MỤC LỤC
Lời mở đầu
Chương 1. Lý thuyết về khủng hoảng tài chính- tiền tệ
1.1. Khái niệm về khủng hoảng tài chính
1.2. Các loại khủng hoảng tài chính
1.2.1 Khủng hoảng ngân hàng
1.2.2 Khủng hoảng trên thị trường tài chính
1.2.3 Khủng hoảng tài chính quốc tế
1.2.4 Khủng hoảng tài chính trong tập đoàn kinh tế
1.3. Một số lý thuyết về khủng hoảng tài chính- tiền tệ
1.4. Hậu quả của khủng hoảng tài chính- tiền tệ
Chương 2. Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ Châu Á khởi đầu là
Thái Lan năm 1997
2.1. Tình hình Đông Á trước cuộc khủng hoảng
2.1.1. Thực trạng
2.1.2. Những mất cân đối vĩ mô năm 1997
2.2. Diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Thái Lan
2.3. Tác động
2.3.1. Tác động tích cực
2.3.2. Tác động tiêu cực
Chương 3. Các biện pháp thoát khỏi khủng hoảng tài chính- tiền tệ
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hội nhập
3.1. Các biện pháp thoát khỏi khủng hoảng tài chính- tiền tệ
3.1.1. Ở cấp độ quốc tế
3.1.2. Ở cấp độ khu vực
3.1.3. Ở cấp độ quốc gia
3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hội nhập
Kết luận
Trang 1
Trang 1
Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ bắt đầu ở Thái Lan, sau đó lan sang các
nước Đông Nam Á khác, khu vực Đông Bắc Á và cuối cùng ảnh hưởng đến hầu
hết các khu vực trên thế giới. Cuộc khủng hoảng khởi đầu từ lĩnh vực tài chính tiền
tệ, tiếp theo là toàn bộ nền kinh tế và ảnh hưởng sâu sắc tới các lĩnh vực chính trị
xã hội mà hậu quả của nó cho tới nay người ta vẫn nhận thấy rõ ràng.
Tuy cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ đã đi qua, nhưng có rất nhiều băn
khoăn xung quanh sự xuất hiện của những cuộc khủng hoảng này, có lẽ băn khoăn
lớn nhất và cũng cần giải đáp tốt để có thể tránh được những cuộc khủng hoảng
khác là làm thế nào một đất nước từ trạng thái tăng trưởng cao ngay trước cuộc
khủng hoảng có thể biến chuyển rất nhanh chóng sang trạng thái khủng hoảng, sụt
giảm kinh tế trầm trọng. Đề tài “ Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á khởi
đầu là Thái Lan năm 1997” cố gắng tìm hiểu bản chất của cuộc khủng hoảng nợ tư
để thấy được sự cần thiết của nó đối với quá trình phát triển kinh tế của nước ta
đồng thời đánh giá thực trạng đổi mới tài chính và nêu lên một số nhận xét gợi mở
về định hướng phát triển thị trường tài chính ở Việt Nam .
Phù hợp với trình tự lôgic đó, kết cấu của tiểu luận gồm ba chương:
Chương 1. Lý thuyết về khủng hoảng tài chính- tiền tệ.
Chương 2. Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ Châu Á khởi đầu là Thái Lan
năm 1997 .
Chương 3. Các biện pháp thoát khỏi khủng hoảng và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam trong quá trình hội nhập.
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Chương 1
LÝ THUYẾT VỀ KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ
1.1. KHÁI NIỆM VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
Khủng hoảng tài chính là sự mất khả năng thanh khoản của các tập đoàn tài chính,
dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính.
Dấu hiệu của khủng hoảng tài chính là:
trừ phi họ được bồi thường nhờ bảo hiểm tiền gửi. Nếu việc rút tiền ồ ạt lan rộng sẽ gây
ra khủng hoảng ngân hàng mang tính hệ thống. Cũng có thể hiện tượng trên không lan
rộng, nhưng lãi suất tín dụng được tăng lên (để huy động vốn) do lo ngại về sự thiếu hụt
trong ngân sách. Lúc này, chính các ngân hàng sẽ trở thành nhân tố gây ra khủng hoảng
tài chính.
1.2.2 Khủng hoảng trên thị trường tài chính (bong bóng đầu cơ và sự sụp đỗ)
Khủng hoảng trên thị trường tài chính thường xảy ra do 2 nguyên nhân chính:
+ Do các chính sách của Nhà nước
+ Do sự tồn tại của các “bong bóng” đầu cơ.
Yếu tố các chính sách của Nhà nước. Khi nhà nước phát hành tiền nhằm trang trải
cho các khoản thâm hụt ngân sách, điều này sẽ gây ảnh hưởng tới tỷ giá cố định. Người
dân sẽ mất lòng tin vào nội tệ và chuyển sang tích trữ bằng các loại ngoại tệ. Khi đó dự
trữ ngoại tệ của Nhà nước sẽ cạn dần, Nhà nước buộc phải từ bỏ tỷ giá cố định và tỷ giá
sẽ tăng.
Yếu tố thị trường của các “bong bóng” đầu cơ, ẩn chứa nguy cơ đổ vỡ. Khi hầu hết
những người tham gia thị trường đều đổ xô đi mua một loại hàng hóa nào đó trên thị
trường tài chính (chẳng hạn như cổ phiếu, bất động sản), nhưng không nhằm mục đích
đầu tư lâu dài, mà chỉ mua với mục đích đầu cơ, với hi vọng sẽ bán ra với giá cao hơn và
thu lợi nhuận, điều này đẩy giá trị của các hàng hóa này lên cao, vượt quá giá trị thực của
nó. Tình trạng này xảy ra sẽ kéo theo những nguy cơ đổ vỡ trên thị trường tài chính, do
các nhà đầu tư ngắn hạn kiểu trên luôn mua và bán theo xu hướng chung trên thị trường:
họ mua vào khi thấy nhiều người cùng mua, tạo những cơn sốt ảo trên thị trường và bán
ra khi có nhiều người cùng bán, gây tình trạng rớt giá, họ không cần hiểu biết nguyên do
khi nào cần mua vào, khi nào cần bán ra nên gọi là “tâm lý bầy, đàn”.
1.2.3 Khủng hoảng tài chính quốc tế
Khi một quốc gia đang duy trì cơ chế tỷ giá cố định thì đột ngột buộc phải phá giá
tiền tệ do bị tấn công đầu cơ. Hiện tượng này gọi là khủng hoảng tiền tệ (currency crisis)
hay khủng hoảng cán cân thanh toán (balance of payments crisis). Khi một chính phủ
thất bại trong việc hoàn trả các khoản nợ quốc gia được gọi là sự vỡ nợ quốc gia
(sovereign default).
Theo mô hình này, chính phủ phải đánh đổi giữa các mục tiêu vĩ mô. Trong khi đó, nhà đầu
cơ sẽ phản ứng dựa vào kỳ vọng về khả năng phá giá tiền tệ của chính phủ. Kết quả là một
cuộc khủng hoảng tiền tệ có tính tự phát sinh (self-fulfilling) nổ ra.
Đến năm 1997, cuộc khủng hoảng Đông Á đã tạo cơ sở thực tiễn cho các nhà kinh tế
xây dựng nên một phiên bản mới khác về một cuộc khủng hoảng tiền tệ. Các phiên bản đầu
tiên về mô hình khủng hoảng tiền tệ trong thời gian này được nghiên cứu bởi McKinnon và
Pill (1997), Krugman (1998). Đặc trưng của khủng hoảng theo mô hình thứ ba này là sự
khủng hoảng kép (twin crisis), đó là sự song hành giữa khủng hoảng tiền tệ (currency crisis)
với khủng hoảng ngân hàng (banking crisis).
Trang 5
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Lý thuyết khủng hoảng thế hệ thứ 1 (Krugman, 1979)
Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ 2
Trang 6
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Mô hình khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ 3
1.4. HẬU QUẢ CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ
Các cuộc khủng hoảng tài chính đã làm đảo lộn cuộc sống của hàng triệu con người.
Cái giá đối với con người rất nghiêm trọng, có lẽ không thể nào tính nổi và hậu quả của
khủng hoảng vẫn tiếp tục được phơi bày. Người nghèo bị tác động bởi thất nghiệp, đồng
lương bị giảm, giá cả các nhu yếu phẩm tăng cao và các dịch vụ xã hội bị thu hẹp. Trẻ
em phải rời ghế nhà trường, lương thực và thực phẩm khan hiếm, nạn bạo hành và mại
dâm tăng lên. Thất nghiệp và cạnh tranh sinh tồn làm cho cộng đồng bị rạn nứt, chính trị
trở nên bất ổn
Trang 7
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Chương 2
CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ
CHÂU Á KHỞI ĐẦU LÀ THÁI LAN NĂM 1997
Có thể nói rằng khủng hoảng tài chính thường đi kèm với những nỗ lực nhằm tự do
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
một tăng. Đối với Thái Lan chỉ số giá tiêu dùng tăng nhanh, đạt mức 5,6% năm 1996 so
với 3,4% năm 1993. Chính phủ vì thế phải tăng mức lương tối thiểu, trung bình
8,5%/năm, trong khi đó năng suất lao động chỉ tăng trung bình 3%. Đặc điểm này diễn ra
tương tự như ở Malaysia, Indonesia và Philippines. Mặt khác, các nước phải tăng vốn
vay từ bên ngoài để bù đắp cho việc thiếu hụt trong nước nhằm đẩy nhanh tốc độ hiện
đại hóa sản xuất, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng.
Bên cạnh đó trừ Indonesia phần nào dựa vào nguồn dầu mỏ xuất khẩu, còn Thái Lan,
Malaysia rơi vào tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức báo động. Theo phân tích
của IMF, nếu thâm hụt trên mức 5% so với GDP sẽ đẩy nước này vào tình trạng khủng
hoảng. Thâm hụt tài khoản vãng lai còn có nghĩa là kinh tế Châu Á đã mất cân đối
nghiêm trọng đối với bên ngoài. Từ năm 1995 trở lại đây, thâm hụt tài khoản vãng lai ở
Thái Lan là 8,1%GDP năm1995 và 8,2%GDP năm1996. Tương tự, ở Malaysia là
9,7%GDP năm 1996. Đây là mức độ thâm hụt bằng với mức mà Mexico gặp phải khi
bùng nổ khủng hoảng 1994. Trong khi đó thâm hụt ở Indonesia là 4% và Philippines là
3,2% GDP năm 1996. Các nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng thâm hụt đó là:
+ Do kim ngạch xuất khẩu của các nước từ năm 1995 đến nay giảm mạnh.
+ Do thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt cán cân thanh toán ngày càng nghiêm
trọng đã buộc các nước trong khu vực phải vay nóng từ các khoản vay ngắn hạn của
nước ngoài để bù đắp cho những khoản chi tiêu trong nước
+ Các dòng vốn nước ngoài kéo vào.
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản
cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức. Các
nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài
sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Trong khi đó, các nước châu
Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn. Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở
các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước Châu
Á.
b. Tỷ giá hối đoái dồn nén một cách khiên cưỡng.
Nếu vấn đề nêu trên là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng thì các
duy trì quá lâu tỷ giá hối đoái cố định đã tạo nên kẻ hở trong hệ thống ngân hàng của các
nước này. Hệ thống ngân hàng hoạt động yếu kém dẫn đến kẻ hở cho nhà đầu cơ tiền tệ
vay vốn để mua ngoại tệ kiếm lời. Sự tăng giá của đồng Yên Nhật so với USD khiến cho
các ngân hàng đổ xô mua sau đó bán lại để mua USD hưởng chênh lệch giá.
Hiện tượng thất thoát vốn do đầu cơ tiền tệ ngày càng trở nên nghiêm trọng. Để duy
trì tốc độ tăng trưởng và tỷ giá hối đoái cố định ngân hàng tiếp tục vay nóng ngân hàng
nước ngoài dẫn đến giới hạn nguy hiểm khi tỷ lệ nợ vượt xa dự trữ ngoại tệ trong nước.
Các chuyên gia IMF cho biết tỷ lệ nợ /dự trữ ngoại hối ở Thái Lan, Indonesia xấp xỉ 3
lần, Philippines gấp 4 lần, hấp nhất là Malaysia là 10 tỷ USD.
Do thất thoát và ứ đọng vốn ở thị trường bất động sản dẫn đến hàng loạt ngân hàng
trong khu vực tuyên bố vỡ nợ. Điển hình như ở Thái Lan, 10 ngân hàng lớn nhất đứng
trước nguy cơ phá sản. Các Nhà đầu tư trong và ngoài nước bắt đầu có hội chứng mất
dần niềm tin, hàng loạt khách hàng rút vốn ra khỏi ngân hàng-tài chính đã làm suy giảm
thị trường chứng khoán ở các nước này.
Trang 10
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Nguyên nhân khách quan
a. Thị trường thương mại toàn cầu giảm sút, những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới.
Từ năm 1995 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước công nghiệp phát
triển giảm sút dẫn đến lượng cầu cũng suy giảm. Đặc biệt, những nước này là bạn hàng
chủ yếu, là đối tác kích thích quá trình tăng trưởng nóng hướng về xuất khẩu của các
nước Đông Nam Á. Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khu vực (điện tử, sợi, dệt)
đang đứng trước nguy cơ bảo hòa của thị trường thế giới. Năm 1996, thị trường bán dẫn
quốc tế suy thoái mạnh, giá vi mạch giảm hơn 80%. Các mặt hàng điện tử dân dụng của
Nhật, các nước NICs (Các nước công nghiệp mới) Đông Nam Á giảm lượng bán hơn
40% trên thị trường thế giới. Mặt khác tính hấp dẫn của thị trường Đông Nam Á trước
các đối tác Mỹ và Tây Âu đã giảm sút trước thị trường Trung Quốc, SNG (các quốc gia
thành viên cũ của liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết) ở Đông Âu và Mỹ
Litinh. Nhật Bản cũng đang lúng túng về những đồng vốn cho vay quá lớn trước những
biến động xấu của thị trường tài chính khu vực. Theo báo cáo của ngân hàng D. M.
Ở Thái Lan vì nôn nóng quá tự do hóa tài chính
(*)
, với ý nghĩ mình là vững mạnh, mình
là con rồng của Châu Á đủ mạnh để tự do hóa tài chính và khi tự do hóa tài chính (mở rộng
thị trường vốn) lúc này Chính phủ Thái Lan không kiểm soát được dòng vốn vào
(*)
Tự do hóa tài chính là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là hủy bỏ sự kiểm soát
của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này
hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường. Nội dung cơ bản của tự do
hóa tài chính bao gồm: Tự do hóa lãi suất, tự do hóa hoạt động cho vay của các ngân
NHTM, tự do hóa hoạt động ngoại hối, tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính
trên thị trường tài chính.
Vào thời điểm 1997- 1998 Nhật Bản là một nước thặng dư khối lượng ngoại tệ rất
lớn và khi nền kinh tế đã bão hòa, việc đầu tư trong nước không kiếm được lợi nhuận
nên Nhật Bản có xu hướng sử dụng tiền để đầu tư nước ngoài, một trong những nơi được
nhắm đến ở các nước Đông Á là Thái Lan (một con rồng của Châu Á), khi đó các
NHTM Nhật Bản cho dòng vốn chuyển dịch đầu tư vào những doanh nghiệp, những thể
chế tài chính của Thái Lan. Mà dòng dịch chuyển vốn đó rất là ồ ạt (đầu tư quá mức về
bất động sản) nhưng Chính phủ Thái Lan không thể kiểm soát được.
Thời điểm này dự trữ ngoại hối ngân hàng trung ương ở Thái Lan là 24 tỷ để giữ giá
đồng Baht, khi dòng vốn dịch chuyển vốn vào Thái Lan (một quốc gia phát triển xuất
phát từ bong bóng bất động sản) thì những khoản nợ : nợ công là nợ của Chính phủ và
nợ tư là nợ của các doanh nghiệp với các tổ chức tài chính trung gian ở bên ngoài mà
Chính phủ không kiểm soát
Xu hướng chung là khi một quốc gia có sự giàu có lên, như Thái Lan lúc bấy giờ là
an cư mới lập nghiệp, do đó phát sinh nhu cầu mua sắm nhà cửa. Lúc này thị trường bất
động sản được khuyếch đại hóa, thị trường bất động sản tăng giá thì nhà đầu tư lao vào
đầu tư bất động sản đến mức độ đẩy bong bóng bất động sản lên cao, có những khu đất
xây dựng lên rất nhiều, nhà cửa phát triển đến mức độ dân cư không đủ tiền để mua sắm
bất động sản, người nghèo không đủ tiền mua nhà xã hội với mức giá thấp, người giàu
cực kỳ nghiêm trọng về mặt kinh tế tài chính và lây lan sang những quốc gia khu vực
như Korea, Maylaysia, Indonexia và Philipin. Đây chính là cuộc khủng hoàng nợ tư (Các
nhà đầu tư tư nhân vay ngân hàng để đầu tư vào thị trường bong bóng bất động sản, sau
khi thị trường bất động sản đóng băng thì họ không thanh toán nợ cho ngân hàng mà
trước đây vay)
Khảo sát về khía cạnh tự do hóa tài chính, nước Thái Lan là nước mắc bẫy muốn
nhanh chóng tự do hóa tài chính. Muốn tự do hóa tài chính nhanh nhất là mở rộng thị
trường vốn (dịch chuyển quan hệ giao dịch giữa các công ty đa quốc gia với nhau, giao
dịch giữa các tổ chức tài chính trung gian Nhật Bản với tổ chức tài chính trung gian Thái
Trang 13
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Lan, giữa các doanh nghiệp Nhật Bản với các doanh nghiệp Thái Lan) dịch chuyển vốn
không được kiểm soát, đầu ra đầu vào không kiểm soát.
2.3. TÁC ĐỘNG CỦA KHỦNG HOẢNG
2.3.1. Tác động tiêu cực
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất giá tiền
tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á. Nhiều doanh
nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các
năm 1997-1998. Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái
Lan. Nó đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn tăng trưởng nhanh, kéo dài và chủ yếu dựa
vào nguồn vốn nước ngoài của các nước trong khu vực, giờ đây sẽ chuyển sang giai đoạn
ôn hòa, thận trọng và dựa cvào sức mình là chính. Cuộc khủng hoảng gây thiệt hại cho
các nước Châu Á ít nhất 300 tỷ USD, bằng khoảng 20% GDP của các nước bị khủng
hoảng.
Cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ này đã làm giảm mức sống của người lao động
(do lạm phát gia tăng) còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto ở
Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan. Tâm lý chống phương Tây gia tăng
cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Các phòng
trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước
này suy yếu. Các nhà đầu tư nước ngoài giảm sút niềm tin, vốn FDI đổ vào Châu Á giảm
độc quyền và bao cấp của Chính phủ được xúc tiến rộng rãi, tích cực hơn.
+ Góp phần và là dịp để Chính phủ và nhân dân cũng như các tổ chức tài chính-tiền
tệ bổ khuyết những thiếu sót về chính sách thể chế lẫn những yếu tố thuộc con người…từ
đó tạo ra những xung lực tích cực mới cho sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững ở cấp
quốc gia, khu vực và quốc tế với tư cách là một chỉnh thể hữu cơ. Quá trình tự do hóa và
toàn cầu hóa sẽ được đẩy lên một nấc mới, một phần nhờ các chương trình điều chỉnh
kinh tế rộng rãi theo hướng này ở các nước khu vực sau khi đã “uống thuốc của IMF”;
phần nhờ sự chuẩn bị chu đáo thận trọng hơn và thích hợp hơn của mỗi nước; phần nữa
nhờ sự xuất hiện những cơ chế thúc đẩy và giám sát mới mang tính khu vực, sự bổ sung
của IMF và các tổ chức tài chính khu vực, đồng thời cũng là kết quả của sự hợp tác giữa
các nước khu vực trong nổ lực vượt qua khủng hoảng
Trang 15
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Chương 3
CÁC BIỆN PHÁP THOÁT KHỎI KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
3.1. CÁC BIỆN PHÁP THOÁT KHỎI KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ
3.1.1 Ở cấp độ quốc tế
Sự hỗ trợ tài chính khẩn cấp và to lớn của cộng đồng quốc tế thông qua vai trò tổ
chức, điều phối và giám sát của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) là vô cùng quan trọng và có
hiệu lực nhanh chóng, mạnh mẽ nhất để chế ngự cuộc khủng hoảng, tránh sự đổ vỡ lan
rộng và hậu quả kéo dài ở cả trong và ngoài mỗi nước. Cụ thể là những “Chương trình
cứu trợ khẩn cấp trọn gói” mà IMF đã liên tiếp triển khai cho Thái Lan, Phillippines,
Indonesia và Hàn Quốc đã có tổng giá trị hàng trăm tỷ USD.
Sự hỗ trợ quốc tế còn được thể hiện ở những thỏa thuận giữa những con nợ và chủ
nợ trong việc hoãn nợ, đảo nợ, bảo đảm nợ nhằm cải thiện tình trạng nợ nần của các
nước đang lâm vào khủng hoảng. Sự hỗ trợ quốc tế còn là lời kêu gọi các thị trường lớn
như Mỹ, EU… mở rộng cửa cho hàng xuất khẩu của các nước đang trong khu vực khủng
hoảng để giúp làm tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại và thu nhập
định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính khu vực. Ngoài ra, cơ chế giám sát ASEAN còn
giúp đề xuất các chính sách và khuyến khích các hành động đơn phương hoặc tập thể để
ngăn ngừa khủng hoảng, giám sát và thảo luận về tình hình kinh tế - tài chính toàn cầu có
thể ảnh hưởng tới khu vực và các biện pháp đối phó của từng nước, khu vực.
Nới lỏng dần chính sách tài chính - tiền tệ: Vào những ngày đầu khủng hoảng bùng
phát, các nước khu vực đã khẩn trương áp dụng các giải pháp tình thế để chống đầu cơ
và giữ ổn định tiền tệ, giảm bớt sức ép đáo hạn nợ nước ngoài và sự rút vốn nước ngoài
bằng các biện pháp chủ yếu như: tăng lãi suất, siết chặt tín dụng, siết chặt kỷ kuật tài
chính, kiểm soát ngoại hối, đóng cửa hàng loạt các tổ chức tín dụng hoạt động không có
hiệu quả…Thế nhưng, các giải pháp này lại làm phản tác dụng, khiến các doanh nghiệp
khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, càng làm tăng “cơn khát vốn” của họ, ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng duy trì hoạt động, khả năng cạnh tranh và khả năng trả nợ của họ.
Trong khi đó, làn sóng giảm lãi suất, chống giảm phát, kích thích tăng trưởng chung do
Mỹ phát động đã được các nước G7 hỗ trợ và hưỡng ứng rộng rãi trên toàn cầu đã khích
lệ các nước trong khu vực chuyển mạnh sang các giải pháp khuyến khích phục hồi và
tăng trưởng. Lãi suất đã được giảm, tín dụng đã được nới lỏng, thuế cũng được cắt giảm
và trợ giúp tài chính từ Nhà nước cho các doanh nghiệp được gia tăng một cách thích
đáng.
Hầu hết các nước đang từ bỏ dần thái độ cực đoan trong đối xử với vấn đề tỷ
giá.Việc cố định cứng nhắc cũng như thả nổi hoàn toàn bản tệ đều không thể đưa đến
mục tiêu mong muốn là ổn định vững chắc cơ sở tiền tệ của mỗi nước. Ngoài ra, hành
động phá giá cạnh tranh tiền tệ không thể không gây tổn thương đến các khu vực khác và
tạo vòng xoáy phá giá đồng tiền cực kỳ nguy hiểm giữa các nước. Do đó, vấn đề này
cũng đang được xem xét lại một cách nghiêm túc ở cấp độ toàn khu vực.
Trang 17
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
Tăng cường các nguyên tắc thị trường ngày càng được các nước ASEAN quán triệt
và thực thi đầy đủ hơn cho sự vận hành nền kinh tế. Bởi vì Chính phủ các nước ngày
càng nhận thấy rõ sự rủi ro của việc can thiệp quá sâu vào khu vực kinh doanh gây ra
tình trạng nguồn tín dụng được đem cấp thiếu cơ sở kinh tế cho các công ty tham nhũng
ASEAN đã nhận ra rằng sự tồn tại đông đảo tầng lớp người lao động với đồng lương
Trang 18
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
thấp và sự gia tăng đội quân thất nghiệp trong điều kiện hệ thống an toàn xã hội chưa
phát triển sẽ là hiểm họa cho sự ổn định cơ sở kinh tế xã hội. Do đó, các khoản chi ngân
sách cho mục tiêu xã hội đã được cải thiện hơn.
3.1.3 Ở cấp độ quốc gia
* Thái Lan: xuất phát điểm của cuộc khủng hoảng.
Đề ra “7 biện pháp khẩn trương” để phục hồi kinh tế, đặt trọng tâm vào các yêu cầu
tăng vốn, tăng khả năng thanh toán của khu vực tài chính – ngân hàng, xúc tiến hỗ trợ
đầu tư Nhà nước cho điều chỉnh cơ cấu.
Đóng cửa 56 công ty tài chính có vấn đề về khả năng thanh toán.
Cho phép chứng khoán hóa các khoản nợ ngân hàng nhằm cải thiện khả năng tiền
mặt cho ngân hàng và làm tăng kưu chuyển vốn xã hội.
Các hoạt động bảo hiểm tiền gửi, tiền cho vay, các thủ tục thế chấp, các giới hạn cho
vay tối đa mỗi ngành và phát triển các trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng
được áp dụng triệt để.
Ngoài các thương lượng gia hạn nợ giữa các chủ nợ và con nợ, Chính phủ Thái Lan
còn tăng phát hành chứng khoán nhằm hỗ trợ mua lại các khoản nợ khó đòi của các ngân
hàng theo tỷ lệ chiết khấu 25%; hỗ trợ tín dụng cho người mua để làm tăng cầu trên thị
trường bất động sản, giúp các con nợ tăng khả năng trả nợ.
Thị trường tài chính mở cửa rộng hơn cho nhà đầu tư nước ngoài, xóa bỏ các giới
hạn cổ phần dưới 50% của nhà đầu tư nước ngoài, đơn giản hóa các thủ tục, cho phép
đầu tư nước ngoài tham dự nhanh, rộng và sâu hơn vào các khu vực kinh tế tài chính của
đất nước.
Để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xã hội, cải thiện khả năng xuất khẩu của mình,
Thái Lan, một mặt tiếp tục tăng đầu tư vào những sản phẩm xuất khẩu truyền thống để
cải thiện công nghệ, nâng cao chất lượng (gạo chất lượng cao, đồ trang sức cao cấp, vải
đặc biệt,…) và hạ giá thành sản phẩm; mặt khác, tích cực và mạnh dạn đầu tư vào các
ngành công nghệ cao, tìm kiếm và định hình những mặt hàng xuất khẩu mới ( thép cao
Ở Việt Nam hiện đang thực hiện chính sách đóng cửa dịch chuyển vốn (tất cả các
nguồn vốn ra vào Việt Nam phải kê khai kiểm soát, với vốn FDI đầu tư bao nhiêu là phải
đăng ký và được Bộ kế hoạch đầu tư cấp giấy phép, nguồn vốn từ ngân hàng nước ngoài
vào Việt Nam phải thông qua ngân hàng trung ương, phải được kiểm tra kiểm soát của
Bộ kế hoạch đầu tư)
Về nguyên tắc khi đầu tư vào về phải có đồng bản tệ đối ứng, lúc này ngân hàng Nhà
nước buộc phải cung tiền (phải gia tăng tương ứng với sự dự trữ ngoại hối để mua đồng
ngoại tệ mạnh), có nghĩa là nhà nước cung tiền đồng ra trong khi đó hàng hóa dịch vụ
chưa sản xuất cân đối kịp thời vì giai đoạn này nhà đầu tư nước ngoài đầu tư dịch chuyển
tiền vào và ta phải cung ứng tiền đồng để nhà đầu tư trả tiền thuê quyền sử dụng đất, xây
dựng cơ sở hạ tầng, đưa máy mọc thiết bị vào. Lúc này vô hình chung ta phá giá đồng
tiền, như vậy bước đầu đã có sự lạm phát rồi. Nhưng Chính phủ phải có sự kiểm tra kiểm
soát và sau khi nhà máy đã được xây dựng lên vận hành sản xuất để tạo ra của cải vật
chất, và hàng hóa được dịch chuyển xuất ra bán để đem ngoại tệ về và phải cân đối lại tỷ
Trang 20
Khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu Á năm 1997 GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Ảnh
giá. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì phần còn lại dịch chuyển ra nước ngoài
( lợi nhuận)
Qua đó ta thấy cơ chế dịch chuyển vốn và việc kiểm tra kểm soát dịch chuyển vốn,
thế nào là thị trường hối đoái có kiểm soát và thị trường hối đoái không kiểm soát. Tỷ
giá hối đoái của Việt Nam không phải là tỷ giá hối đoái cố định mà là tỷ giá thả nổi có
quản lý và việc quản lý này là chặt chẽ. Việt Nam khác nước ngoài là mở rộng thị trường
vốn và nhà nước có kiểm soát đồng vốn vào và đồng vốn ra. Trong khi Thái Lan vào thời
điểm năm 1997-1998 tự tin và cho rằng mình nước mạnh, là con rồng Châu Á nên chủ
quan trong việc kiểm soát vốn. Khi có sự tác động bên ngoài thì bộc lộ những khiếm
khuyết, những khuyết tật của nền kinh tế và gây ra sự đổ vỡ, đầu tiên là đổ vỡ bong bóng
bất động sản. Khi sản phẩm bất động sản, những tòa nhà biệt thự cao cấp không người ở,
mà sản phẩm này kết thành bao nhiêu công sức về đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, các
dịch vụ đi kèm bị phá sản hàng loạt. Và Việt Nam hiện nay có phần khá giống kịch bản
của Thái Lan trước đây chính là nhà cao cấp thì dư thừa, nhà ở xã hội thu nhập thấp thì