Luận văn tốt nghiệp "Thu hút FDI tại Trung Quốc" - Pdf 67



- - - [ 

\ - - -

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Thu hút FDI tại
Trung Quốc
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

1
LỜI NÓI ĐẦU

Sau hơn 20 năm (từ 1979 đến nay) thực hiện chính sách cải cách mở cửa,
kinh tế Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, thu hút sự chú ý của cả
thế giới. Kim ngạch ngoại thương hai chiều của Trung Quốc đã tăng từ 28 tỷ
USD năm 1982 lên 510 tỷ USD năm 2001. Năm 2001, Trung Quốc trở thành
nước xuất khẩu đứng thứ bẩy thế giới (266,3 tỷ USD) và là nướ

Việt Nam tiến hành cải cách mở cửa sau Trung Quốc 8 năm nên việc
tham khảo kinh nghiệm trong lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của
Trung Quốc trong quá trình phát triển kinh tế là cần thiết.
Về mặt lý luận, nó giúp ta có thêm dữ liệu để hiểu kỹ bản chất của đầu tư
trực tiếp nước ngoài, vừa là điều kiện để đánh giá chuẩn xác hơn s
ự tác động
của loại hình kinh tế này đối với quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam. Về
thực tiễn, Trung Quốc phát triển kinh tế thành công một phần lớn là nhờ đã triệt
để tận dụng những ưu thế của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bài học thiết thực
được đúc kết là nước nào có năng lực thu hút và biết sử dụng hiệu quả đầ
u tư
trực tiếp nước ngoài thì kết quả đạt được trong quá trình phát triển tương đối
thành công.
Chúng ta tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc chính là cơ sở để học
hỏi những thành công và né tránh những điều chưa hợp lý mà Trung Quốc đã
vấp phải. Vì đầu tư trực tiếp nước ngoài không phải là “chìa khoá vạn năng”,
nó cũng có những mặt trái nên trong khoá luận này, tôi xin đề cập cả những
bài học thành công cũng như chưa thành công của Trung Quốc. Tham khảo
một cách có chọn lọc những bài học kinh nghiệm là yêu cầu cần thiết, bổ ích
cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận
chia thành 3 chương:
Chương I: Thực trạng thu hút FDI tại Trung Quốc.
Chương II: Những bài học kinh nghiệm trong thu hút FDI tại Trung Quốc.
Ch
ương III: Vận dụng kinh nghiệm trong hoạt động thu hút FDI của trung
quốc ở Việt Nam.
Do trình độ và thời gian có hạn nên khoá luận này không tránh khỏi thiếu
sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Bùi Thị Lý, người đã tận

Cao. Các nhà đầu tư chủ yếu đầu tư vào các công trình nhà hàng, khách
sạn thu lợ
i tương đối cao. Hầu hết các hạng mục quy mô nhỏ, kỹ thuật
thấp, kỳ hạn quay vòng vốn ngắn. Tính tới cuối năm 1985, Trung Quốc đã
thu hút được 6.321 hạng mục, với số vốn đầu tư thực tế là 4,72 tỷ USD.
Hầu hết các hạng mục sử dụng nhiều lao động vào những ngành gia công
cấp thấp hoặc trung bình. Mục đích của nhà đầu tư lúc đó là l
ợi dụng sức
lao động rẻ ở Trung Quốc.

2. Giai đoạn phát triển ổn định (1986 - 1991)
Đầu năm 1986, Trung Quốc có sự điều chỉnh. Chiến lược thu hút FDI
được cựu Tổng bí thư Đảng CS Trung Quốc Triệu Tử Dương gọi là “lưỡng
đầu tại ngoại”, tức là dựa vào bên ngoài cả về cung đầu vào lẫn thị trường đầu
ra. Với chiến lược này, Trung Quốc quyết định lấy mục tiêu kinh tế loại hình
hướng ra bên ngoài là k
ết hợp công thương, lấy xây dựng công nghiệp làm chủ,
lấy trọng điểm từ việc trải ra kinh doanh chuyển hướng cơ bản sang nắm sản
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

5
xuất, nâng cao trình độ để đạt hiệu quả kinh tế. Đây là quyết định có ý nghĩa
quan trọng cho sự phát triển kinh tế ở Trung Quốc. Chính sách này rất khác so
với chính sách của nhiều nước công nghiệp hoá mới (NICs) là thu hút FDI vào
sản xuất thay thế nhập khẩu. Đặc điểm của Trung Quốc là đồng thời chuyển
đầu tư nước ngoài từ thay thế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩ
u đồng thời
vẫn thực hiện công nghiệp hoá. Đặc điểm này đã làm cho các nhà đầu tư chú ý.


6
chiếm trên 90%). Các hạng mục mang tính kỹ thuật tiên tiến và thuộc loại hình
xuất khẩu ngày càng nhiều.

3. Giai đoạn phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ (1992 - 1993)
Bước sang thập kỷ 90, sau chuyến đi thị sát của Đặng Tiểu Bình ở các
tỉnh phía Nam, tại Đại hội XIV năm 1992, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết
định đẩy nhanh tốc độ kinh tế thị trường. Cả nước đã hình thành kết cấu mở
cửa đối ngoại bao gồm 339 huyện thị với diện tích hơn 50 vạn km
2
và hơn 300
triệu người. Trung Quốc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư ngày càng phù
hợp với yêu cầu và đòi hỏi của kinh tế thị trường, mở rộng thêm các lĩnh vực
đầu tư, quyết định đẩy nhanh sự phát triển của ngành nghề thứ ba và đặc biệt là
mở rộng thị trường nội địa. Các nhà đầu tư đã nhìn thấy thị trường nộ
i địa rất
tốt, tiềm lực rất lớn, do vậy họ đã đầu tư ồ ạt vào thị trường trong nước.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc tăng trưởng cao chưa từng
thấy. Số lượng đầu tư của thương gia nước ngoài tăng theo cấp số nhân. Năm
1992, tổng số hạng mục đầu tư của thương gia nước ngoài ký kế
t trên cả nước
là 48.764 hạng mục, tăng 3,75 lần so với 1991. Nó vượt quá cả tổng số hạng
mục thời kỳ 1979 - 1991 là 42.027 hạng mục. Kim ngạch ký kết theo hiệp định
là 58,12 tỷ USD, tăng 4,85 lần so với 1991, vượt qua tổng kim ngạch ký kết
thời kỳ 1979 - 1991, là 52,54 tỷ USD. Kim ngạch sử dụng thực tế là 11,01 tỷ,
tăng 2,52 lần so với năm 1991. Năm 1993, số dự án đầu tư củ
a thương gia nước
ngoài lên tới 83.437 hạng mục, tăng 71,1% so với năm 1992. Kim ngạch ký kết
theo hiệp định là 111,44 tỷ USD, tăng 149,95% so với năm trước. Đồng thời nó

ế trong kim ngạch hiệp định mỗi năm là 18,9% và 24,7%, thấp
hơn so với mấy năm trước đó. Tình trạng này xẩy ra một phần do ở nhiều địa
phương đã mù quáng đưa các hạng mục đầu tư mà tiền vốn đồng bộ trong nước
kèm theo không đủ, thiết bị cơ sở hạ tầng không theo kịp, nguyên liệu, nhiên
liệu, cung ứng không đủ.
Nhìn chung, FDI những năm 1992 - 1993 tăng trưởng v
ới tốc độ cao
ở Trung Quốc. Đặc trưng cơ bản của nó là mở rộng khu vực đầu tư, mở
rộng ngành nghề, mở rộng quy mô dự án, cải thiện kết cấu đầu tư, kết cấu
ngành nghề có sự chuyển biến cao cấp hoá.

4. Giai đoạn điều chỉnh (1994 đến nay)
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

8
Trước tình trạng FDI tăng trưởng quá nóng trong giai đoạn 1992 - 1993,
từ năm 1994, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh chiến lược thu hút
FDI theo hướng:
+ Đưa tiền vốn vào từ công nghiệp gia công thông thường chuyển sang
các ngành nghề cơ sở, ngành nghề tập trung nhiều tiền vốn và kỹ thuật.
+ Từ tiếp nhận những hạng mục nhỏ chuyển sang tiếp nhận những hạ
ng
mục lớn và vừa.
+ Từ thu hút tiền vốn ngành nghề chuyển sang thu hút tiền vốn lưu thông
quốc tế.
+ Từ xây dựng doanh nghiệp mới là trọng tâm chuyển sang cải tạo
những doanh nghiệp cũ.
+ Từ việc đưa đầu tư vào đối tượng bị động chuyển sang đưa vào đối

với mức 10%/ năm.
Tuy nhiên, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vự
c
năm 1997 mà luồng vốn FDI vào Trung Quốc có sụt giảm trong hai năm 1998,
1999. Kim ngạch thực tế trong hai năm này lần lượt chỉ đạt 43,7 tỷ USD và
40,3 tỷ USD, giảm 1% và 7% so với những năm trước đó. Cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ làm giảm thực lực kinh tế của các nước trong khu vực như
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài loan, Hồng Kông, vốn là những đối tác đầu tư chủ
y
ếu của Trung Quốc (chiếm hơn 75% tổng vốn FDI). Các nước này phải giải
quyết những khó khăn nội tại nên giảm đầu tư ra nước ngoài nói chung và vào
Trung Quốc nói riêng. Trung Quốc đã tiến hành một loạt các biện pháp nhằm
tăng cường sức hấp dẫn của môi trường đầu tư như: duy trì ổn định tỷ giá đồng
NDT, duy trì tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, tiế
p tục đầu tư cải thiện cơ
sở hạ tầng, lựa chọn những hạng mục đầu tư có hiệu quả cao, nâng cao hàm
lượng khoa học kỹ thuật của các hạng mục. Nhờ vậy, từ năm 2000, FDI vào
Trung Quốc bắt đầu phục hồi trở lại mức 40,77 tỷ USD, 46,87 tỷ USD vào năm
2001, và tăng lên con số kỷ lục là 52,7 tỷ USD vào năm 2002 và theo dự đoán
trong năm 2003 sẽ đạt 60 tỷ USD. Hiện nay, có hơn 400.000 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài thuộc 180 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động ở
Trung Quốc.

II. ĐẶC ĐIỂM FDI TẠI TRUNG QUỐC

1. Nguồn vốn đầu tư
Với thị trường tiêu thụ khổng lồ và môi trường đầu tư thuận lợi, Trung
Quốc là một mảnh đất màu mỡ đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Như Lord
THU HT FDI TI TRUNG QUC V KINH NGHIM VI VIT NAM

3
6
4
9
7
32
13
23
25
15
27
67
32
185
47
41
50
52
51
246
53
43
54
117
124

tỷ USD, số vốn sử dụng thực tế đạt 46,87 tỷ USD.
Như vậy mặc dù sự kiện 11 tháng 9 có làm sụt giảm đầu tư toàn cầu
như
ng nhờ việc Trung Quốc gia nhập WTO (tháng 11 / 2001), nên đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Trung Quốc vẫn gia tăng. Với 46,84 tỷ USD tiếp nhận
được, Trung quốc đã chiếm 23% vốn FDI vào các nước đang phát triển và
chiếm 6,4% vốn FDI toàn cầu.

2. Đối tác đầu tư

Hình 2: Đầu tư chủ yếu của MNCs và Tư bản Hoa kiều (expatriates)
giai đoạn 1983 - 1997
Đơn vị: triệu USD THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

12
Nguồn:

Tỷ
trọng
1 Hồng Kông 8.008 20,69 30% 16,72 36%
2 Mỹ 2.606 7,51 11% 4,43 9%
3 Nhật Bản 2.019 5,42 8% 4,35 9%
4 Đài Loan 4.214 6,91 10% 2,98 6%
5 Hàn Quốc 2.909 3,49 5% 2,15 5%
6 Singapore 675 1,98 3% 2,14 5%
7 Đức 280 1,17 2% 1,21 3%
8 Vương quốc Anh 269 1,52 2% 1,05 2%
9 Hà Lan 114 0,97 1% 0,78 2%
10 Pháp 151 0,57 1% 0,53 1%

THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

13
Nguồn:
China Statistical Yearbook 2001Bảng 1 cho thấy bức tranh đầu tư theo các đối tác đầu tư tại Trung Quốc.
Ta thấy Hồng Kông là đối tác lớn nhất với 36% vốn FDI, tuy nhiên đang có xu
hướng giảm dần. Nếu như trong giai đoạn 1979 - 1997, lượng vốn đầu tư của
Hồng Kông vào Trung Quốc đại lục đạt khoảng 111 tỷ USD, chiếm 53% thì
năm 2001, vốn đầu tư thực tế của Hồng Kông chỉ còn chiếm 36%, v
ới 8.008 dự
án và vốn đăng ký đạt 20,68 tỷ USD.
Đầu tư của Đài Loan vào Trung Quốc thoạt nhìn chiếm con số rất khiêm

gian tới chắc chắn sẽ tăng. Tính đến hết năm 2001, đã có 40.000 công ty Đài
Loan tại đại lục, là nguồn đóng góp chủ lực cho ngân sách và tạo ra công ăn
việc làm cho 10 triệu lao động.
Từ tháng 9 / 1993, Bộ hợp tác kinh tế đối ngoại của Trung Quốc cho
phép các công ty xuyên quốc gia được đến Trung Quốc và mở rộng hơ
n phạm
vi kinh doanh với các công ty này, nhiều công ty xuyên quốc gia và tập đoàn tài
chính lớn trên thế giới đã dồn dập đầu tư vào Trung Quốc với hy vọng sẽ có
chỗ đứng lâu dài trong thị trường có tiềm năng khổng lồ này. Với phương châm
“Lấy thị trường đổi lấy kỹ thuật”, “Lấy thị trường đổi lấy vốn”, “Lấy thị trường
để phát triể
n”, Trung quốc thực thi các biện pháp linh hoạt để mở rộng thị
trường nội địa, thiết lập và cải tiến cơ chế cạnh tranh trên thị trường, cải thiện
môi trường đầu tư nên số lượng các công ty xuyên quốc gia đã tăng lên nhanh
chóng. Đáng chú ý là từ năm 1994, trong khi vốn đầu tư cam kết từ Hồng
Kông, Ma Cao, Đài Loan giảm thì đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ
,
Đức lại tăng lên ở những mức độ khác nhau. Quy mô trung bình của mỗi dự án
đều cao gấp đôi so với các dự án đầu tư từ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan vì
hầu hết đây là những công ty lớn.
Theo số liệu mới nhất của UNCTAD năm 2001, hơn 400 trong số 500
TNCs lớn nhất thế giới đã đến Trung Quốc đầu tư. Từ năm 1995 đã có 30
nhà doanh nghiệp nổi tiếng c
ủa các công ty Nhật Bản và Đức đã đầu tư
xây dựng ở Trung Quốc với tổng cộng 231 doanh nghiệp, trong đó chỉ có
25 doanh nghiệp được thành lập vào những năm 80, còn lại 80% số doanh
nghiệp chỉ đến năm 1993 mới được xây dựng. Như vậy, đa số các doanh
nghiệp có đầu tư của TNCs được thành lập từ sau 1993. Tính tới cuối năm
1996, 18 trong số 20 công ty lớn nhất của M
ỹ, 17 trong số 20 công ty lớn

của đầu tư Nhật Bản, chủ yếu do sự đình trệ của nền kinh tế Nhật, nên đến năm
1998 lượng đầu tư của Nhật chỉ bằng một nửa lượng đầu tư của Mỹ, hạ vị trí
của Nhật xuống hàng thứ ba, sau Mỹ, trong số các nhà đầu tư lớn nhất t
ại
Trung Quốc.
Ngoài Hàn Quốc và Singapore (chiếm 5% lượng vốn đầu tư thực hiện),
các nước còn lại trong 10 nước dẫn đầu về đầu tư trực tiếp tại Trung Quốc
chiếm tỷ trọng rất nhỏ, từ 1-2%. Các nước châu Âu chỉ mới thực sự gia tăng
đầu tư vào Trung Quốc trong mấy năm gần đây và việc đầu tư chủ yếu được
thực hi
ện qua các công ty xuyên quốc gia. Tuy nhiên, với việc Trung Quốc gia
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

16
nhập WTO tháng 11 / 2001, đầu tư của các nước này trong tương lai gần chắc
chắn sẽ tăng.

3. Qui mô của các dự án đầu tư

Bảng 2: Quy mô bình quân một dự án giai đoạn 1985 - 2001
Đơn vị: triệu USD
Năm Bình quân dự án Năm Bình quân dự án
1985 1,930 1994 1,714
1986 1,892 1995 2,403
1987 1,661 1996 3,0
1988 1,071 1997 2,5
1989 0,969 1998 2,54
1990 0,907 1999 2,6

ở Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao luôn nhỏ hơn mức bình quân trong giai đoạn
đầu thập kỷ 90 trở về trước. Điều này quyết định tới quy mô nhỏ các hạng mục
đầu tư nước ngoài vì Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan luôn là những đối tác đầu
tư chủ yếu củ
a Trung quốc. Quy mô một hạng mục của Ma Cao chỉ có 1,17
triệu USD, của Đài Loan đạt 0,844 triệu USD. Nguyên nhân là đầu tư của tư
bản người Hoa và Hoa kiều mang tính truyền thống gia tộc là chính. Đầu tư của
họ chủ yếu là vào những xí nghiệp vừa và nhỏ, ít vốn, phân tán, quản lý rời rạc,
phương thức kinh doanh theo kiểu truyền thống. Theo số liệu điều tra của
Trung Quốc năm 1992, nhữ
ng doanh nghiệp quy mô đầu tư dưới 1 triệu USD
thường là những doanh nghiệp gia công vừa và nhỏ, loại hình tập trung nhiều
lao động. Đối với những doanh nghiệp quy mô trên 1 triệu USD, thì có trên
80% tập trung vào ngành tập trung nhiều lao động như dệt may, giầy da, quần
áo, đồ thể thao.
Từ năm 1993, chính sách khuyến khích TNCs phù hợp với đòi hỏi của
nền kinh tế thị trường ngày càng lôi kéo nhiều TNCs đầu tư vào Trung Quốc.
Điểm n
ổi bật của các hạng mục đầu tư của TNCs là quy mô lớn hơn của tư bản
Hoa kiều rất nhiều. Đặc biệt, các hạng mục kỹ thuật cao, mới của các khu khai
thác kinh tế kỹ thuật ven biển đã nâng cao từ 10% mấy năm trước lên 30% vào
năm 1994, quy mô mỗi hạng mục tăng từ 1,8 triệu USD năm 1993 lên 2,4 triệu
năm 1995. Ở Quảng Đông, Bắc Kinh và Thượng Hả
i, các hạng mục đầu tư quy
mô lớn tăng lên rõ rệt. Trong năm 1993, ở Quảng Đông có tới 738 hạng mục
được phê chuẩn trên 10 triệu USD, tăng 527 hạng mục so với trước. Cũng cùng
năm đó ở Bắc Kinh có 202 hạng mục trên 10 triệu USD, trong đó có tới 49
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

trên cơ sở hợp đồng
8.310 8.050 3 6.060 6.500 -7
3
DN 100% vốn nước
ngoài
42.980 34.010 26 23.550 19.140 23
4
DN cổ phần đầu tư
nước ngoài
330 210 57 460 110 31,8
5 Các hình thức khác 30 350 -91 530 440 20,4
Tổng cộng 69.190 62.650 10 46.850 40.770 15

Nguồn:
China Statistical Yearbook 2001
Số liệu ở bảng 3 cho thấy hình thức đầu tư chủ yếu vẫn là các doanh
nghiệp “ba vốn”, tức là các doanh nghiệp hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

19
đồng, doanh nghiệp chung vốn (còn gọi là doanh nghiệp liên doanh) và doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài. Năm 2000, doanh nghiệp hợp tác kinh doanh,
doanh nghiệp chung vốn và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài lần lượt chiếm
12,7%; 32% và 54% vốn đăng ký và 16%; 35%; 46% tổng vốn đầu tư thực
hiện. Năm 2001, tỷ trọng này lần lượt là 12%; 25%; 62% tổng vốn đăng ký và

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

20
nhuận, gánh chịu rủi ro theo tỷ lệ đầu tư. Ở thời kỳ đầu cải cách mở cửa, hình
thức chiếm tỷ trọng chủ yếu vì được ưu đãi nhiều nhất về thuế xuất nhập khẩu
hải quan so với các hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh
nghiệp hợp tác kinh doanh và vì Trung Quốc không cho phép doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực dịch v
ụ. Tuy nhiên, hiện nay với
việc Trung Quốc mở cửa các lĩnh vực dịch vụ theo khuyến nghị của WTO,
hình thức này đang có xu hướng giảm sút, nhường chỗ cho hình thức doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài. Vốn đăng ký theo hình thức doanh nghiệp liên
doanh năm 2001 chỉ đạt 17,54 tỷ USD, giảm 12% so với mức 20,03 tỷ USD
năm 2000. Tỷ trọng của doanh nghiệp liên doanh cũng giảm từ 32% vốn đăng
ký năm 2000 xuố
ng còn 25% năm 2001.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp mà toàn bộ vốn
đầu tư do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư, xây dựng ở Trung Quốc theo luật pháp
Trung Quốc, không kể những cơ cấu chi nhánh trên lãnh thổ Trung Quốc và
các tổ chức kinh tế khác. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là pháp nhân
Trung Quốc. Loại doanh nghiệp này phát triển rất mạnh mẽ ở Trung Quốc
trong thời gian gần đây. Năm 2001, có tới 62% vốn FDI, tươ
ng đương 42,98 tỷ
USD đăng ký theo hình thức này. Tỷ trọng của hình thức này trong tổng vốn
thực hiện cũng đạt mức cao nhất so với các hình thức khác: 46% năm 2000 và
50% năm 2001. Hình thức này được các nhà đầu tư nước ngoài ưa chuộng vì
họ được toàn quyền quyết định việc quản lý sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Từ năm 1992 - 1993, bên cạnh tiền vốn ngành nghề vào Trung Quốc
theo doanh nghiệp “ba v

n 3 tỷ USD. Đầu năm 1997, Uỷ ban Chứng khoán nhà nước công bố thêm
danh sách 33 doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu B.
Từ 1995 đến nay, các doanh nghiệp nước ngoài mở rộng cổ phần và
tham gia vào thị trường chứng khoán Trung Quốc. Điều này đánh dấu hoạt
động đầu tư của nước ngoài đã bắt đầu dựa vào thị trường vốn. Hoạt động đầu
tư nước ngoài cũng bước vào giai đo
ạn đầu tư quy mô lớn, hệ thống hoá. Hình
thức doanh nghiệp cổ phần chắc chắn sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

5. Lĩnh vực đầu tư
Tính đến năm 1995, trong tổng vốn FDI vào Trung Quốc có 57,1% được
đưa vào các ngành công nghiệp, 36% vào các ngành dịch vụ, 5% vào các ngành
nông nghiệp, nghề rừng, chăn nuôi gia súc, nghề cá, bảo vệ nguồn nước. Như
vậy, các ngành công nghiệp nhìn chung vẫn thu hút được đa số vốn FDI.
THU HÚT FDI TẠI TRUNG QUỐC VÀ KINH NGHIỆM VỚI VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ THU HẢO, A1 CN9

22
Thời kỳ đầu, song song với quy mô đầu tư nhỏ thì đầu tư cũng chỉ tập
trung vào những ngành dịch vụ, chủ yếu là kinh doanh khách sạn, điểm vui
chơi giải trí, xây cao ốc, vì những lĩnh vực này dễ thu hồi vốn. Từ năm 1986,
Trung Quốc ban hành “Những quy định ưu đãi dành cho nhà đầu tư nước
ngoài” trong đó ban hành nhiều ưu đãi nếu các nhà đầu tư n
ước ngoài đầu tư
vào những lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Do vậy, đầu tư vào công nghiệp
đã tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm 1986, công nghiệp chỉ chiếm một tỷ
trọng nhỏ bé 27,7% trong tổng vốn FDI thì đến năm 1990 đã tăng lên 84,4%.
Năm 1992 và 1993, tỷ trọng này có giảm đi nhưng vẫn giữ ở mức cao là 55,3%
và 45,9%. Thời kỳ này, đa số đầu tư tậ

các ngân hàng này huy động được đã lên tới 3 tỷ USD tiền gửi và đã cho vay
gần 30 tỷ USD, trong đó trên 90% là cho vay trong nước. Trung Quốc cũng cho
phép các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh tiền tệ và ngoại thương.
Đầu tư vào bất động sản tăng cực k
ỳ nhanh, tỷ lệ so với tổng số từ 6,9%
năm 1986 lên 30,6% và 39,3% trong các năm 1992 và 1993. Trong năm 1994,
nhiều dự án bất động sản phải chịu thua lỗ nặng nề. Đến nửa đầu năm 1995, tỷ
lệ vốn đầu tư vào ngành này chỉ còn 26 %.
Nông nghiệp thu hút được ít vốn đầu tư nhất với mức tỷ lệ bình quân trên
tổng lượng FDI là dưới 3%. Gần đây, nhờ những chính sách khuyến khích
đầu
tư nhiều hơn vào nông nghiệp mà tỷ trọng đầu tư vào ngành này có xu hướng
tăng lên, đạt 5% vào năm 1995.

6. Địa bàn đầu tư
Thời kỳ đầu, FDI tại Trung Quốc chủ yếu đến từ tư bản người Hoa và Hoa kiều
ở Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao nên địa điểm lý tưởng nhất cho đầu tư của họ
là vùng ven biển Đông Nam. Nơi đây giao thông thuận tiện, đượ
c chính phủ
Trung Quốc ưu tiên chọn làm trọng điểm đầu tư và quan trọng hơn, nơi đây
chính là quê hương của phần lớn bà con Hoa kiều. Trong vùng này, 5 tỉnh
thành gồm Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tô, Sơn Đông và Thượng Hải có
mức độ tập trung cao nhất. Năm 1992, 1993, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào 5
tỉnh thành này chiếm 70,8% và 66,2% FDI cả nước. Cho đến nay, những thành
phố ven biển vẫn là nơi t
ập trung FDI lớn nhất. Năm 1998, lượng vốn FDI vào
14 thành phố ven biển chiếm tới 88% tổng lượng FDI của cả nước.
Khu vực rộng lớn nhưng lại thu hút lượng FDI ít hơn cả là vùng sâu
trong nội địa. Trong nhiều năm, tỷ trọng FDI vào vùng này chỉ chiếm trên dưới
10% trong tổng lượng FDI cả nước. Nhằm hạn chế bớt sự chênh lệch về phân

Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Mỹ và người ta dự
đoán quy mô của thị trường này sẽ vượt Mỹ vào năm 2020. Theo tạp chí
Econosystem số ra ngày 23 / 7 / 2001, Trung Quốc duy trì được mức tăng
trưởng GDP bình quân mộ
t năm khá cao 10,1% trong suốt mười năm từ 1991
đến 2000 và mức tăng trưởng trung bình là 9,7% kể từ 1980. Cho đến nay,
tương ứng với các thời kỳ, Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng
trưởng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status