp đến cao. Từ đó mới có thể điều chỉnh kết hợp một
cách hài hòa giữa lợi ích của các chủ thể.
21
Thứ hai: đảm bảo tính toàn diện và hệ thống trong việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh. Theo quan điểm này thì sự nâng cao hiệu quả kinh doanh

biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sản phẩm, của kết quả và chi phí bỏ
ra. Như vậy, căn cứ vào kết quả cuối cùng cả về mặt hiện vật và giá trị là một
đòi hỏi tất yếu trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh doanh trong nền kinh tế
thị trường.
2.5. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá các hiệu quả kinh doanh trong các
doanh nghiệp
Khi xem xét hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cần phải dựa
vào một loạt các tiêu chuẩn. Các doanh nghiệp phải lấy các tiêu chuẩn đó làm
mục tiêu phấn đấu. Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác
định ranh giới có hay không có hiệu quả. Nếu theo phương pháp so sánh toàn
ngành có thể lấy giá trị bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu
quả. Nếu không có số liệu của toàn ngành thì có thể so sánh với chỉ tiêu năm
trước. Cũng có thể nói rằng, các doanh nghiệp có đạt được các chỉ tiêu này
mới có thể đạt được các chỉ tiêu về kinh tế. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
2.5.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp
- Chỉ tiêu năng suất lao động
Năng suất lao động =
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Tổng số lao động trong kỳ
- Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho một lao động:
Lợi nhuận bình quân
tính cho một lao động
=
Lợi nhuận trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ

23
Chỉ tiêu này cho thấy với mỗi lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu
lợi nhuận trong kỳ. Dựa vào chỉ tiêu này để đánh giá mức tăng hiệu quả của

vốn lưu động thường xuyên vận động không ngừng, nó tồn tại ở các dạng
S c s n xu t c a v n l u ng      
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
24
khác nhau. Có khi là tiền, có khi là hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm… đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục. Do đó việc đẩy nhanh tốc độ
chu chuyển vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết ách tắc, đình trệ của vốn,
giải quyết nhanh nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn trong doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn bộ
doanh nghiệp. Thông thường người ta sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá tốc
độ luân chuyển vốn trong doanh nghiệp:
+ Số vòng quay của vốn lưu động
S vòng quay c a v n l u ng    
=
Doanh thu trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết số vòng quay của vốn lưu động bình quân trong
kỳ. Chỉ số này càng lớn càng tốt, chứng tỏ vòng quay của vốn tăng nhanh,
điều này thể hiện việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả và ngược lại.
+ Số ngày luân chuyển bình quân 1 vòng quay
Số ngày luân chuyển bình
quân một vòng quay
=
365 ngày
Số vòng quay của vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho chúng ta biết thời gian để vốn lưu động quay được
một vòng. Thời gian này càng nhỏ thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng
cao và ngược lại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status