tiểu luận vấn đề môi trường trong kinh doanh quốc tế - Pdf 14

QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI DU LỊCH

TIỂU LUẬN MÔN:
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
TÊN ĐỀ TÀI:
CÁC VẤN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ

GVHD : T.s Mai Thanh Hùng
Lớp học phần :
Nhóm : 12
TP.Hồ Chí Minh tháng 6 năm 2014
Nhóm 12 Trang 1

QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Môi trường là tổng hợp tất cả điều kiện xung quanh một điểm trong không gian và
thời gian. Môi trường là tổng hợp tất cả các ngoại lực, ảnh hưởng, điều kiện tác động
lên đời sống, tính chất, hành vi và sự sinh trưởng, phát triển và trưởng thành của các cơ
thể sống.
Môi trường bao gồm 4 thành phần
Khí quyển: khí quyển là lớp khí bảo vệ bao quanh trái đất bao gồm nitrogen, oxygen,
ngoài ra còn có argon, CO2, và một số loại khí khác.
- Nó duy trì sự sống trên trái đất
- Nó bảo vệ trái đất khỏi những tác động từ ngoài không gian
- Nó hấp thu các tia từ vũ trụ và phần lớn bức xạ ánh sáng mặt trời
- Nó chỉ cho phép các tia có bước sóng từ 300 – 2500 nm và 0.14 – 40 m (sóng radio)
đi vào trái đất trong khi lọc hầu hết các sóng tử ngoại có hại (< 300 nm)
Thủy quyển: thủy quyển bao gồm tất cả các loại nguồn nước như: nước đại dương,
sông hồ, nước đóng băng, nước ngầm
- 97% là nước ở các đại dương
- 2% là nguồn nước bị đóng băng ở các cực
- 1% là nước ngọt ở các sông hồ, nước ngầm phục vụ cho nhu cầu con người và các
nhu cầu khác.
Địa quyển: là lớp đất ở võ của trái đất bao gồm các khoáng chất, chất hữu cơ, vô cơ…
Nhóm 12 Trang 3
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
Sinh quyển: Bao gồm tất cả các sinh vật sống và tương tác với môi trường khí, nước
và đất.
1.1.2 Tình trạng ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường đô thị,
công nghiệp và các làng nghề. Ô nhiễm môi trường có tác động xấu đối với sức khoẻ
con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hô hấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái
và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưa axít và suy giảm tầng ôzôn), Công
nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triển thì nguồn thải gây ô nhiễm môi
trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng không khí theo chiều

Bên cạnh sự thay đổi khí hậu toàn cầu, ô nhiễm khí quyển thì một trong những báo
động cấp thiết của các tổ chức bảo vệ môi trường đối với các chính phủ là báo động về
sự suy kiệt nguồn nước. Nạn khan hiếm nguồn nước sạch do ô nhiễm môi trường dẫn
đến làm hỏng các nguồn nước đang đe dọa hoạt động sản xuất nông nghiệp và sức
khỏe của con người ở nhiều quốc gia trên thế giới. Thiếu nước sạch cũng là nguyên
nhân chính gây ra cái chết của 12 triệu người mỗi năm.Môi trường suy thoái, các dạng
tài nguyên đang cạn kiệt đã làm giảm tính đa dạng sinh học của trái đất, trực tiếp vi
phạm quy luật phát triển của tự nhiên.
Đối với Việt Nam, mặc dù nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa và công nghiệp
hóa chỉ mới thực sự bắt đầu, song môi trường sống của người dân trên khắp đất nước
đã phỉ gánh chịu không ít những tác động tiêu cực của sự phát triển. Nhìn tổng thể,
thực trạng môi trường tự nhiên ở nước ta đang đặt ra các vấn đề chủ yếu như: Các
nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất, nước ngọt, khoáng sản…đang suy giảm
nhanh, khan hiếm dần hoặc cạn kiệt; Môi sinh bị ô nhiễm và ô nhiễm nặng bởi các
chất thải sinh hoạt, các chất thải công nghiệp và các chất thải hóa học bị lạm dụng
trong sản xuất nông nghiệp…Các sự cố môi trường do thiên tai và do con người gây ra.
Tác giả bài viết cho rằng tình trạng ô nhiễm môi trường, suy kiệt các nguồn tài nguyên
thiên nhiên ở nước ta không phải bây giờ mới xuất hiện mà nguyên nhân là do chính
sách khai thác tự nhiên từ trong quá khứ và đặc biệt là hậu quả của hàng chục năm
chiến tranh. Thêm nữa là do sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho con người khai thác
và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và tàn phá môi trường.
1.1.3 Các tác động của con người đến môi trường
Nhóm 12 Trang 5
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
Nhân loại sinh tồn và phát triển phải dựa vào môi trường địa lý, trong quá trình
sinh sống và sản xuất của loài người, cũng thường xuyên ảnh hưởng đến môi trường tự
nhiên. Tùy theo sự phát triển của lịch sử và sức sản xuất xã hội nâng cao, loài người
càng ảnh hưởng sâu sắc đối với môi trường tự nhiên, và ảnh hưởng bất lợi cho con
người gây ra đối với môi trường tự nhiên cũng càng nhiều.

cầu sử dụng các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu ngày càng nhiều, đòi hỏi việc khai thác
các nguồn tài nguyên ngày càng mở rộng, các nhà máy mọc lên ngày một nhiều, lượng
khí thải và các chất thải công nghiệp thải ra môi trường ngày càng lớn. Đó là nguồn
gốc gây ra những tác động to lớn đối với môi trường.
Việc khai thác các mỏ quặng là tác nhân gây phá hủy các cảnh quan tự nhiên, đất đai,
cây rừng và hệ động vật sống trong các khu vực đó. Việc tăng cường sử dụng các
nguồn nhiên liệu mà chủ yếu là nguyên liệu truyền thống không những làm cho tài
nguyên bị cạn kiệt mà còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hàng năm các ngành
sản xuất công nghiệp thải ra khí quyển một lượng lớn các chất gây hiệu ứng nhà kính,
trong đó chủ yếu là hàm lượng CO¬2, ngoài ra sự phát thải các khí khác như metan,
CFC (clorofluorocacbon), oxit nitơ…cũng góp phần làm tăng hiệu ứng nhà kính.
Trong các hoạt động kinh tế làm tăng hiệu ứng nhà kính thì việc sử dụng năng lượng
chiếm 49%, công nghiệp 24%, nông nghiệp 13% và phá rừng là 14%. Trong đó các
nước công nghiệp phát triển chính là những nước phát thải CO2 nhiều nhất thế giới.
Hoa Kì là một trong những nước phát thải lớn nhất các loại khí gây hiệu ứng nhà kính,
nhưng chính phủ Hoa Kì lại không tham gia kí Nghị định thư Kyôtô.
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đặc biệt là một số nước
công nghiệp mới nên lượng phát thải khí thải và các chất thải gây hiệu ứng nhà kính
ngày càng tăng cao, gây ra các biến đổi theo chiều hướng tiêu cực của môi trường tự
nhiên.
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, thì đô thi hóa cũng phát triển nhanh chóng.
Đô thị hóa là hiện tượng nổi bật của nền văn minh hiện đại do sự phát triển của công
nghiệp và sự bùng nổ dân số trên toàn thế giới. Tại các vùng đô thị, thiên nhien hầu
như bị biến đỏi hoàn toàn và thay thế vào đó là các công trình nhân tạo. Các thành phố
không những là nơi tập trung dân cư đông, mà cũng là nơi tập chung nhiều nhà máy, xí
nghiệp công nghiệp, vì thế một mặt đây là nơi tiêu thụ lương thực, thực phẩm, vật liệu
xây dựng, nguồn nước và năng lượng rất cao. Mặt khác, đây là nơi tập chung các chất
thải công nghiệp, sinh hoạt và tiếng ồn, nguồn gốc gây ô nhễm mạnh cho môi trường
không khí, đất và nước.
Nhóm 12 Trang 7

Nhóm 12 Trang 8
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
Ngoài ra, việc áp dụng các phương tiện máy móc hiện đại vào sản xuất là nguyên nhân
tiềm tàng làm phá vỡ kết cấu của đất, lâu dài sẽ làm cho chất lượng đất bị suy giảm.
1.3.1.1.3 Ảnh hưởng của quá trình bùng nổ dân số.
Theo các công trình nghiên cứu, từ giữa thế kỉ thứ XX trở lại đây, dân số thế giới ngày
càng tăng nhanh. Vào năm 1950 tổng dân số thế giới là 2508 triệu người, và từ đó trở
đi số dân tăng trung bình hàng năm qua các thập niên với thời gian sau cao hơn thời
gian trước. Cụ thể như sau:
1950 – 1960: 50,2 triệu người
1960 – 1970: 62,2 triệu người
1970 – 1980: 78,3 triệu người
1980 – 1990: 87,8 triệu người
Nếu tính khoảng thời gian dân số thế giới tăng thêm 1 tỷ người hoặc tăng thêm
gấp đôi thì đều ngày càng rút ngắn lại.
Khoảng thời gian để dân số tăng thêm 1 tỷ người và thời gian để dân số tăng gấp
đôi.
Sự tăng nhanh dân số trong một khoảng thời gian ngắn như vậy được gọi là sự
bùng nổ dân số. Tuy nhiên, sự bùng nổ dân số trong thế kỉ XX xảy ra chủ yếu ở các
nước đang phát triển.
Khi dân số tăng lên, các nhu cầu về ăn mặc, nơi ở, việc đi lại, học hành, vui chơi
giải trí…đều tăng lên. Để đáp ứng các nhu cầu đó, con người phải tăng cường khai thác
tài nguyên thiên nhiên, cùng với nó là việc phát triển sản xuất và đô thị hoá cũng được
mở rộng, làm cho lượng chất thải đổ vào môi trường ngày càng tăng.
1.3.1.1.4 Diện tích và chất lượng rừng ngày càng suy giảm.
Rừng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, trong đời sống xã hội
và việc bảo vệ môi trường sinh thái. Nhưng trong những năm qua diện tích và chất
lượng rừng trên thế giới ngày càng bị suy giảm. Nguyên nhân là do tình trạng khai thác
quá mức của con người. sự suy giảm đó được thể hiện qua một số bảng số liệu sau.
Như vậy trung bình mỗi năm trên thế giới có khoảng 9,5 triệu ha rừng bị phá hủy.

những gì mà mình gây ra, nhưng những cố gắng đó là vẫn chưa đủ.
Cho nên, để loài người được sinh tồn tốn hơn, xã hội nhân loại phát triển một
cách bình thường, cần phải bảo vệ môi trường tự nhiên, giữ vững cân bằng sinh thái,
đó là nhiệm vụ chung của toàn thể loài người
1.2. Hoạt động kinh doanh quốc tế tác động đến môi trường.
Nhóm 12 Trang 10
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
Toàn cầu hoá và hội nhập vào nền kinh tế thế giới không còn là xu thế, mà đã trở thành
một thực tế đối với tất cả các nước, từ giàu đến nghèo, từ lớn đến nhỏ. Hội nhập quốc
tế, mà biểu hiện quan trọng nhất là các hoạt động kinh doanh quốc tế sẽ trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống, cả kinh tế, chính trị, khoa học công
nghệ, văn hóa, xã hội, giáo dục, an ninh và quốc phòng , đặc biệt là vấn đề môi trường
của bất kỳ quốc gia nào, trong đó có Việt Nam.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại nhiều lợi ích cả về kinh tế và về môi trường
đối với mọi quốc gia, đặc biệt là với các nước đang phát triển như Việt Nam. Song, quá
trình hội nhập cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với vấn đề bảo vệ môi trường
(BVMT), đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ để có những biện pháp chủ động đối phó.
1.2.1. Tích cực
 Đem lại cơ hội cho các nước tham gia các nhóm chuyên đề về môi trường của
các tổ chức kinh tế quốc tế, từ đó có thể thu nhận thông tin, kiến thức về
BVMT, nhận thức được mối liên hệ và tác động qua lại giữa thương mại quốc tế
và môi trường, học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong việc xử lý hài hòa giữa lợi ích
kinh tế của thương mại quốc tế và BVMT với mục tiêu phát triển bền vững.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều nước đã và đang phát triển phải trả giá đắt
cho quá trình công nghiệp hóa trước đây, mà không chú trọng đúng mức đến
BVMT. Điển hình là các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước, không khí do các chất
thải không được xử lý hoặc xử lý không đúng cách và vấn đề cạn kiệt tài nguyên
do khai thác quá mức cho phép.
 Đem đến cơ hội cho các nước nghèo, đang phát triển tiếp thu công nghệ cao,
công nghệ sạch hơn và công nghệ ít phát sinh chất thải. Ví dụ, trong những năm

khai thác bừa bãi các nguồn tài nguyên tái tạo sẽ gây nguy cơ cạn kiệt nguồn tài
nguyên và gây ô nhiễm môi trường ở nước ta
 Hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cơ hội cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản
xuất nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường quốc tế, nhưng cũng có thể gia
tăng các tác động bất lợi đến môi trường, chẳng hạn, sản xuất phát triển mạnh,
trong khi máy móc thiết bị lạc hậu và doanh nghiệp chưa có ý thức xử lý chất
thải công nghiệp, thì mức độ ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng trầm trọng (ô
nhiễm nước, không khí ; Công ty Vedan là một ví dụ điển hình). Mặt khác, các
Nhóm 12 Trang 12
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
ngành nông nghiệp như trồng trọt và chăn nuôi cũng có nhiều cơ hội để sản xuất
thâm canh, gia tăng sản lượng nhưng cũng có thể dẫn đến nguy cơ phá huỷ tài
nguyên thiên nhiên, thoái hoá môi trường đất do khai thác, trồng trọt và chăn
nuôi bất hợp lý, lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu
 Việc nhập khẩu của các nước nghèo như Việt Nam chủ yếu là nguyên liệu và
công nghệ mà trong nước không có, nhưng chưa phải là công nghệ hiện đại nhất
và chủ yếu từ thị trường các nước trong khu vực: nhập khẩu từ các nước Châu Á
chiếm hơn 75% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, do công nghệ của các
nước phương Tây thường có giá thành cao. Do trình độ quản lý và kỹ thuật của
Việt Nam còn hạn chế, nên đã có nhiều trường hợp nhập khẩu cả những công
nghệ lạc hậu (mà nước xuất khẩu không còn sử dụng nữa) hoặc nhập khẩu
những loại động vật, hàng hoá gây tác động tiêu cực cả về kinh tế và môi
trường (như trường hợp nhập ốc bươu vàng, rùa tai đỏ, lúa năng suất thấp, giống
cây không trái ).
 Do trình độ công nghệ và kỹ thuật của doanh nghiệp còn thấp, cộng thêm trình
độ của cán bộ quản lý còn hạn chế, nên các nước nghèo khó có thể đưa ra được
những quy định có lợi để kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động nhập
khẩu và đầu tư gây ra. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả môi trường
nghiêm trọng mà họ phải gánh chịu. Mặt khác, việc thiếu hiểu biết về luật lệ
quốc tế và những quy định về môi trường trong các hiệp định thương mại quốc

hành và kiểm tra vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa có quy định pháp luật cụ thể,
cũng như chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao cho nên một số KCN không vận
hành các trạm xử lý nước thải liên tục.
Về khí thải: Mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện nhưng trang thiết bị phục
vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của
khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh. Chất lượng môi trường không khí tại
các KCN, đặt biệt là các KCN được thành lập trên cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn
với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải đang bị
suy giảm. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất
của các KCN cũng là vấn đề cần được quan tâm. Cụ thể như các đơn vị chế biến thủy
sản, sản xuất hóa chất đang gây ô nhiễm tại chính các cơ sở sản xuất đó và đã tác động
không nhỏ đến sức khỏe người lao động.
Nhóm 12 Trang 14
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
Về chất thải nguy hại và chất thải rắn: Một số doanh nghiệp trong KCN, KCX không
thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây
ô nhiễm cục bộ. Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất
thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong KCN, KCX, nên chất thải nguy hại
không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ về ô nhiễm môi trường.
Về chất thải rắn, tại một số KCN, KCX, chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử
lý, vì vậy, khó khăn trong việc thu gom, xử lý. Một số doanh nghiệp trong KCN, KCX
tự lưu giữ và xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn.Ở một số địa phương, việc thực hiện ủy
quyền cho BQL các KCN, KKT trong quản lý môi trường chưa triệt để. Do vậy, nảy
sinh một số vấn đề như: cơ quan này cấp phép về môi trường trong khi cơ quan khác là
đơn vị kiểm tra (ví dụ: UBND huyện cấp cam kết bảo vệ môi trường, BQL các KCN,
KCX, KKT kiểm tra việc thực hiện cam kết); việc kiểm tra về môi trường chồng chéo
và không hiệu quả.
Ý thức doanh nghiệp trong KCN, KCX, KKT về bảo vệ môi trường đã được cải
thiện. Tuy nhiên, việc đầu tư cho công tác môi trường làm tăng chi phí hoạt động của
doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận đạt được. Do vậy, tại một số nơi, việc

 Năm 2013, Nhà máy tái chế chất thải ngành luyện kim của Công ty TNHH Khai
thác, Chế biến, Xuất nhập khẩu khoáng sản Việt Nam chi nhánh Hải Dương
không tuân thủ đúng các quy định về môi trường do nhà nước ban hành, nhà
máy hoạt động sản xuất khi chưa có đủ giấy phép của các cơ quan quản lý nhà
nước về môi trường.
 Thời gian gần đây, Công ty cổ phần Vinamit (ấp 1, xã Tân Định, huyện Bến
Cát, tỉnh Bình Dương) thường xuyên xả nước thải gây ô nhiễm môi trường. Gặp
khi trời mưa lớn, các chất thải này tràn qua tường rào, chảy vào nhà dân làm
Nhóm 12 Trang 16
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
chết cả cây, cỏ Mùi hôi thối từ công ty bốc ra gây khó chịu cho bà con cả khu
vực ấp.
2.2 Công ty nước ngoài tác động đến môi trường:
Hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy
mạnh sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của thị trường quốc tế đồng thời thu hút
các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tai Việt Nam nhưng cũng có thể gia tăng các tác
động bất lợi đến môi trường, chẳng hạn, sản xuất phát triển mạnh, trong khi máy móc
thiết bị lạc hậu và doanh nghiệp chưa có ý thức xử lý chất thải công nghiệp, thì mức độ
ô nhiễm môi trường sẽ ngày càng trầm trọng (ô nhiễm nước, không khí ; Công ty
Vedan là một ví dụ điển hình). Mặt khác, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong khi
khuôn khổ luật pháp của Việt nam chưa hoàn thiện, thực hiện pháp luật chưa nghiêm đi
kèm với năng lực quản lý và giám sát thực hiện luật hạn chế, đã và sẽ dẫn đến một số
hoạt động ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Việc áp dụng các chính sách, công cụ
kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế là không dễ đặc biệt là
đố với các doanh nghiệp nước ngoài bởi có thể nói vai trò kinh tế của họ có thể gây sức
ép đối với chính phủ trong việc xử lý các vấn đề về môi trường
Các doanh nghiệp nước ngoài có cai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của mỗi
quốc gia. Bên cạnh những doanh nghiệp có ý thức tốt trong vấn đề bảo vệ môi trường
của quốc gia sở tại thì không ít nhũng doanh nghiệp chỉ vì thấy cái lợi trước mắt mà bỏ
qua vấn đề về môi trường. Điển hình một số doanh nghiệp tại Việt Nam trong những

Phạm Quang Tú - Phó Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển (CODE) cho rằng việc
doanh nghiệp kêu như vậy là do doanh nghiệp cứ kêu lên hòng có lợi.
Danh sách các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về môi trường 2009 do Sở tài
nguyên & môi trường TP.HCM công bố:
STT
Công ty/Doanh
nghiệp
Ngành
nghề
Hành vi vi phạm
1
TNHH Strongman –
KCX Tân Thuận
Sản xuất
xe đạp
Chưa xử lý triệt để bụi thải.
Nước thải khâu sơn, đánh bóng không
xử lý
Hệ thống thoát nước mưa và nước
thải chưa tách rời, đấu nối chung vào
hệ thống thu gom của KCX. Các
miệng xả nước mưa đều bị bít kín.
2
TNHH Always –
KCX Tân Thuận
Sản xuất
xe đạp
3
TNHH Yesum Vina
– KCX Linh Trung

Shyang – KCN Lê
Minh Xuân
Buloong,
ốc vít
Nước thải công đoạn xi mạ, xử lý
không hiệu quả, vượt tiêu chuẩn xả
thải. Nước thải vẫn còn thoát vào hố
ga nước mưa. Chưa thực hiện quy
định về quản lý chất thải nguy hại.
6
TNHH XK Thực
phẩm Diệp Long –
KCN Tân Tạo
Thủy hải
sản
Nước thải chế biến thủy sản, trạm xử
lý nước thải không vận hành, nước
thải không đạt tiêu chuẩn quy định
(vượt tiêu chuẩn >10 lần).
7
TNHH Tân Anh Thể
– KCN Tân Tạo
Buloong,
ốc vít
Chưa thực hiện quy định về quản lý
chất thải nguy hại (dầu nhớt còn thoát
nhiều vào hố ga thu gom nước thải).
8
TNHH KD Thủy sản
Trung Dũng – KCN

11
Công ty CP Hải Sản
SG – KCN Tân Tạo
Thủy hải
sản
Trạm xử lý nước thải vận hành không
hiệu quả, nước thải không đạt tiêu
chuẩn quy định.
2.3 Các đạo luật về bảo vệ môi trường trong kinh doanh
Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan
trọng và ưu tiên bậc nhất đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Mối quan hệ giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường cũng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan
tâm, thể hiện thông qua việc tích cực tham gia gần 20 công ước quốc tế về bảo vệ môi
trường và tiến hành chuyển hóa những nội dung này vào pháp luật Việt Nam trong các
Nhóm 12 Trang 19
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
văn bản quy phạm pháp luật như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và phát triển
rừng, Luật Đất đai,
2.3.1 Các Công ước quốc tế về Bảo vệ môi trường
Công ước quốc tế là văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều bị
cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó, do một nhóm nước thoả thuận và
cùng cam kết thực hiện, nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự
hợp tác trong các nước thành viên.
Công ước quốc tế có hiệu lực trọn vẹn với các nước thành viên, nhưng cũng có tác
động rất lớn đối với các nước trong khu vực chưa tham gia công ước.
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường. Việt Nam đã tham
gia các Công ước quốc tế về môi trường sau đây (ngày tham gia ở trong ngoặc):
1. Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế, 1944.
2. Thoả thuận về thiết lập Uỷ ban nghề các Ấn Độ dương - Thái bình dương, 1948.
3. Hiệp ước về Khoảng không ngoài vũ trụ, 1967.

2.3.1 Các đạo luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam:
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản lý bảo
vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có trách nhiệm
tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến
kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật bảo vệ môi trường của
Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Tổ
chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi
trường, có quyền và trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường”.
Luật Bảo vệ môi trường (2005):
Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kinh
doanh quốc tế theo Điều 7 như:
3. Khai thác, kinh doanh, tiêu thụ, sử dụng các loài thực vật, động vật hoang dã quý
hiếm thuộc danh mục cấm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
8. Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện không đạt tiêu chuẩn môi trường.
9. Nhập khẩu, quá cảnh chất thải dưới mọi hình thức.
10. Nhập khẩu, quá cảnh động vật, thực vật chưa qua kiểm dịch; vi sinh vật ngoài danh
mục cho phép.
Nhóm 12 Trang 21
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
11. Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh
thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá tiêu
chuẩn cho phép.
Theo Điều 35 của Luật này, trách nhiệm bảo vệ môi trường của tổ chức, cá nhân trong
họat động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bao gồm:
1. Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
2. Thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nêu trong báo cáo đánh giá tác động môi
trường đã được phê duyệt, bản cam kết bảo vệ môi trường đã đăng ký và tuân thủ tiêu
chuẩn môi trường.
3. Phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường từ các hoạt động của

trường cần thiết;
c) Xử lý bằng các hình thức khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính;
d) Trường hợp có thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc gây ô nhiễm môi trường thì còn phải bồi
thường thiệt hại theo quy định tại mục 2 Chương XIV của Luật này hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự.
2. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì ngoài
việc bị xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này, còn bị xử lý bằng một trong các biện
pháp sau đây:
a) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường theo quy
định tại Điều 93 của Luật này;
b) Buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi
trường;
c) Cấm hoạt động.
Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi
trường còn có các đạo luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành tố môi trường (còn gọi là các
đạo luật, pháp lệnh về tài nguyên). Cụ thể, đó là các đạo luật, pháp lệnh như: Luật Bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2003 (được sửa đổi, bổ sung năm
2013); Luật Thủy sản năm 2003; Luật Dầu khí năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm
2000); Luật Tài nguyên nước năm 1998; Luật Khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ
sung năm 2005) v.v.
Ngoài ra, quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường hoặc nghĩa vụ tuân thủ các quy định
của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân còn nằm rải rác trong
Nhóm 12 Trang 23
QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD: TS.Mai Thanh Hùng
nhiều đạo luật khác. Trong số đó phải kể đến: Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Đầu
tư năm 2005; Luật Đấu thầu năm 2005; Bộ luật Hàng hải năm 2005; Luật Du lịch năm
2005; Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004; Luật Xây dựng năm 2003; Luật
Biên giới quốc gia năm 2003; Luật Hải quan năm 2001; Luật Khoa học và Công nghệ

bình dương, 1948.
• Hiệp ước về Khoảng không ngoài vũ trụ, 1967.
• Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là
nơi cư trú của các loài chim nước (RAMSAR), 1971 (20/9/1988).
• Nghị định thư bổ sung công ước về các vùng ngập nước có tầm quan trọng, đặc
biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, Paris, 1982.
• Công ước liên quan đến Bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (19/10/1982).
• Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hoá học, vi trùng và
công việc tiêu huỷ chúng.
• Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe
dọa, 1973 (20/1/1994).
• Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/8/1991).
• Công ước của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường (26/8/1980).
• Nghị định thư chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột
vũ trang.
• Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (25/7/1994).
• Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng, FAO, 1985.
• Công ước Viên về bảo vệ tầng ô-zôn, 1985 (26/4/1994).
• Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân, IAEA, 1985 (29/9/1987).
• Công ước về trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ,
1986, IAEA (29/9/1987).
• Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn, 1987 (26/1/1984).
• Bản bổ sung Luân đôn cho công ước, Luân đôn, 1990.
Nhóm 12 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status