Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
MỤC LỤC
Lời nói đầu…………………………………….
………………………………………………………………………………………..1
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC
I. Thu hút FDI tại Trung Quốc qua các giai đoạn………………………….…………………………
3
1. Giai đoạn thăm dò (1979-1985)……………………………………………………………………………….
……3
2. Giai đoạn phát triển ổn định (1986-1991)……………………………………………….
………………….3
3. Giai đoạn phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ (1992-1993)…………………………...
……5
4. Giai đoạn điều chỉnh (1994 đến nay)…………………………………………………………………...
………6
II. Đặc điểm FDI tại Trung
Quốc…………………………………………………………………………………...8
1. Nguồn vốn đầu tư…..………………………….……….
……………………………………………………………………...8
2. Đối tác đầu tư…………………………………………………………………………………………………...………...……
10
3. Quy mô của các dự án đầu tư………………………………………………………………………………………
14
4. Hình thức đầu tư
…………………………………………………………………………………………………………….16
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
1
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
5. Lĩnh vực đầu tư ………………………………………………………………………………………………………………
20
3. Chính sách hợp lý trong đa dạng hoá nguồn đầu tư…………………………………………...
…..51
III. Những bài học chưa thành
công…………………………………………………………………………...59
1. Hoạt động quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhiều
bất cập, cần rút kinh nghiệm ………………………………………………………………………….
………..59
2. Trong thu hút FDI, tài sản của nhà nước bị thất thoát nghiêm trọng…………………
62
3. Chưa có chính sách thích hợp để bảo hộ thị trường trong nước…………………….……
62
4. Các nhà đầu tư còn khống chế kỹ thuật trong doanh nghiệp liên doanh……….
….64
5. Chưa thực sự coi trọng chất lượng của đầu tư trực tiếp nước
ngoài……………………65
CHƯƠNG III
VẬN DỤNG KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG THU HÚT FDI
CỦA TRUNG QUỐC Ở VIỆT NAM
I. Vài nét về sự tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Trung
Quốc……….....67
1. Những nét tương đồng……………………………………………………………………………………………….
…..67
2. Những khác biệt…………………………………………………………………………………………………………..
….71
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
3
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
II. Thực trạng FDI ở Việt Nam trong thời gian
qua……………………………………………….73
1. Về số dự án, vốn đầu tư và quy mô dự án…………………………………………………………..……
9. Nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến đầu tư………………………………………………..……
95
Kết luận………………………………………………………………………..……………………………………………………..…
96
Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………………………………………………………………
98
LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn 20 năm (từ 1979 đến nay) thực hiện chính sách cải cách mở cửa,
kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, thu hút sự chú ý của cả
thế giới. Kim ngạch ngoại thương hai chiều của Trung Quốc đã tăng từ 28 tỷ
USD năm 1982 lên 510 tỷ USD năm 2001. Năm 2001, Trung Quốc trở thành
nước xuất khẩu đứng thứ bẩy thế giới (266,3 tỷ USD) và là nước nhập khẩu
đứng thứ 8 trên thế giới (243,7 tỷ USD). Cho đến nay, tương ứng với các thời
kỳ, nền kinh tế Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng. Vị thế
và ảnh hưởng của Trung Quốc đã tăng lên rõ rệt. Nhiều nhà kinh tế nhận định
rằng, từ nay đến hết thập niên đầu thế kỉ XXI vẫn là thời kỳ phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế Trung Quốc.
Một trong những yếu tố tạo nền sự phát triển mạnh mẽ kinh tế của Trung
Quốc trong hơn 20 năm qua là sự thành công trong việc thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI). Từ năm 1992 đến nay, Trung Quốc liên tục đứng đầu các
nước đang phát triển và đứng trong tốp đầu trên thế giới về thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài và thậm chí đã vượt qua Hoa Kỳ vào năm 2002 với 52,7 tỷ
USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành động lực của sự phát triển kinh tế
Trung Quốc và chính nó là yếu tố then chốt để nước này thực hiện công nghiệp
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
5
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
hoá hướng về xuất khẩu. Quan trọng hơn, nó là cơ sở chủ yếu để Trung Quốc
thực hiện bước chuyển từ một nước nông nghiệp, khai thác tài nguyên, xuất
khẩu nguyên liệu là chính sang thành nước sản xuất và xuất khẩu chủ yếu các
Chương III: Vận dụng kinh nghiệm trong hoạt động thu hút FDI của trung
quốc ở Việt Nam.
Do trình độ và thời gian có hạn nên khoá luận này không tránh khỏi thiếu
sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Bùi Thị Lý, người đã tận
tình hướng dẫn tôi trong việc hoàn thành khoá luận này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2003.
Người viết
Học viên Nguyễn Thị Thu Hảo
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
7
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC
Năm 1979 đánh dấu việc Trung Quốc mở cửa thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI). Kể từ đó đến nay, tình hình thu hút FDI tại Trung Quốc
đã có những biến chuyển mạnh mẽ. Có thể tóm tắt quá trình thu hút FDI tại
Trung Quốc thành bốn giai đoạn.
I. THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC QUA CÁC GIAI ĐOẠN
1. Giai đoạn thăm dò (1979 - 1985)
Do Trung Quốc có một thời gian dài đóng cửa bài ngoại nên đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc trong giai đoạn đầu này chỉ mang tính
thăm dò, mức độ chậm chạp, quy mô không lớn. Chủ yếu là các dự án đầu
tư vào vùng duyên hải của các nhà tư bản vừa và nhỏ ở Hồng Kông, Ma
Cao. Các nhà đầu tư chủ yếu đầu tư vào các công trình nhà hàng, khách
sạn thu lợi tương đối cao. Hầu hết các hạng mục quy mô nhỏ, kỹ thuật
thấp, kỳ hạn quay vòng vốn ngắn. Tính tới cuối năm 1985, Trung Quốc đã
thu hút được 6.321 hạng mục, với số vốn đầu tư thực tế là 4,72 tỷ USD.
Hầu hết các hạng mục sử dụng nhiều lao động vào những ngành gia công
cấp thấp hoặc trung bình. Mục đích của nhà đầu tư lúc đó là lợi dụng sức
của đất nước, khuyến khích có trọng điểm đầu tư nước ngoài vào các hạng mục
theo hướng phù hợp với chính sách ngành nghề, các hạng mục phải có quy mô
tương đối lớn và có kỹ thuật tiên tiến. Đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển
vững chắc hơn. Theo báo cáo điều tra của Cục mậu dịch Hồng Kông, từ năm
1979 - 1991, Trung Quốc đã phê chuẩn 12.100 hạng mục vốn nước ngoài, kim
ngạch ký kết theo hiệp định là 121,5 tỷ USD, vốn lợi dụng thực tế đạt 79,6 tỷ
USD.
Nhìn chung, giai đoạn 1984 - 1991, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Trung Quốc phát triển ổn định, có sự tăng trưởng cao. Đặc điểm chủ yếu của
đầu tư là các hạng mục mang tính sản xuất ngày càng tăng, (riêng năm 1991
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
9
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
chiếm trên 90%). Các hạng mục mang tính kỹ thuật tiên tiến và thuộc loại hình
xuất khẩu ngày càng nhiều.
3. Giai đoạn phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ (1992 - 1993)
Bước sang thập kỷ 90, sau chuyến đi thị sát của Đặng Tiểu Bình ở các
tỉnh phía Nam, tại Đại hội XIV năm 1992, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết
định đẩy nhanh tốc độ kinh tế thị trường. Cả nước đã hình thành kết cấu mở
cửa đối ngoại bao gồm 339 huyện thị với diện tích hơn 50 vạn km
2
và hơn 300
triệu người. Trung Quốc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư ngày càng phù
hợp với yêu cầu và đòi hỏi của kinh tế thị trường, mở rộng thêm các lĩnh vực
đầu tư, quyết định đẩy nhanh sự phát triển của ngành nghề thứ ba và đặc biệt là
mở rộng thị trường nội địa. Các nhà đầu tư đã nhìn thấy thị trường nội địa rất
tốt, tiềm lực rất lớn, do vậy họ đã đầu tư ồ ạt vào thị trường trong nước.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tăng trưởng cao chưa từng
thấy. Số lượng đầu tư của thương gia nước ngoài tăng theo cấp số nhân. Năm
1992, tổng số hạng mục đầu tư của thương gia nước ngoài ký kết trên cả nước
Năm 1992, 1993, tuy đầu tư tăng trưởng cao nhưng tỷ trọng kim ngạch
sử dụng thực tế trong kim ngạch hiệp định mỗi năm là 18,9% và 24,7%, thấp
hơn so với mấy năm trước đó. Tình trạng này xẩy ra một phần do ở nhiều địa
phương đã mù quáng đưa các hạng mục đầu tư mà tiền vốn đồng bộ trong nước
kèm theo không đủ, thiết bị cơ sở hạ tầng không theo kịp, nguyên liệu, nhiên
liệu, cung ứng không đủ.
Nhìn chung, FDI những năm 1992 - 1993 tăng trưởng với tốc độ cao
ở Trung Quốc. Đặc trưng cơ bản của nó là mở rộng khu vực đầu tư, mở
rộng ngành nghề, mở rộng quy mô dự án, cải thiện kết cấu đầu tư, kết cấu
ngành nghề có sự chuyển biến cao cấp hoá.
4. Giai đoạn điều chỉnh (1994 đến nay)
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
11
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
Trước tình trạng FDI tăng trưởng quá nóng trong giai đoạn 1992 - 1993,
từ năm 1994, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh chiến lược thu hút
FDI theo hướng:
+ Đưa tiền vốn vào từ công nghiệp gia công thông thường chuyển sang
các ngành nghề cơ sở, ngành nghề tập trung nhiều tiền vốn và kỹ thuật.
+ Từ tiếp nhận những hạng mục nhỏ chuyển sang tiếp nhận những hạng
mục lớn và vừa.
+ Từ thu hút tiền vốn ngành nghề chuyển sang thu hút tiền vốn lưu thông
quốc tế.
+ Từ xây dựng doanh nghiệp mới là trọng tâm chuyển sang cải tạo
những doanh nghiệp cũ.
+ Từ việc đưa đầu tư vào đối tượng bị động chuyển sang đưa vào đối
tượng chủ động, có lựa chọn, chú trọng hơn đến chất lượng của đầu tư.
Chính sách điều chỉnh đã làm dịu tình trạng kinh tế quá nóng của Trung
Quốc trong 2 năm 1992 - 1993. Trong 6 tháng đầu năm 1994, những cơn sốt về
mở khu chế xuất và bất động sản đã dịu xuống. Số lượng dự án mở khu chế
tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư như: duy trì ổn định tỷ giá đồng
NDT, duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, tiếp tục đầu tư cải thiện cơ
sở hạ tầng, lựa chọn những hạng mục đầu tư có hiệu quả cao, nâng cao hàm
lượng khoa học kỹ thuật của các hạng mục. Nhờ vậy, từ năm 2000, FDI vào
Trung Quốc bắt đầu phục hồi trở lại mức 40,77 tỷ USD, 46,87 tỷ USD vào năm
2001, và tăng lên con số kỷ lục là 52,7 tỷ USD vào năm 2002 và theo dự đoán
trong năm 2003 sẽ đạt 60 tỷ USD. Hiện nay, có hơn 400.000 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài thuộc 180 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động ở
Trung Quốc.
II. ĐẶC ĐIỂM FDI TẠI TRUNG QUỐC
1. Nguồn vốn đầu tư
Với thị trường tiêu thụ khổng lồ và môi trường đầu tư thuận lợi, Trung
Quốc là một mảnh đất màu mỡ đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Như Lord
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
13
Thu hút FDI tại Trung Quốc và kinh nghiệm với Việt Nam
Powell, Ch tch ca China - British Council tuyờn b: ng ph Trung
Quc khụng c dỏt vng. Nhng Trung Quc ti nay ó thu hỳt nhiu vn
FDI hn bt c quc gia no, tr M, v thu hỳt c mt lng FDI ln gp
10 ln lng FDI vo n .
Lng vn FDI vo Trung Quc ngy cng nhiu. Ch riờng trong
giai on 1996 - 1999, FDI vo Trung Quc t 126 t USD, gp 6 ln FDI vo
Nht Bn. Nu nh nm 1991, Trung Quc ch ng th 13 th gii v th 3
trong cỏc nc ang phỏt trin v thu hỳt FDI thỡ t nm 1992 - 1998, Trung
Quc liờn tc ng u cỏc nc ang phỏt trin v ng trong tp u ca th
gii v thu hỳt FDI. Tuy nhiờn, nm 1999, FDI gim t mc 48 t USD (1998)
xung cũn 40,4 t USD (1999). õy l ln u tiờn lung FDI vo Trung Quc
cú s gim sỳt k t khi Trung Quc ci cỏch kinh t v m ca t 1979. T
nm 2000, FDI ó khi sc tr li mc 40,7 t USD, tng lờn 46,8 t USD vo
nm 2001 v tng lờn con s k lc l 52,7 t USD vo nm 2002.
0 50 100 150 200 250 300 350
Na Uy
Phần Lan
Đan Mạch
Thuỵ Điển
Mêhicô
Canada
Đức
Trung Quốc
Hà Lan
Bỉ và Lux
Pháp
Anh
Mỹ
2000
2001
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
Nguồn: UNCTAD World Investment Report 2002.
Tính tới cuối năm 2001, tổng kim ngạch ký kết theo hiệp định đạt 731,9
tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đạt 395,192 tỷ USD. Riêng năm 2001, Trung
Quốc đã phê chuẩn 26.140 hạng mục, với số vốn ký kết theo hiệp định là 69,19
tỷ USD, số vốn sử dụng thực tế đạt 46,87 tỷ USD.
Như vậy mặc dù sự kiện 11 tháng 9 có làm sụt giảm đầu tư toàn cầu
nhưng nhờ việc Trung Quốc gia nhập WTO (tháng 11 / 2001), nên đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Trung Quốc vẫn gia tăng. Với 46,84 tỷ USD tiếp nhận
được, Trung quốc đã chiếm 23% vốn FDI vào các nước đang phát triển và
chiếm 6,4% vốn FDI toàn cầu.
2. Đối tác đầu tư
Hình 2: Đầu tư chủ yếu của MNCs và Tư bản Hoa kiều (expatriates)
giai đoạn 1983 - 1997
thực tế
Tỷ
trọng
1 Hồng Kông 8.008 20,69 30% 16,72 36%
2 Mỹ 2.606 7,51 11% 4,43 9%
3 Nhật Bản 2.019 5,42 8% 4,35 9%
4 Đài Loan 4.214 6,91 10% 2,98 6%
5 Hàn Quốc 2.909 3,49 5% 2,15 5%
6 Singapore 675 1,98 3% 2,14 5%
7 Đức 280 1,17 2% 1,21 3%
8 Vương quốc Anh 269 1,52 2% 1,05 2%
9 Hà Lan 114 0,97 1% 0,78 2%
10 Pháp 151 0,57 1% 0,53 1%
Nguồn: China Statistical Yearbook 2001
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
16
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
Bảng 1 cho thấy bức tranh đầu tư theo các đối tác đầu tư tại Trung Quốc.
Ta thấy Hồng Kông là đối tác lớn nhất với 36% vốn FDI, tuy nhiên đang có xu
hướng giảm dần. Nếu như trong giai đoạn 1979 - 1997, lượng vốn đầu tư của
Hồng Kông vào Trung Quốc đại lục đạt khoảng 111 tỷ USD, chiếm 53% thì
năm 2001, vốn đầu tư thực tế của Hồng Kông chỉ còn chiếm 36%, với 8.008 dự
án và vốn đăng ký đạt 20,68 tỷ USD.
Đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc thoạt nhìn chiếm con số rất khiêm
tốn là 2,98 tỷ USD vốn thực hiện, đứng thứ 4 trong số 10 nhà đầu tư lớn nhất
tại Trung Quốc và thậm chí có người còn cho rằng trong những năm qua, tầm
quan trọng của các nhà đầu tư Đài Loan đang giảm dần. Trong giai đoạn 1992 -
1998, FDI của Đài Loan chiếm 8,5% nhưng trong 3 năm gần đây, tỷ trọng FDI
của Đài Loan luôn dao động trên dưới 6%. Nhưng những con số thống kê chính
thức này chưa phản ánh hết tiềm lực vốn khổng lồ của các nhà đầu tư Đài
chóng. Đáng chú ý là từ năm 1994, trong khi vốn đầu tư cam kết từ Hồng
Kông, Ma Cao, Đài Loan giảm thì đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ,
Đức lại tăng lên ở những mức độ khác nhau. Quy mô trung bình của mỗi dự án
đều cao gấp đôi so với các dự án đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan vì
hầu hết đây là những công ty lớn.
Theo số liệu mới nhất của UNCTAD năm 2001, hơn 400 trong số 500
TNCs lớn nhất thế giới đã đến Trung Quốc đầu tư. Từ năm 1995 đã có 30
nhà doanh nghiệp nổi tiếng của các công ty Nhật Bản và Đức đã đầu tư
xây dựng ở Trung Quốc với tổng cộng 231 doanh nghiệp, trong đó chỉ có
25 doanh nghiệp được thành lập vào những năm 80, còn lại 80% số doanh
nghiệp chỉ đến năm 1993 mới được xây dựng. Như vậy, đa số các doanh
nghiệp có đầu tư của TNCs được thành lập từ sau 1993. Tính tới cuối năm
1996, 18 trong số 20 công ty lớn nhất của Mỹ, 17 trong số 20 công ty lớn
nhất của Nhật Bản, 8 trong số 10 công ty lớn nhất của Đức, 16 trong 20
công ty lớn nhất của Hàn Quốc đã có mặt tại Trung Quốc.
Mỹ là đối tác đầu tư lớn thứ hai ở Trung Quốc sau Hồng Kông, với vốn
FDI tăng từ 354 triệu USD (1990) lên 4,4 tỷ USD năm 2001. Cùng với Hồng
Kông, cửa ngõ của Trung Quốc với thế giới, Trung Quốc ngày càng trở thành
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
18
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
địa chỉ đầu tư ưa thích của các công ty Mỹ. FDI của Mỹ vào Trung Quốc và
Hồng Kông (2000) lên con số kỷ lục 4,4 tỷ USD - tăng 4% so với năm 1999 và
chiếm 3,1% tổng vốn đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài. Năm 2001, kim
ngạch đầu tư theo hiệp định của Mỹ đạt 7,5 tỷ USD, kim ngạch thực tế đạt 4,43
tỷ USD, chiếm 10% tổng lượng FDI thực hiện của Trung Quốc. Đầu tư của Mỹ
tập trung vào những ngành sản xuất tạo giá trị gia tăng cao (thiết bị điện tử,
viễn thông), dịch vụ (bảo hiểm, tài chính, phân phối) và dầu khí.
Nhật Bản xếp hạng thứ ba, sau Mỹ trong danh sách 10 nhà đầu tư lớn
nhất tại Trung Quốc năm 2001 với 2.019 dự án và vốn sử dụng thực tế đạt 4,3
1990 0,907 1999 2,6
1991 0,923 2000 2,78
1992 1,192 2001 2,64
1993 1,336
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê Trung Quốc 2001
Qua bảng trên, ta thấy quy mô đầu tư vào mỗi hạng mục đầu tư nước
ngoài biến động không đều qua các năm. Thời kỳ đầu mở cửa, quy mô dự án
nhỏ. Giữa thập kỷ 80, quy mô dự án khá cao, xấp xỉ 2 triệu USD một dự án.
Tuy nhiên, quy mô này lại giảm vào những năm cuối của thập kỷ 80 và xu
hướng tăng lại bắt đầu từ năm 1992 trở lại đây, từ mức 1,2 triệu USD/dự án lên
3 triệu USD/dự án.
Khoảng thời gian đầu, do đầu tư của thương gia nước ngoài còn mang
tính thăm dò, nên các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Giữa thập kỷ 80, do đa số các dự án tập trung vào xây dựng các công trình cơ
sở nên quy mô đầu tư của hạng mục tương đối lớn, lên tới gần 2 triệu USD/dự
án. Từ năm 1986, mục tiêu kinh tế chuyển sang sản xuất để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong cả nước và xuất khẩu thu ngoại tệ, chính phủ khuyến khích đầu
tư vào chế biến hàng xuất khẩu và những ngành thâm dụng nhân công. Để tận
dụng những ưu đãi, các nhà đầu tư đã chú trọng vào những ngành như: may
mặc, sản xuất đồ điện tử thứ cấp, là những ngành không cần vốn đầu tư lớn. Do
vậy, quy mô đầu tư giảm xuống dưới 1 triệu USD /dự án.
Nghiên cứu kỹ hơn, ta sẽ nhận thấy quy mô đầu tư của tư bản người Hoa
ở Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao luôn nhỏ hơn mức bình quân trong giai đoạn
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
20
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
đầu thập kỷ 90 trở về trước. Điều này quyết định tới quy mô nhỏ các hạng mục
đầu tư nước ngoài vì Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan luôn là những đối tác đầu
tư chủ yếu của Trung quốc. Quy mô một hạng mục của Ma Cao chỉ có 1,17
động thu hút đầu tư nước ngoài ở Trung Quốc trong những năm gần đây. Đó là
lý do tại sao từ 1994 đến nay, mặc dù FDI ký kết theo hiệp định giảm nhưng
FDI thực tế ngày càng tăng.
4. Hình thức đầu tư
Bảng 3: FDI tại Trung Quốc theo hình thức đầu tư năm 2001 và 2000
Đơn vị: triệu USD
TT Hình thức đầu tư
Kim ngạch ký kết Kim ngạch thực hiện
2001 2000
%
tăng
2001 2000
%
tăng
1 Liên doanh 17.540 20.030 -12 16.250 14.590 11
2
Hợp tác kinh doanh
trên cơ sở hợp đồng
8.310 8.050 3 6.060 6.500 -7
3
DN 100% vốn nước
ngoài
42.980 34.010 26 23.550 19.140 23
4
DN cổ phần đầu tư
nước ngoài
330 210 57 460 110 31,8
5 Các hình thức khác 30 350 -91 530 440 20,4
Tổng cộng 69.190 62.650 10 46.850 40.770 15
Nguồn: China Statistical Yearbook 2001
trách nhiệm hữu hạn. Vốn góp của hai bên là vốn pháp định (25%), còn lại là
vốn vay. Vốn vay này do công ty liên doanh đứng ra vay và có trách nhiệm
hoàn trả. Doanh nghiệp liên doanh trong thời gian liên doanh không được giảm
bớt tiền vốn đăng ký kinh doanh của mình. Các bên chung vốn phân chia lợi
nhuận, gánh chịu rủi ro theo tỷ lệ đầu tư. Ở thời kỳ đầu cải cách mở cửa, hình
thức chiếm tỷ trọng chủ yếu vì được ưu đãi nhiều nhất về thuế xuất nhập khẩu
hải quan so với các hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh
nghiệp hợp tác kinh doanh và vì Trung Quốc không cho phép doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên, hiện nay với
việc Trung Quốc mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo khuyến nghị của WTO,
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
23
Thu hót FDI t¹i Trung Quèc vµ kinh nghiÖm víi ViÖt Nam
hình thức này đang có xu hướng giảm sút, nhường chỗ cho hình thức doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài. Vốn đăng ký theo hình thức doanh nghiệp liên
doanh năm 2001 chỉ đạt 17,54 tỷ USD, giảm 12% so với mức 20,03 tỷ USD
năm 2000. Tỷ trọng của doanh nghiệp liên doanh cũng giảm từ 32% vốn đăng
ký năm 2000 xuống còn 25% năm 2001.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp mà toàn bộ vốn
đầu tư do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư, xây dựng ở Trung Quốc theo luật pháp
Trung Quốc, không kể những cơ cấu chi nhánh trên lãnh thổ Trung Quốc và
các tổ chức kinh tế khác. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là pháp nhân
Trung Quốc. Loại doanh nghiệp này phát triển rất mạnh mẽ ở Trung Quốc
trong thời gian gần đây. Năm 2001, có tới 62% vốn FDI, tương đương 42,98 tỷ
USD đăng ký theo hình thức này. Tỷ trọng của hình thức này trong tổng vốn
thực hiện cũng đạt mức cao nhất so với các hình thức khác: 46% năm 2000 và
50% năm 2001. Hình thức này được các nhà đầu tư nước ngoài ưa chuộng vì
họ được toàn quyền quyết định việc quản lý sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Từ năm 1992 - 1993, bên cạnh tiền vốn ngành nghề vào Trung Quốc
thức doanh nghiệp cổ phần chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
5. Lĩnh vực đầu tư
Tính đến năm 1995, trong tổng vốn FDI vào Trung Quốc có 57,1% được
đưa vào các ngành công nghiệp, 36% vào các ngành dịch vụ, 5% vào các ngành
nông nghiệp, nghề rừng, chăn nuôi gia súc, nghề cá, bảo vệ nguồn nước. Như
vậy, các ngành công nghiệp nhìn chung vẫn thu hút được đa số vốn FDI.
Thời kỳ đầu, song song với quy mô đầu tư nhỏ thì đầu tư cũng chỉ tập
trung vào những ngành dịch vụ, chủ yếu là kinh doanh khách sạn, điểm vui
chơi giải trí, xây cao ốc, vì những lĩnh vực này dễ thu hồi vốn. Từ năm 1986,
Trung Quốc ban hành “Những quy định ưu đãi dành cho nhà đầu tư nước
ngoài” trong đó ban hành nhiều ưu đãi nếu các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
vào những lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Do vậy, đầu tư vào công nghiệp
đã tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm 1986, công nghiệp chỉ chiếm một tỷ
NguyÔn thÞ thu h¶o, A1 CN9
25