5
TÍNH HAI MẶT CỦA TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
Nguyễn Thị Tỵ
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
1. Khái niệm và bản chất của toàn cầu hóa kinh tế:
- Khái niệm toàn cầu hóa kinh tế:
Về mặt kinh tế, có thể hiểu toàn cầu hóa (TCH) là quá trình lực lượng sản
xuất (LLSX) và quan hệ kinh tế vượt khỏi biên giới quốc gia và phạm vi từng
khu vực, lan tỏa ra phạm vi toàn cầu. Trong đó, hàng hóa, vốn, tiền tệ, thông tin,
lao động, vận động thông thoáng; sự phân công lao động mang tính quốc tế;
mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen nhau hình thành mạng
lưới quan hệ đa tuyến vận hành theo các "luật chơi chung" được hình thành qua
sự hợp tác và đấu tranh giữa các thành viên trong cộng đồng quốc tế. Trong xu
thế toàn cầu hóa, các nền kinh tế quan hệ ngày càng mật thiết với nhau, tùy thuộc
lẫn nhau.
- Bản chất của toàn cầu hóa kinh tế (TCH KT)
Cũng như bất kỳ hiện tượng chính trị, kinh tế, xã hội khác, toàn cầu hóa
kinh tế phản ánh tương quan lực lượng giữa các nước, các lực lượng tham gia
quá trình đó. Từ sau khi Liên Xô tan rã, Chủ nghĩa xã hội (CNXH) bị xóa bỏ ở
các nước Đông Âu, tương quan lực lượng trên thế giới thay đổi không có lợi cho
các lực lượng cách mạng. Về kinh tế, các nước công nghiệp phát triển nhất là Mỹ 6
chi phối nền kinh tế thế giới từ sản xuất tới vốn, công nghệ, xuất khẩu, dịch vụ,
- TCH KT thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của LLSX, đưa lại sự tăng
trưởng cao cho nền kinh tế thế giới. Trong đó, cơ cấu kinh tế thế giới có bước
chuyển dịch mạnh về chất: Tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ
dựa vào công nghệ cao và tri thức tăng mạnh. Đây là cơ hội và tiền đề hết sức
quan trọng cho sự phát triển và hiện đại hóa xã hội loài người. Các nước có nền
kinh tế chậm phát triển nhờ tham gia TCH KT họ có điều kiện tiếp nhận các
nguồn lực phát triển từ bên ngoài như vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ chuyển
giao, kinh nghiệm tổ chức quản lý khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng
kinh tế trong nước.
- TCH KT thực chất là mở rộng và phát triển thị trường toàn cầu. Sự giao
lưu hàng hóa thông thoáng hơn, hàng rào quan thuế và phi quan thuế bị dỡ bỏ,
nhờ đó trao đổi hàng hóa tăng mạnh, có lợi cho sự phát triển của các nước. Nửa
đầu thế kỷ XX, kim ngạch buôn bán của thế giới tăng 2 lần, đến nửa sau thế kỷ
XX, do cắt giảm hàng rào quan thuế và phi quan thuế nên kim ngạch buôn bán
của thế giới đã tăng 50 lần. Sự phát triển mạnh mẽ thị trường toàn cầu dưới tác
động của toàn cầu hóa đã cho phép các nước đang và chậm phát triển có thể tận
dụng các nguồn lực của mình, nhất là nguồn lực lao động dồi dào để tạo ra lợi thế
cạnh tranh trong một số ngành công nghiệp chế tạo và dịch vụ.
- Dưới tác động của quá trình TCH, những thành tựu của khoa học - công
nghệ được chuyển giao nhanh chóng và ứng dụng rộng rãi tạo điều kiện cho các
nước đi sau trong sự phát triển kinh tế có điều kiện tiếp cận với những thành tựu
mới của khoa học - công nghệ để phát triển. 8
- Cùng với quá trình TCH KT, nguồn vốn đầu tư quốc tế tăng mạnh góp
phần điều hòa dòng vốn theo lợi thế so sánh tạo điều kiện cho các nước tiếp cận
được nguồn vốn và công nghệ từ bên ngoài, hình thành hệ thống phân công lao
nêu ra một số tác động tiêu cực sau đây của quá trình TCH KT:
- TCH KT thông qua tự do hóa thương mại thường đem lại lợi ích lớn hơn
cho các nước công nghiệp phát triển vì sản phẩm của họ có chất lượng cao, giá
thành hạ, mẫu mã đẹp, do đó có sức cạnh tranh cao dễ chiếm lĩnh thị trường. Mặc
khác, tuy nói là tự do hóa thương mại song các nước công nghiệp phát triển vẫn
áp dụng những hình thức bảo hộ công khai (như áp dụng hạn ngạch) hoặc trá
hình (như tiêu chuẩn lao động, môi trường ). Tuy có chuyển giao công nghệ
song các nước công nghiệp phát triển thường không chuyển giao những thành
tựu mới nhất mà thậm chí là chuyển giao những công nghệ lạc hậu hoặc đã khấu
hao hết giá trị vào các nước chậm phát triển. Điều này tác động xấu đến sự phát
triển kinh tế ở các nước chậm phát triển và dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế ở các nước này.
- TCH KT tác động trực tiếp đến lĩnh vực chính trị và an ninh quốc gia.
Nó tạo ra nguy cơ cho các nước chậm và đang phát triển bị lệ thuộc vào kinh tế,
từ đó dẫn đến lệ thuộc về chính trị, gây nguy hại đến chủ quyền dân tộc và an
ninh quốc gia. Thông qua con đường trao đổi, hợp tác kinh tế, đầu tư, viện trợ,
cho vay theo hướng khuyến khích tư nhân hóa, các thế lực đế quốc đứng đầu là
Mỹ muốn áp đặt hệ tư tưởng tư sản vào các nước khác, thực hiện "diễn biến hòa
bình" thay đổi chế độ xã hội theo hướng thân phương Tây. Đối với các nước
XHCN, chúng tìm cách xóa bỏ chế độ XHCN và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
Sản 10
Thông qua con đường kinh tế, Mỹ và các thế lực đế quốc tìm cách gây sức
ép với nhiều nước khác trong đó có các nước đi theo con đường XHCN về những
vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo , dùng mọi hình thức để can thiệp
vào công việc nội bộ của nước đó.
- TCH KT làm trầm trọng thêm những bất công xã hội, làm sâu thêm hố
ngăn cách giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước. Những nước được
thể làm rung chuyển đến tất cả các quốc gia và khu vực trên thế giới. Cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ ở Châu Á năm 1997 là một ví dụ.
- TCH KT có thể giúp cho các nước công nghiệp phát triển lợi dụng việc
trả lương cao, các thiết bị nghiên cứu khoa học tốt, môi trường làm việc thuận lợi
để thu hút nhân tài từ các nước đang phát triển. Do vậy, nguy cơ chảy máu chất
xám là một hiểm họa thực sự của các nước đang phát triển trong cơ lốc của TCH
KT.
3. Một số quan điểm của Đảng ta trong quá trình thực hiện hội nhập
Kinh tế quốc tế (HNKTQT) :
Báo cáo chính trị - Đại hội IX (2001) và NQ 07 - Bộ Chính trị (tháng
11/2001) bàn về HNKTQT, nhấn mạnh: Nước ta chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc,
giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường. 12
Đảng và Nhà nước ta luôn coi HNKTQT là một nội dung quan trọng trong
đường lối phát triển kinh tế và đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.
HNKTQT là một trong những định hướng quan trọng để tranh thủ ngoại lực, khai
thác nội lực, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ
công bằng văn minh và ngày càng củng cố định hướng XHCN
Nội dung chủ yếu của HNKTQT mà nước ta cần và có thể tham gia từng
bước là mở cửa thị trường về thương mại, đầu tư và dịch vụ. Hội nhập kinh tế có
cả hình thức đa phương và song phương, vừa tham gia vào các tổ chức và diễn
đàn kinh tế thế giới và khu vực, vừa thiết lập quan hệ thương mại, đầu tư, khoa
học - kỹ thuật với từng nước. HNKTQT là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh,
vừa tranh thủ vừa cạnh tranh, vừa tận dụng cơ hội vừa đối phó thách thức. Đối
1. Vũ Khoan. Bí thư Ban chấp hành Trung Ương Đảng, Bộ trưởng Bộ
Thương Mại
2. Đề cương trình bày vấn đề mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế. (Tài liệu tập huấn giảng viên Mác - Lênin) Hà
Nội (2001)
3. Nguyễn Xuân Thắng. Viện Kinh tế thế giới
4. Toàn cầu hóa kinh tế và một số vấn đề đặt ra đối với HNKTQT ở Việt
Nam.
5. Hội thảo khoa học Việt - Đức, Đại học Quốc gia Hà Nội (11/2002).
6. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về TCH và chủ động HNKTQT ở
nước ta, Tạp chí Cộng sản số 14 (5/2003) 64.
7. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương. Tài liệu nghiên cứu văn kiện Đại
hội IX của Đảng, NXB Chính trị quốc gia (2001)
8. Lê Hữu Nghĩa. Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng biên tập Tạp chí
Cộng sản
9. Toàn cầu hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn
10. Tài liệu tham khảo dùng cho lớp tập huấn giảng viên Mác - Lênin
(2004)
15
THE TWO-SIDE ASPECT OF ECONOMIC GLOBALIZATION AND
SOME PROBLEMS OF ECONOMIC INTEGRATION IN OUR
COUNTRY
Nguyen Thi Ty
College of Economics, Hue University
SUMMARY
The tendency of economic globalization originates from the development of