Tiểu luận : Môi trường văn hoá,môi trường chính trị,pháp luật trong kinh doanh quốc tế. - Pdf 57

Báo cáo chuyên đề
Chuyên đề 1:Môi trường văn hoá,môi trường chính trị,pháp luật trong kinh doanh quốc tế.

Trong xu hướng toàn cầu hoá,một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường
quốc tế phải đối mặt với vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình.
Trong những yếu tố đó văn hoá, chính trị và luật pháp là những vấn đề đáng quan
tâm . Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ
thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu về văn hoá hay các chính sách, các luật
lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu cũng bị ảnh hưởng
của nền văn hoá quốc gia và hệ thống luật pháp,các chính sách của chính phủ nước
đó. Vì vậy,ta phải có những hiểu biết rõ ràng về môi trường văn hoá,chính trị,pháp
luật trong kinh doanh quốc tế trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm
giảm bớt những rủi ro gặp phải.
Kinh doanh quốc tế luôn tiền ẩn nhiều rủi ro.
1,Môi trường văn hoá:
Khi tham gia kinh doanh quốc tế, các công ty thường phải đối mặt với việc đưa ra quyết
định có liên quan đến tiêu chuẩn hóa hay thích nghi hóa. Việc này sẽ có liên quan đến việc
điều chỉnh sản phẩm và hoạt động của họ cho phù hợp với những điều kiện địa phương .
Vậy văn hoá là gì? Và vì sao phải cần thiết nghiên cứu văn hoá địa phương?
Trước khi giải quyết vấn đề này ta hãy đến với câu chuyện của Disney tại Pháp.
Cho tới năm 1992 Walt Disney Company luôn thành công với các công viên chủ đề
Disneyland ở Anaheim, California (1955), ở Florida (1970) và ở Tokyo (1983). Sau thành
công ở Tokyo, năm 1986 những người điều hành Disney nhắm tới Paris, trung tâm văn hóa
và lối sống châu Âu. Khi mới nghe phong phanh ý định mở một công viên chủ đề khác của
Disney, hơn 200 địa phương trên toàn thế giới đã đề nghị Disney đặt công viên tại thành
phố quê hương mình. Paris đã được chọn vì hơn 17 triệu dân châu Âu sống trong vòng bán
kính hai giờ xe hơi tới Paris, 310 triệu người khác có thể bay tới đó trong quãng thời gian
đó trở xuống. Hơn nữa, chính phủ Pháp đã lôi kéo Disney bằng đủ mọi biện pháp khuyến
khích với tổng giá trị hơn 1 tỷ USD vì hy vọng rằng dự án sẽ tạo ra khoảng 30.000 chỗ làm
cho người Pháp.
Cuộc đàm phán với chính phủ Pháp bắt đầu từ cuối năm 1986 đã tiến triển với tốc độ làm

Ngay cả đối với đội ngũ nhân viên, việc Disney phớt lờ văn hoá châu Âu và những chuẩn
mực làm việc của Pháp đã gây thêm nhiều vấn đề nữa. Công ty này, vốn rất tự hào về
ngoại hình sạch bong kiểu Mỹ của nhân viên, đã đưa ra một quy định ngặt nghèo về trang
phục cho nhân viên bản địa, mày râu nhẵn nhụi, áp đặt độ dài tối đa của móng tay, hạn chế
kích thước của khuyên tai. Nhân viên và công đoàn đã phản đối quy định này, coi đó là sự
can thiệp trang phục thường ngày của người Pháp. Tinh thần mọi người đều bị sụt giảm.
Chỉ trong vòng chín tuần đầu tiên với khoảng 1.000 nhân viên ( chiếm 10% tổng số) đã bỏ
việc. Họ nói rằng việc huấn luyện cứ như là “tẩy não” và mấy người Mỹ chẳng hiểu gì về
người châu Âu cả. tuy nhiên vấn đề lớn nhất của Euro Disneyland là người châu Âu dường
như chỉ coi công viên là nơi đi chơi trong ngày chứ không phải chốn nghỉ ngơi nên họ
thường chỉ ở 1 – 2 ngày. Trong khi đó Disney dự tính khách đến nghỉ dài ngày nên đã đầu
tư hàng tỷ USD xây những khách sạn sang trọng gần công viên và hầu như lúc nào khoảng
một nửa số phòng khách sạn là trống. số khách tham quan người Pháp cũng không đông
như Disney dự tính : năm 1994 chỉ chiếm 40% trên tổng số. nhiều khách du lịch lại là
người Mỹ sống ở châu Âu và người Nhật đi nghỉ ở châu Âu !
Kết quả là tính đến cuối năm 1994, Euro – Disneyland lỗ tổng cộng 2 tỷ USD.
Vậy nguyên nhân dẫn đến những thất bại của Disney tại Pháp là gì?
Một nhà phân tích chứng khoán Mỹ chuyên theo dõi công ty này nói rằng “bình thường
Disney không mắc quá nhiều chi tiết sai lầm như thế, có lẽ rốt cuộc thì thế giới không hoàn
toàn nhỏ như người ta vẫn nói. Sự thiếu nhạy cảm về mặt văn hóa của công ty đã khiến họ
phải tốn rất nhiều tiền và mất đi thiện chí. Tôi nghĩ đây là một lời nhắc nhở tốt cho bất kỳ
công ty hay cá nhân nào làm ăn kinh doanh ở nước ngoài- hiểm hoạ thường nằm trong
những chi tiết văn hóa. Chúng có thể khiến bạn thành công hay thất bại”. Đối với Disney
cuối cùng thì rồi mọi việc cũng kết thúc tốt đẹp. Sau khi thực hiện một số “điều chỉnh văn
hóa” lớn, EuroDisney không còn bị thua lỗ nữa.
Rốt cuộc Văn hóa là gì? Thế nào là văn hóa và nền văn hóa?
* Văn hóa là một phạm trù dùng để chỉ các giá trị, tín ngưỡng, luật lệ và thể chế do một
nhóm người xác lập nên. Văn hóa là bức chân dung rất phức tạp của một dân tộc. Nó bao
hàm rất nhiều vấn đề như: chủ nghĩa cá nhân ở Mỹ, cúi chào ở Nhật Bản, mặc quần áo ở
Arập- Xêút…Các nội dung chính của bất kỳ nền văn hóa nào cũng bao gồm thẩm mỹ, giá

trọng khi công ty kinh doanh trong nền văn hóa đó. Điều đó càng trở nên quan trọng hơn
khi công ty hoạt động ở nhiều nền văn hóa khác nhau.
Các thành tố của văn hóa
a. Thẩm mỹ
Thẩm mỹ là những gì một nền văn hóa cho là đẹp khi xem xét đến các khía cạnh
như nghệ thuật (bao gồm âm nhạc, hội họa, nhảy múa, kịch nói và kiến trúc); hình ảnh thể
hiện gợi cảm qua các biểu hiện và sự tượng trưng của các màu sắc.
b. Giá trị và thái độ
* Giá trị
Là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm của con
người. Các giá trị bao gồm những vấn đề như trung thực, chung thủy, tự do và trách nhiệm.
Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng đến ước muốn vật
chất và đạo đức nghề nghiệp của con người
* Thái độ
Là những đánh giá, tình cảm và khuynh hướng tích cực hay tiêu cực của con người
đối với một khái niệm hay một đối tượng nào đó.
Ví dụ, một người Mỹ thể hiện thái độ nếu họ nói: “ Tôi không thích làm việc cho
công ty Nhật vì tại đó tôi không được ra quyết định một cách độc lập”. Thái độ phản ánh
các giá trị tiềm ẩn. Trong trường hợp này, thái độ của người Mỹ xuất phát từ sự coi trọng
tự do cá nhân.
- Thái độ đối với thời gian
Người dân ở nhiều nước Mỹ- Latinh và khu vực Địa Trung Hải thường không coi
trọng vấn đề thời gian. Các kế hoạch của họ đều khá linh hoạt, họ thích hưởng thụ thời
gian hơn là tiêu tốn nó cho những kế hoạch cứng nhắc. Ngược lại, đối với người Mỹ, thời
gian chính là nguồn của cải quý giá giống như nước và than đá, những thứ mà con người
có thể sử dụng tốt và cũng có thể sử dụng không tốt: “Thời gian là tiền bạc”, “Cuộc đời
bạn chỉ có từng ấy thời gian và bạn nên sử dụng nó một cách khôn ngoan”.
- Thái độ đối với công việc và sự thành công
Trong khi một số nền văn hóa thể hiện đạo lý làm việc tích cực thì một số khác lại
nhấn mạnh sự cân bằng giữa công việc và hoạt động thư giãn. Người dân ở phía Nam nước

bài bản.
* Một hãng bột giặt dùng bức tranh quảng cáo: Hộp bột giặt ở giữa, quần áo sạch bên phải,
quần áo bẩn bên trái. Loại bột giặt này không bán được ở Trung Đông vì họ quên mất rằng
người dân địa phương đọc từ phải qua trái.
* Một ví dụ khác: quảng cáo nước tẩy rửa có nội dung một cô gái nhỏ nhắn đang dọn dẹp
đống đồ bừa bộn do anh trai của mình bày ra rất nhanh và sạch sẽ. Nhưng quảng cáo này
đã bị phản đối kịch liệt ở Canada vì với họ, như thế là phân biệt đối xử, là trọng nam khinh
nữ.
* Hay như một hãng máy bay nọ đưa quảng cáo trên tờ báo Ả-rập Saudi là sẽ bố trí các nữ
nhân viên trẻ đẹp phục vụ rượu cho khách. Kết quả là phần lớn các hành khách tại đây đã
hủy bỏ chuyến bay ngay lập tức với lý do rất đơn giản: Phụ nữ bỏ mạng che mặt không
được ở cùng với đàn ông và rượu là điều cấm kỵ đối với người Ả-rập.
d. Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội thể hiện cấu tạo nền tảng của một nền văn hóa, bao gồm các nhóm
xã hội, các thể chế, hệ thống địa vị xã hội, mối quan hệ giữa các địa vị này và quá trình qua
đó các nguồn lực xã hội được phân bổ.
* Các nhóm xã hội
Con người trong tất cả các nền văn hóa tự hội họp với nhau thành các nhóm xã hội
rất đa dạng. Những tập hợp do hai hay nhiều người xác định nên và có ảnh hưởng qua lại
với người khác. Các nhóm xã hội đóng góp vào việc xác định từng cá nhân và hình ảnh của
bản thân họ. Hai nhóm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ảnh hưởng đến các hoạt
động kinh doanh ở mọi nơi là gia đình và giới tính.
* Địa vị xã hội
Một khía cạnh quan trọng khác của cấu trúc xã hội là cách thức một nền văn hóa
phân chia dân số dựa theo địa vị xã hội (theo những vị trí trong cấu trúc). Có nền văn hóa
chỉ có một số ít địa vị xã hội, những cũng có nền văn hóa có nhiều địa vị xã hội. Quá trình
xếp thứ tự con người theo các tầng lớp xã hội và giai cấp được gọi là phân tầng xã hội. Tư
cách thành viên của mỗi tầng lớp sẽ đặt các cá nhân theo một loại “thang bậc xã hội” có xu
hướng được duy trì vượt qua các nền văn hóa.
* Tính linh hoạt của xã hội

chế tạo ở nước ta.
Người chủ ngân hàng nói “người đàm phán với tôi rất tự hào về thân thế cộng sản của
mình, nhưng đồng thời cũng tuyên bố mình là con người của thập niên 90, đã chuyển mình
theo phong cách kinh doanh phương Tây. Các cuộc đàm phán dường như phải kéo dài
hàng tháng và không một ai sẵn sàng đưa ra quyết định. Tôi chỉ cho rằng đó là sự không
hiệu quả của những người cộng sản. Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn. Dường như họ không hiểu
được rằng thoả thuận này có thể đem lại rất nhiều tiền cho nhà máy của họ, cũng như cho
ngân hàng của tôi và cho tôi. Tôi lớn tiếng bày tỏ quan điểm của mình. Tôi đập mạnh nắm
đấm xuống bàn, tôi mất kiểm soát. Những ngày sau đó bên Việt Nam ngừng đàm phán và
gợi ý tôi nên về nước. Thật là những người cộng sản điển hình, tôi nghĩ, họ sẽ không được
gì cả”.
Nhưng không phải chủ nghĩa cộng sản hay thậm chí cũng không phải sự không hiệu quả
trong cách làm việc của người Việt Nam đã phá hoại chuyến đi này. Mà chính là sự khác
biệt về văn hoá,tư tưởng. Do nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi triết lý Khổng Tử tồn
tại từ nhiều thế kỷ, người dân Việt Nam luôn hướng vào sự hoà thuận coi sự hài hoà, cân
bằng có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Người chủ ngân hàng Đức cũng đã nhận định chính việc không hiểu được văn hoá Việt
Nam, ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Tử đối với nhận thức của người Việt Nam là nguyên
nhân dẫn đến thất bại của ông. Ở Việt Nam việc ra quyết định thường chậm một phần là do
mọi người thường đưa ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận. Sự kiên nhẫn và bình
tĩnh là rất cần thiết trong các tình huống khó khăn-và các cuộc nói chuyện liên quan đến
hợp đồng. Cuối cùng, người Việt Nam thường không đề cao những người mất kiên nhẫn
(sai lầm thứ nhất của người chủ ngân hàng Đức) hoặc có vẻ bề ngoài ích kỷ (sai lầm thứ
hai của người chủ ngân hàng Đức-thông qua việc nhấn mạnh việc sẽ kiếm được bao nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status