Thu hút vốn FDI tại Trung quốc và kinh nghiệm đối với Việt nam - Pdf 14

THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

1
LỜI NÓI ĐẦU

Sau hơn 20 năm (từ 1979 đến nay) thực hiện chính sách cải cách mở cửa,
kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, thu hút sự chú ý của cả
thế giới. Kim ngạch ngoại thương hai chiều của Trung Quốc đã tăng từ 28 tỷ
USD năm 1982 lên 510 tỷ USD năm 2001. Năm 2001, Trung Quốc trở thành
nước xuất khẩu đứng thứ bẩy thế giới (266,3 tỷ USD) và là nước nhập khẩu
đứng thứ 8 trên thế giới (243,7 tỷ USD). Cho đến nay, tương ứng với các thời
kỳ, nền kinh tế Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng. Vị thế
và ảnh hưởng của Trung Quốc đã tăng lên rõ rệt. Nhiều nhà kinh tế nhận định
rằng, từ nay đến hết thập niên đầu thế kỉ XXI vẫn là thời kỳ phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế Trung Quốc.
Một trong những yếu tố tạo nền sự phát triển mạnh mẽ kinh tế của Trung
Quốc trong hơn 20 năm qua là sự thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI). Từ năm 1992 đến nay, Trung Quốc liên tục đứng đầu các
nước đang phát triển và đứng trong tốp đầu trên thế giới về thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài và thậm chí đã vượt qua Hoa Kỳ vào năm 2002 với 52,7 tỷ
USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành động lực của sự phát triển kinh tế
Trung Quốc và chính nó là yếu tố then chốt để nước này thực hiện công nghiệp
hoá hướng về xuất khẩu. Quan trọng hơn, nó là cơ sở chủ yếu để Trung Quốc
thực hiện bước chuyển từ một nước nông nghiệp, khai thác tài nguyên, xuất
khẩu nguyên liệu là chính sang thành nước sản xuất và xuất khẩu chủ yếu các
mặt hàng công nghiệp chế tạo. Nhờ có đầu tư trực tiếp nước ngoài mà đất nước
Trung Quốc đã thay da đổi thịt. Nếu như trước khi mở cửa, Trung Quốc được
ví như một hành tinh chết, không sinh sôi, không nảy nở, phát triển thì sau 20
năm mở cửa, một đất nước Trung Quốc lớn mạnh đang hình thành, tạo nên một

Do trình độ và thời gian có hạn nên khoá luận này không tránh khỏi thiếu
sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Bùi Thị Lý, người đã tận
tình hướng dẫn tôi trong việc hoàn thành khoá luận này.

THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

3
Hà Nội, tháng 5 năm 2003.
Người viết
Học viên Nguyễn Thị Thu Hảo
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

4
CHƢƠNG I
THỰC TRẠNG THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC

Năm 1979 đánh dấu việc Trung Quốc mở cửa thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI). Kể từ đó đến nay, tình hình thu hút FDI tại Trung Quốc
đã có những biến chuyển mạnh mẽ. Có thể tóm tắt quá trình thu hút FDI tại
Trung Quốc thành bốn giai đoạn.

I. THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN

1. Giai đoạn thăm dò (1979 - 1985)
Do Trung Quốc có một thời gian dài đóng cửa bài ngoại nên đầu tư

Ma Cao, Đài Loan, Nhật Bản và các nước phát triển phương Tây đã đến Trung
Quốc. Họ chủ yếu đầu tư vào các ngành năng lượng, thông tin, chế tạo máy,
điện tử, dệt, công nghiệp nhẹ, hoá chất, nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi,
đánh cá, xây dựng và ngành bất động sản. Những dự án được chấp thuận ở các
tỉnh và thành phố duyên hải chiếm 80% tổng số của cả nước. Đầu tư trực tiếp
từ nước ngoài có sự chuyển hướng từ các ngành kinh doanh dịch vụ sang các
ngành công nghiệp chế tạo, chủ yếu là các ngành công nghiệp tập trung nhiều
lao động, sản phẩm được tái xuất qua Hồng Kông phù hợp với chiến lược sử
dụng vốn nước ngoài cho mục đích xuất khẩu của Trung Quốc, đã làm tổng sản
lượng công nghiệp tăng lên.
Năm 1991, Trung Quốc đã thông qua việc khống chế vĩ mô, kết hợp chặt
chẽ chính sách ưu đãi trong thu hút vốn nước ngoài và chính sách ngành nghề
của đất nước, khuyến khích có trọng điểm đầu tư nước ngoài vào các hạng mục
theo hướng phù hợp với chính sách ngành nghề, các hạng mục phải có quy mô
tương đối lớn và có kỹ thuật tiên tiến. Đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển
vững chắc hơn. Theo báo cáo điều tra của Cục mậu dịch Hồng Kông, từ năm
1979 - 1991, Trung Quốc đã phê chuẩn 12.100 hạng mục vốn nước ngoài, kim
ngạch ký kết theo hiệp định là 121,5 tỷ USD, vốn lợi dụng thực tế đạt 79,6 tỷ
USD.
Nhìn chung, giai đoạn 1984 - 1991, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Trung Quốc phát triển ổn định, có sự tăng trưởng cao. Đặc điểm chủ yếu của
đầu tư là các hạng mục mang tính sản xuất ngày càng tăng, (riêng năm 1991
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

6
chiếm trên 90%). Các hạng mục mang tính kỹ thuật tiên tiến và thuộc loại hình
xuất khẩu ngày càng nhiều.



7
gia (TNCs), các nhà tư bản từ 3 cường quốc Mỹ - Nhật - EU ngày càng tăng
cường số lượng đầu tư vào Trung Quốc.
TNCs và các nhà tư bản lớn phương Tây đầu tư vào Trung Quốc mang
theo một số loại hình đầu tư mới, quy mô đầu tư lớn, khởi điểm kỹ thuật cao,
sản phẩm cao cấp hoá. Các dự án mang tính sản xuất trong kết cấu ngành nghề
giảm xuống. Các dự án mang tính phi sản xuất phát triển tương đối nhanh. Đặc
biệt là ngành bất động sản tăng cao, chiếm tỷ trọng lớn trong số các dự án và tỷ
lệ trong số vốn của hiệp định từ 9,3% và 31% năm 1992 lên đến 13,57% và
39,28% năm 1993.
Do đầu tư tăng cao đã gây nên những cơn sốt đầu tư, gây ra tình
trạng rối loạn về bất động sản, về mở khu chế xuất, khu khai thác kinh tế
kỹ thuật. Đầu tư tăng cao đã làm cho nền kinh tế trở nên quá nóng. Năm
1992, kinh tế tăng trưởng 12%, năm 1993 tăng 13,4%. Tốc độ tăng trưởng
này đã kéo theo rối loạn về tài chính tiền tệ, tổng cung và tổng cầu mất
cân bằng ảnh hưởng đến lạm phát.
Năm 1992, 1993, tuy đầu tư tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng kim ngạch
sử dụng thực tế trong kim ngạch hiệp định mỗi năm là 18,9% và 24,7%, thấp
hơn so với mấy năm trước đó. Tình trạng này xẩy ra một phần do ở nhiều địa
phương đã mù quáng đưa các hạng mục đầu tư mà tiền vốn đồng bộ trong nước
kèm theo không đủ, thiết bị cơ sở hạ tầng không theo kịp, nguyên liệu, nhiên
liệu, cung ứng không đủ.
Nhìn chung, FDI những năm 1992 - 1993 tăng trưởng với tốc độ cao
ở Trung Quốc. Đặc trưng cơ bản của nó là mở rộng khu vực đầu tư, mở
rộng ngành nghề, mở rộng quy mô dự án, cải thiện kết cấu đầu tư, kết cấu
ngành nghề có sự chuyển biến cao cấp hoá.

4. Giai đoạn điều chỉnh (1994 đến nay)
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

tăng lên. Thượng Hải và Bắc Kinh từng nơi tăng trưởng 2,1 lần và 2,7 lần. Sơn
Đông tăng ít nhất cũng đạt 17%. Tính chung cả nước trong năm 1994, số hạng
mục đầu tư được Trung Quốc phê chuẩn là 47.490, giảm 43,09% so với năm
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

9
1993. Số kim ngạch đầu tư ký kết theo hiệp định là 81,41 tỷ USD, giảm
26,95%. Song số kim ngạch sử dụng thực tế là 33,75 tỷ USD, tăng 22,78%,
chiếm 41,5% trong tổng kim ngạch đầu tư ký kết theo hiệp định. Vốn FDI thực
tế vào Trung Quốc trong hai năm tiếp theo 1995, 1996 cũng vẫn tăng đều đặn
với mức 10%/ năm.
Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực
năm 1997 mà luồng vốn FDI vào Trung Quốc có sụt giảm trong hai năm 1998,
1999. Kim ngạch thực tế trong hai năm này lần lượt chỉ đạt 43,7 tỷ USD và
40,3 tỷ USD, giảm 1% và 7% so với những năm trước đó. Cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ làm giảm thực lực kinh tế của các nước trong khu vực như
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài loan, Hồng Kông, vốn là những đối tác đầu tư chủ
yếu của Trung Quốc (chiếm hơn 75% tổng vốn FDI). Các nước này phải giải
quyết những khó khăn nội tại nên giảm đầu tư ra nước ngoài nói chung và vào
Trung Quốc nói riêng. Trung Quốc đã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm
tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư như: duy trì ổn định tỷ giá đồng
NDT, duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, tiếp tục đầu tư cải thiện cơ
sở hạ tầng, lựa chọn những hạng mục đầu tư có hiệu quả cao, nâng cao hàm
lượng khoa học kỹ thuật của các hạng mục. Nhờ vậy, từ năm 2000, FDI vào
Trung Quốc bắt đầu phục hồi trở lại mức 40,77 tỷ USD, 46,87 tỷ USD vào năm
2001, và tăng lên con số kỷ lục là 52,7 tỷ USD vào năm 2002 và theo dự đoán
trong năm 2003 sẽ đạt 60 tỷ USD. Hiện nay, có hơn 400.000 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài thuộc 180 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động ở
3
6
4
9
7
32
13
23
25
15
27
67
32
185
47
41
50
52
51

Nguồn: UNCTAD World Investment Report 2002.

Tính tới cuối năm 2001, tổng kim ngạch ký kết theo hiệp định đạt 731,9
tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 395,192 tỷ USD. Riêng năm 2001, Trung
Quốc đã phê chuẩn 26.140 hạng mục, với số vốn ký kết theo hiệp định là 69,19
tỷ USD, số vốn sử dụng thực tế đạt 46,87 tỷ USD.
Như vậy mặc dù sự kiện 11 tháng 9 có làm sụt giảm đầu tư toàn cầu
nhưng nhờ việc Trung Quốc gia nhập WTO (tháng 11 / 2001), nên đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Trung Quốc vẫn gia tăng. Với 46,84 tỷ USD tiếp nhận
được, Trung quốc đã chiếm 23% vốn FDI vào các nước đang phát triển và
chiếm 6,4% vốn FDI toàn cầu.

2. Đối tác đầu tư

Hình 2: Đầu tƣ chủ yếu của MNCs và Tƣ bản Hoa kiều (expatriates)
giai đoạn 1983 - 1997
Đơn vị: triệu USD THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM

ngạch
thực tế
Tỷ
trọng
1
Hồng Kông
8.008
20,69
30%
16,72
36%
2
Mỹ
2.606
7,51
11%
4,43
9%
3
Nhật Bản
2.019
5,42
8%
4,35
9%
4
Đài Loan
4.214
6,91
10%

9
Hà Lan
114
0,97
1%
0,78
2%
10
Pháp
151
0,57
1%
0,53
1%

THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

13
Nguồn: China Statistical Yearbook 2001

Bảng 1 cho thấy bức tranh đầu tư theo các đối tác đầu tư tại Trung Quốc.
Ta thấy Hồng Kông là đối tác lớn nhất với 36% vốn FDI, tuy nhiên đang có xu
hướng giảm dần. Nếu như trong giai đoạn 1979 - 1997, lượng vốn đầu tư của
Hồng Kông vào Trung Quốc đại lục đạt khoảng 111 tỷ USD, chiếm 53% thì
năm 2001, vốn đầu tư thực tế của Hồng Kông chỉ còn chiếm 36%, với 8.008 dự
án và vốn đăng ký đạt 20,68 tỷ USD.
Đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc thoạt nhìn chiếm con số rất khiêm
tốn là 2,98 tỷ USD vốn thực hiện, đứng thứ 4 trong số 10 nhà đầu tư lớn nhất

vi kinh doanh với các công ty này, nhiều công ty xuyên quốc gia và tập đoàn tài
chính lớn trên thế giới đã dồn dập đầu tư vào Trung Quốc với hy vọng sẽ có
chỗ đứng lâu dài trong thị trường có tiềm năng khổng lồ này. Với phương châm
“Lấy thị trường đổi lấy kỹ thuật”, “Lấy thị trường đổi lấy vốn”, “Lấy thị trường
để phát triển”, Trung quốc thực thi các biện pháp linh hoạt để mở rộng thị
trường nội địa, thiết lập và cải tiến cơ chế cạnh tranh trên thị trường, cải thiện
môi trường đầu tư nên số lượng các công ty xuyên quốc gia đã tăng lên nhanh
chóng. Đáng chú ý là từ năm 1994, trong khi vốn đầu tư cam kết từ Hồng
Kông, Ma Cao, Đài Loan giảm thì đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ,
Đức lại tăng lên ở những mức độ khác nhau. Quy mô trung bình của mỗi dự án
đều cao gấp đôi so với các dự án đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan vì
hầu hết đây là những công ty lớn.
Theo số liệu mới nhất của UNCTAD năm 2001, hơn 400 trong số 500
TNCs lớn nhất thế giới đã đến Trung Quốc đầu tư. Từ năm 1995 đã có 30
nhà doanh nghiệp nổi tiếng của các công ty Nhật Bản và Đức đã đầu tư
xây dựng ở Trung Quốc với tổng cộng 231 doanh nghiệp, trong đó chỉ có
25 doanh nghiệp được thành lập vào những năm 80, còn lại 80% số doanh
nghiệp chỉ đến năm 1993 mới được xây dựng. Như vậy, đa số các doanh
nghiệp có đầu tư của TNCs được thành lập từ sau 1993. Tính tới cuối năm
1996, 18 trong số 20 công ty lớn nhất của Mỹ, 17 trong số 20 công ty lớn
nhất của Nhật Bản, 8 trong số 10 công ty lớn nhất của Đức, 16 trong 20
công ty lớn nhất của Hàn Quốc đã có mặt tại Trung Quốc.
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

15
Mỹ là đối tác đầu tư lớn thứ hai ở Trung Quốc sau Hồng Kông, với vốn
FDI tăng từ 354 triệu USD (1990) lên 4,4 tỷ USD năm 2001. Cùng với Hồng
Kông, cửa ngõ của Trung Quốc với thế giới, Trung Quốc ngày càng trở thành

nhập WTO tháng 11 / 2001, đầu tư của các nước này trong tương lai gần chắc
chắn sẽ tăng.

3. Qui mô của các dự án đầu tư

Bảng 2: Quy mô bình quân một dự án giai đoạn 1985 - 2001
Đơn vị: triệu USD
Năm
Bình quân dự án
Năm
Bình quân dự án
1985
1,930
1994
1,714
1986
1,892
1995
2,403
1987
1,661
1996
3,0
1988
1,071
1997
2,5
1989
0,969
1998

THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

17
tiêu dùng trong cả nước và xuất khẩu thu ngoại tệ, chính phủ khuyến khích đầu
tư vào chế biến hàng xuất khẩu và những ngành thâm dụng nhân công. Để tận
dụng những ưu đãi, các nhà đầu tư đã chú trọng vào những ngành như: may
mặc, sản xuất đồ điện tử thứ cấp, là những ngành không cần vốn đầu tư lớn. Do
vậy, quy mô đầu tư giảm xuống dưới 1 triệu USD /dự án.
Nghiên cứu kỹ hơn, ta sẽ nhận thấy quy mô đầu tư của tư bản người Hoa
ở Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao luôn nhỏ hơn mức bình quân trong giai đoạn
đầu thập kỷ 90 trở về trước. Điều này quyết định tới quy mô nhỏ các hạng mục
đầu tư nước ngoài vì Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan luôn là những đối tác đầu
tư chủ yếu của Trung quốc. Quy mô một hạng mục của Ma Cao chỉ có 1,17
triệu USD, của Đài Loan đạt 0,844 triệu USD. Nguyên nhân là đầu tư của tư
bản người Hoa và Hoa kiều mang tính truyền thống gia tộc là chính. Đầu tư của
họ chủ yếu là vào những xí nghiệp vừa và nhỏ, ít vốn, phân tán, quản lý rời rạc,
phương thức kinh doanh theo kiểu truyền thống. Theo số liệu điều tra của
Trung Quốc năm 1992, những doanh nghiệp quy mô đầu tư dưới 1 triệu USD
thường là những doanh nghiệp gia công vừa và nhỏ, loại hình tập trung nhiều
lao động. Đối với những doanh nghiệp quy mô trên 1 triệu USD, thì có trên
80% tập trung vào ngành tập trung nhiều lao động như dệt may, giầy da, quần
áo, đồ thể thao.
Từ năm 1993, chính sách khuyến khích TNCs phù hợp với đòi hỏi của
nền kinh tế thị trường ngày càng lôi kéo nhiều TNCs đầu tư vào Trung Quốc.
Điểm nổi bật của các hạng mục đầu tư của TNCs là quy mô lớn hơn của tư bản
Hoa kiều rất nhiều. Đặc biệt, các hạng mục kỹ thuật cao, mới của các khu khai
thác kinh tế kỹ thuật ven biển đã nâng cao từ 10% mấy năm trước lên 30% vào
năm 1994, quy mô mỗi hạng mục tăng từ 1,8 triệu USD năm 1993 lên 2,4 triệu

2000
%
tăng
2001
2000
%
tăng
1
Liên doanh
17.540
20.030
-12
16.250
14.590
11
2
Hợp tác kinh doanh
trên cơ sở hợp đồng
8.310
8.050
3
6.060
6.500
-7
3
DN 100% vốn nước
ngoài
42.980
34.010
26
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

19
Số liệu ở bảng 3 cho thấy hình thức đầu tư chủ yếu vẫn là các doanh
nghiệp “ba vốn”, tức là các doanh nghiệp hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng, doanh nghiệp chung vốn (còn gọi là doanh nghiệp liên doanh) và doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài. Năm 2000, doanh nghiệp hợp tác kinh doanh,
doanh nghiệp chung vốn và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài lần lượt chiếm
12,7%; 32% và 54% vốn đăng ký và 16%; 35%; 46% tổng vốn đầu tư thực
hiện. Năm 2001, tỷ trọng này lần lượt là 12%; 25%; 62% tổng vốn đăng ký và
13%; 34,7% và 50,3% vốn đầu tư thực hiện.
Doanh nghiệp hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng là doanh nghiệp
kiểu hợp đồng, chủ đầu tư là nước ngoài cung cấp tiền vốn, thiết bị, kỹ thuật,
Trung Quốc cung cấp tiền vốn, địa điểm, nhà xưởng hiện có, cơ sở trang thiết
bị, sức lao động và các dịch vụ lao động. Tỷ lệ bỏ vốn của phía nước ngoài
không thấp hơn 25% vốn đăng ký. Hai bên cùng nhau hợp tác hoạt động hoặc
cùng hợp tác sản xuất kinh doanh. Hình thức này khác với doanh nghiệp liên
doanh ở chỗ hai bên không thành lập pháp nhân mới. Khi chấm dứt hợp đồng,
tài sản của doanh nghiệp trở thành sở hữu không bồi hoàn của phía Trung
Quốc. Hình thức này rất phát triển trong giai đoạn đầu khi Trung Quốc đang
xây dựng các đặc khu kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng vì nó đáp ứng yêu cầu
về mặt thời gian, không mất nhiều thời gian đàm phán. Tuy nhiên, do đây là
hình thức hợp tác giản đơn nên có xu hướng giảm dần cả về tỷ trọng lẫn tiến độ
thực hiện. Vốn đầu tư thực tế theo hình thức này năm 2001 chỉ đạt 6 tỷ USD,
giảm 7% so với mức 6,5 tỷ USD năm 2000.
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp hợp doanh kiểu cổ phần. Nó là

USD đăng ký theo hình thức này. Tỷ trọng của hình thức này trong tổng vốn
thực hiện cũng đạt mức cao nhất so với các hình thức khác: 46% năm 2000 và
50% năm 2001. Hình thức này được các nhà đầu tư nước ngoài ưa chuộng vì
họ được toàn quyền quyết định việc quản lý sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Từ năm 1992 - 1993, bên cạnh tiền vốn ngành nghề vào Trung Quốc
theo doanh nghiệp “ba vốn” còn có tiền vốn lưu thông quốc tế theo các nhà đầu
tư phương Tây vào Trung Quốc. Tiền vốn lưu thông này do các loại quỹ đầu tư,
quỹ bảo hiểm, cung cấp. Nó trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty đầu
tư, công ty chứng khoán vào Trung Quốc, dưới các phương thức mua bán
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

21
chứng khoán, lưu thông tiền vốn cổ phần, xây dựng quỹ tham gia cổ phần, đưa
tiền vốn vào Trung Quốc nhằm thu lợi. Những tiền vốn lưu thông này không tự
mình lưu thông mở xưởng, làm hoạt động sản xuất thương mại mà nó theo đuổi
tỷ suất cổ tức cố định, lâu dài, rủi ro tương đối nhỏ, tính lưu động tiền vốn cao,
giá thành trực tiếp quản lý kinh doanh tương đối thấp.
Doanh nghiệp cổ phần đầu tư nước ngoài năm 2001 thu hút được 330
triệu USD vốn đăng ký (chiếm 0,5% vốn đăng ký), tăng gấp rưỡi năm 2000 và
460 triệu USD vốn thực hiện (chiếm gần 1% tổng vốn thực hiện), tăng 31,8%
so với năm 2000. Đặc điểm của hình thức này là toàn bộ tiền vốn do những cổ
phần mức bằng nhau tạo thành, các chủ đầu tư có thể phát hành cổ phiếu, cổ
phần trưng tập tới các nhà đầu tư khác. Những cổ phiếu này có thể lưu thông
trong giao dịch chứng khoán hoặc chuyển nhượng trên thị trường trong nước và
ngoài nước. Mục đích là để thu hút nhiều nhà đầu tư tăng vốn mở rộng cổ phần
hơn nữa và tham gia vào cải cách doanh nghiệp quốc doanh. Tính đến cuối năm
1996, có 86 công ty Trung Quốc trong danh sách các công ty bán cổ phiếu B

gia công tập trung nhiều lao động, kỹ thuật thấp hoặc trung bình, sản phẩm chủ
yếu để tái xuất hoặc xuất khẩu như: công nghiệp thực phẩm, đồ uống, dệt, may
mặc, giầy da, đồ chơi, xà phòng, thuốc tẩy, chế tạo vỏ container Công nghiệp
nhẹ và công nghiệp gia công lần lượt chiếm 58,34% và 30,54% đầu tư nước
ngoài trong ngành công nghiệp. Do kết cấu như trên nên sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp liên doanh thời kỳ 1986 - 1991 còn bị hạn chế.
Năm 1994, chính phủ Trung Quốc có sự điều chỉnh kết cấu ngành nghề,
khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực dịch vụ và các ngành cơ sở nên
lĩnh vực đầu tư được mở rộng, tuy nhiên, công nghiệp vẫn giữ vị trí chủ đạo.
Trọng điểm ngành nghề đã được Trung Quốc chuyển từ công nghiệp gia công
sang các ngành tập trung nhiều tiền vốn và kỹ thuật, thu hút đầu tư nước ngoài
hợp lý, từng bước có lựa chọn về mặt kỹ thuật cao. Các dự án theo quy định ưu
tiên trong chính sách ngành nghề của Nhà nước về tái thiết và phát triển các
ngành điện tử, máy móc, cơ khí và hoá dầu được hưởng nhiều ưu đãi.
Nhờ chính sách điều chỉnh, FDI vào các ngành dịch vụ ngày càng tăng.
Trung Quốc khuyến khích đầu tư vào những hoạt động tư vấn, bảo hiểm, lưu
thông tiền tệ, ngoại thương, du lịch, thương nghiệp bán lẻ. Tới cuối năm 1996,
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

23
Trung Quốc đã phê chuẩn thành lập 148 cơ quan tài chính tiền tệ có vốn nước
ngoài, 18 liên doanh bán lẻ, 2 liên doanh về mậu dịch đối ngoại. Hoạt động của
các ngân hàng và các công ty bảo hiểm cũng đã phục vụ đắc lực cho mục tiêu
thu hút vốn nước ngoài của Trung Quốc. Tính đến cuối năm 1995, tổng số vốn
các ngân hàng này huy động được đã lên tới 3 tỷ USD tiền gửi và đã cho vay
gần 30 tỷ USD, trong đó trên 90% là cho vay trong nước. Trung Quốc cũng cho
phép các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh tiền tệ và ngoại thương.
Đầu tư vào bất động sản tăng cực kỳ nhanh, tỷ lệ so với tổng số từ 6,9%

tới những tỉnh nằm sâu trong nội địa. Bằng Tường, một tỉnh nghèo thuộc biên
giới Tây Nam, chỉ trong vòng 5 năm 1992 - 1997 đã thu hút được 21 xí nghiệp
“ba vốn” với lượng vốn đầu tư trị giá 33,6 triệu USD.
Đầu tư nước ngoài cũng có sự phát triển nhanh ở các tỉnh Hà Nam, Hồ
Bắc, Hồ Nam của khu vực Nam Trung Bộ, Tứ Xuyên ở khu vực Tây Nam. Kế
tiếp theo là bốn tỉnh, khu: Cam Túc, Tân Cương, Ninh Hạ, Thanh Hải của vùng
Tây Bắc. Đến cuối năm 1993, 4 tỉnh, khu này đã cho phép thành lập số doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lần lượt là 823, 570, 264, 67 triệu USD. Kim
ngạch ký kết theo hiệp định lần lượt là: 0,467; 0,352; 0,102 và 0,028 tỷ USD.
Kim ngạch sử dụng thực tế lần lượt đạt: 12,7; 53; 15,42; 3,92 triệu USD.

III. NHỮNG NHÂN TỐ TẠO NÊN SỨC HẤP DẪN ĐẦU TƢ NƢỚC
NGOÀI TẠI TRUNG QUỐC:
Trung Quốc là một mảnh đất đầu tư mầu mỡ đối với các nhà đầu tư
nước ngoài vì những lí do sau đây:

1. Kinh tế tăng trưởng mạnh
Trung Quốc là một thị trường đầy tiềm năng, đặc biệt khi các thị trường
Châu Âu và Bắc Mỹ đã tương đối bão hoà. Tính theo ngang giá sức mua PPP,
Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ và người ta dự
đoán quy mô của thị trường này sẽ vượt Mỹ vào năm 2020. Theo tạp chí
Econosystem số ra ngày 23 / 7 / 2001, Trung Quốc duy trì được mức tăng
trưởng GDP bình quân một năm khá cao 10,1% trong suốt mười năm từ 1991
đến 2000 và mức tăng trưởng trung bình là 9,7% kể từ 1980. Cho đến nay,
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9

25
tương ứng với các thời kỳ, Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng

Trung Quốc là nền kinh tế duy nhất duy trì được tốc độ tăng trưởng 7%.
Theo “Kế hoạch năm năm lần thứ 10” (2001 - 2005) về phát triển kinh tế
xã hội của Quốc hội Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của
Trung Quốc sẽ được duy trì ở mức 7%/năm. Với mức tăng trưởng này, đến
năm 2005, GDP của Trung Quốc sẽ đạt 15.500 tỷ NDT, tương đương 1.870 tỷ
USD, mức GDP bình quân đầu người sẽ đạt 9.400 NDT (1.140 USD).

2. Tiềm lực thị trường to lớn
Với số dân đông nhất thế giới (1,3 tỉ người), Trung Quốc là một thị
trường to lớn đầy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài lợi thế là
một thị trường tiêu dùng khổng lồ, Trung Quốc còn có nguồn tài nguyên thiên
nhiên phong phú: Hiện nay, tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc đứng thứ 3
trên thế giới, chủng loại phong phú và số lượng rất lớn. Trung Quốc là một
trong những nước giàu nhất thế giới về các nguồn khoáng sản quan trọng như
than, quặng sắt, kim loại màu: mangan chiếm 10% trữ lượng thế giới, vonfram
chiếm 90% trữ lượng thế giới, molipden chỉ kém có Mỹ, antimoan chiếm
khoảng 75-80% trữ lượng thế giới. Trong những năm gần đây, sản phẩm mang
tính tài nguyên tăng nhanh. Than nguyên khai, xi măng, bông, vải bông,

Trích đoạn Những nét tương đồng Những khác biệt Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, lành mạnh hoá môi trường kinh tế vĩ mô Nâng cao trình độ phát triển nguồn nhân lực Nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status