Báo cáo nghiên cứu khoa học " TÌNH HÌNH DAO ĐỘNG GIÁ CÀ PHÊ THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM " - Pdf 14



5

TÌNH HÌNH DAO ĐỘNG GIÁ CÀ PHÊ THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI
TRONG NHỮNG NĂM QUA VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN
THỊ TRƯỜNG CÀ PHÊ Ở VIỆT NAM
Nguyễn Đăng Hào
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dưới chính sách tự do hóa thương mại ở nước ta, các hàng rào thương mại
như thuế, hạn ngạch xuất nhập khẩu nông sản đang từng bước được cắt giảm.
Hơn thế nữa, sau nhiều năm thực hiện sự độc quyền Nhà nước trong lĩnh vực
ngoại thương, giờ đây các thành phần kinh tế phi quốc doanh được khuyến khích
tham gia các hoạt động xuất khẩu nông sản. Bên cạnh đó, tỷ giá hối đoái từng
bước được xác định theo quy luật cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Kết
quả là thị trường nông sản trong nước nói chung và thị trường cà phê nói riêng
ngày càng chịu ảnh hưởng của thị trường khu vực và thị trường quốc tế.
Thực tế thừa nhận rằng các chính sách tự do hóa thương mại ban hành
những năm qua được xem như là nhân tố quan trọng đứng đằng sau sự phát triển
của nông nghiệp ở nước ta (IMF, 1998; Minot et al, 1997). Tự do hóa thương mại
đã có tác động đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp nói chung và
sản xuất cà phê nói riêng (Nguyễn Trung Quế, 1998). Sau hơn mười năm thực
hiện chính sách tự do hóa thương mại, sản xuất cà phê nước ta đã có những bước
thay đổi quan trọng về mặt diện tích, sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu. 6

Điều đó đã làm cho nước ta trở thành một trong những nước xuất khẩu cà phê

2
= ∑ (p
t
- p
µ
)
2
/n
Trong đó:
σ
2
là phương sai giá cà phê trong thời kỳ nghiên cứu
p
t
là giá cà phê ở năm t, để loại trừ ảnh hưởng của yếu tố lạm phát, trong
nghiên cứu này chúng tôi sử dụng giá thực tế (real coffee prices).
p
µ
là giá bình quân cà phê trong thời kỳ nghiên cứu
n là số năm trong thời kỳ nghiên cứu
Trong khi đó độ lệch tiêu chuẩn (σ) là căn bậc hai của phương sai giá.
Phương sai giá cho phép đánh giá mức độ dao động của giá cà phê hàng năm so
với giá cà phê bình quân, nếu phương sai giá càng lớn thì mức độ dao động giá
cà phê càng lớn và rủi ro thị trường càng cao và ngược lại.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thị trường nông sản với quá trình tự do hóa thương mại:
Sự dao động lớn của giá cả hàng hóa nông sản là nét đặc trưng lớn nhất
của thị trường nông sản thế giới trong những năm vừa qua (Thorbecke, 1998),
trong lúc đó người sản xuất lại mù quáng chạy theo thị trường với một hệ thống
thông tin thị trường không đối xứng (Joseph Stiglitz), điều đó có thể làm cho thị

hàng hóa nông sản đang là những mối quan tâm hàng đầu của các nước đang
phát triển dưới tác động của chính sách tự do hóa thương mại hiện nay (Goldin 9

và Knudsen) - được xem như là một bước tiến và một bước lùi đối với sản xuất
nông nghiệp.
3.2 Tình hình dao động giá cà phê quốc tế:
Biểu đồ 1 cho thấy rằng giá cà phê trên thị trường quốc tế thường xuyên
dao động lớn, đặc biệt là trong những năm gần đây. Trước năm 1994, giá cà phê
thế giới ở mức thấp, giá cà phê đã giảm từ mức 150,67 cent/pound ở năm 1980
xuống mức 50 cent/pound vào năm 1992. Tuy vậy, giá cà phê đã dần hồi phục
vào nửa cuối năm 1993, và tăng nhanh đến mức 202 cent/pound vào tháng 12
năm 1994 mà nguyên nhân chính là do tình hình thời tiết bất lợi (sương muối) đã
làm giảm sản lượng cà phê của Brazil - nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng
đầu thế giới. Những tháng đầu năm 1995, giá cà phê tiếp tục đứng ở mức cao,
nhưng đến tháng 12 năm này đã giảm xuống còn 90 cent/pound. Sau đó giá cà
phê lại được khôi phục vào năm 1996 và đầu năm 1997 trước khi giảm xuống
dần dần. Giá cà phê đã hoàn toàn sụp đổ tính từ tháng 3 năm 1998, có lúc đã
giảm đến mức thấp nhất trong lịch sử của ngành cà phê thế giới trong những thập
kỷ gần đây. Chẳng hạn năm 2002, giá cà phê bình quân trên thị trường thế giới
chỉ đạt 44,3 cent/pound, đặc biệt giá cà phê Robusta ở mức rất thấp (24,37
cent/pound). Bước sang năm 2003-2004, đặc biệt là những tháng đầu năm 2005
giá cà phê trên thị trường thế giới có dấu hiệu phục hồi trở lại. 10
0.00
50.00

US cent/lb
World price of Robustas (US cent/1l)) Composite indicator price (cts/lb) Other mild Arabicas

Biểu đồ 1: Tình hình giá cà phê thế giới trong những năm qua
Số liệu ở bảng 1 chỉ rõ tình hình dao động của giá cà phê trên thị trường
thế giới qua các thời kỳ khác nhau. Trong thời kỳ 1980-1985, giá cà phê tương
đối ổn định, trong khi đó giá cả cà phê dao động lớn nhất trong thời kỳ 1986-
1994, Giá cà phê đạt mức cao nhất vào năm 1986 với hơn 170 US cent/ pound,
và thấp nhất là 53 US cent/pound vào năm 1992. Kết quả là phương sai và độ
lệch tiêu chuẩn giá cà phê cũng đạt cao nhất trong thời kỳ này với giá trị tương
ứng là 1343,32 và 36,65. Trong thời kỳ 1995-1998 và 1999-2002, giá cà phê tiếp
tục dao động ở mức độ lớn, dẫn đến phương sai và độ lệch tiêu chuẩn giá trong
hai thời kỳ này cũng khá cao.
Bảng 1: Một số chỉ báo về tình hình dao động giá cà phê
trên thị trường thế giới, thời kỳ 1980 - 2002
Thời kỳ Giá thấp
nhất
Giá cao
nhất
Giá bình
quân
Phương sai
giá
Độ lệch tiêu
chuẩn 11
1980 -
1985

kéo dài đến nay. Khi khối lượng cung cà phê tăng đột biến, khối lượng cầu tiêu
thụ hầu như thay đổi không đáng kể dẫn đến tình trạng dư thừa lớn cà phê và hậu
quả là giá cà phê sụp đổ hoàn toàn. Tình hình đó sẽ kéo dài cho đến khi các nước
sản xuất cà phê hàng đầu có những sự điều chỉnh diện tích cà phê, và một chu kỳ
mới của thị trường cà phê lại hình thành. Nguyên nhân khác là sự thất bại trong
những thỏa thuận quốc tế của ICO về kiểm soát diện tích sản xuất, khối lượng dự
trữ và xuất khẩu cà phê của các nước thành viên ICO.
3.3 Tình hình dao động giá cà phê ở Việt Nam:
Tình hình giá cà phê ở thị trường trong nước được phản ánh thông qua sơ
đồ 2. Nhìn chung giá cà phê trong nước vận động theo cùng xu hướng với giá cà
phê trên thị trường quốc tế. Xu hướng này ngày càng chặt chẽ hơn khi mà Việt
Nam trở thành một trong những nước hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu cà phê
Robusta, đặc biệt là sau chính sách tự do hóa thị trường cà phê xuất khẩu từ
những năm đầu thập kỷ 90, tiếp theo đó những biến động lớn trên thị trường cà
phê quốc tế ngay lập tức tác động đến thị trường cà phê trong nước. 13
0
5000
10000
15000
20000
25000
1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000' 2001' 2002' 2003' 2004'
Nàm
VND/kg

Biểu đồ 2: Tình hình giá cà phê ở thị trường Việt Nam trong những năm qua
Các chỉ báo đo lường tình hình dao động của giá cà phê ở thị trường trong

Độ lệch
tiêu chuẩn

1990–
1994
7.14 22.00 10.763 39.79 6.30
1995 –
1998
12.96 21.12 15.61 14.12 3.75
1999–
2004
3.23 8.72 6.63 4.07 2.02
Nguồn:Tính toán từ số liệu thống kê của VINACAFE, VICOFA, Thống kê thương
mại.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Từ kết quả nghiên cứu này chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Giá cả cà phê trên thị trường thế giới trong những năm qua dao động rất
lớn, đặc biệt giá cà phê có xu hướng giảm xuống mức rất thấp trong những năm
qua. 15
Tình hình sụp đổ của giá cả cà phê trước hết là do những nhân tố nội tại của
thị trường này qui định. Trong khi độ co giãn giá của cầu cà phê rất thấp, phản
ứng cung cà phê lại rất trễ. Điều này dẫn đến một sự thiếu hụt tạm thời cung cà
phê - thường là do tình hình sản xuất không thuận lợi ở một số nước sản xuất cà
phê hàng đầu - dẫn đến giá cà phê tăng cao ở một thời điểm nào đó có thể làm
cho người sản xuất mù quáng mở rộng diện tích cà phê. Kết quả là khối lượng
cung cà phê tăng đột biến sau một số năm nào đó và hậu quả là giá cà phê sẽ
hoàn toàn sụp đổ. Hơn nữa, sự thất bại của trong việc thực hiện các cam kết của

working paper No 40 (1998).
5. Thoberke, E. Agricultural Market Beyond Liberalization: The Role of the
State, Kluwer Academic Publishers (2000).

FLUCTUATION OF COFFEE PRICES IN THE WORLD MARKET
IN THE PAST YEARS AND ITS IMPACTS UPON
VIETNAM COFFEE MARKET
Nguyen Dang Hao
College of Economics, Hue University 17
SUMMARY
The economic reforms implemented since the end of 1980s have
accelerated the trade liberalization initiatives in Vietnam. The overall impacts of
this liberalization on agricultural production growth are widely acknowledged.
In this study, we focus on the relationship between the fluctuation of coffee prices
in the world market and it’s impacts on coffee prices in Vietnam following the
liberalization of coffee market. Based on the time-series data from 1990 to 2004,
the indicators used to measure the fluctuation of coffee prices are applied.
The results of the study indicate that in the past decades, the coffee prices
in the world market have been wide volatility due to its own characteristics,
especially its delayed supply response. Consequently, the low price elasticity of
demand, together with the delayed response of supply to price, causes the long-
run coffee cycle; small shortages lead to large price increases in the short-run,
inducing large-scale expansion of production. But after a maturation lag of
about five years, this results in excess supply, leading to price decreases.
Following the trade liberalization, Vietnam has become one of the biggest
Robusta producers, and the fluctuation in the world coffee market is immediately
transferred to Vietnam coffee market. As a result, coffee planting households in


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status