1 NHẬP MÔN
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
2
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu môn Pháp luật đại cương
Nhà nước và pháp luật (NN&PL) là những hiện tượng xã hội có vị trí trọng
tâm và quan trọng nhất trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp. Điều
này được thể hiện ở chỗ:
- NN&PL có cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất so với các hiện
tượng khác thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội (XH) có giai cấp;
- NN&PL là công cụ hữu hiệu nhất để giai cấp thống trị bảo vệ lợi ích và
củng cố địa vị thống trị của mình;
- NN&PL là yếu tố không thể thiếu được để thiết lập và duy trì trật tự; bảo
đảm cho xã hội ổn định qua đó tạo tiền đề cho sự phát triển.
Vì vậy, việc nghiên cứu môn Pháp luật đại cương không chỉ có ý nghĩa về mặt
lý luận mà còn có lý nghĩa rất lớn về mặt thực tiễn. Nắm vững kiến thức môn học
Môn học PLĐC gồm 03 đơn vị học trình, với thời lượng 45 tiết học. Nội dung
môn học được kết cấu gồm 05 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về nhà nước và nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
- Chương 2: Những vấn đề chung về pháp luật.
- Chương 3: Cơ chế điều chỉnh của pháp luật.
- Chương 4: Hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Chương 5: Khái quát về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
hình thành trên cơ sở sự phát triển tự nhiên của gia đình. Điển hình cho trường phái
này là Aristotle, cho rằng: Xã hội đầu tiên của loài người là xã hội của những người
đàn ông và đàn bà trong một gia đình và sau đó là xã hội của nhiều gia đình được
tạo nên do sự thuận lợi lẫn nhau và sự bền vững của chúng được gọi là cái làng và
cái làng một cách tự nhiên nhất bao gồm có tổ tiên, con cháu của họ. Sau đó, mỗi
gia đình lại trở thành một cái nhánh của gia đình lớn, được chỉ huy bởi một người
già nhất và cứ thế cấu thành các bang đầu tiên được cai trị bởi các nhà vua. Khi
nhiều làng như vậy hoàn toàn hợp nhất với nhau ở mọi khía cạnh thì tạo thành một
xã hội, xã hội ấy chính là một thành bang. Mỗi thành bang về nguồn gốc là sản
phẩm của tự nhiên. Về bản chất, quyền lực NN cũng giống như quyền gia trưởng
của người đứng đầu trong gia đình nhưng ở cấp độ và phạm vi rộng lớn hơn.
Điểm hợp lý trong quan điểm của Aristotle là ông cho rằng NN xuất hiện từ xã
hội và do nhu cầu quản lý, cai trị xã hội. Tuy nhiên, đây là quan điểm thiếu khách
quan, chưa đầy đủ và có phần giản đơn hoá về nguồn gốc NN. Hạn chế của quan
điểm này là thừa nhận về sự bất bình đẳng, sự nô dịch và thống trị của một nhóm
người trong xã hội là điều tự nhiên.
Đến khoảng thế kỷ 16, 17, 18 đã xuất hiện hàng loạt quan điểm mới về nguồn
gốc nhà nước. Nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của NN phong kiến, đòi
quyền bình đẳng cho giai cấp tư sản trong việc nắm giữ quyền lực NN, đa số các
5
học giả tư sản cho rằng nguồn gốc NN bắt nguồn từ sự thoả thuận tự nguyện của
mọi người trong trạng thái tự nhiên nhằm bảo tồn cuộc sống, tự do và tài sản; nghĩa
là quyền lực NN thuộc về nhân dân, do nhân dân uỷ quyền để quản lý xã hội. Vì
vậy, NN phải phản ánh lợi ích các thành viên trong XH, phải phục vụ và bảo vệ lợi
ích của họ. Nếu NN không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên của con
người bị xâm hại thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền huỷ bỏ khế ước
này để thay thế bằng một khế ước khác. Nghĩa là lật đổ NN này để thay thế bằng
một NN khác thực hiện sứ mệnh đó.
Các học giả tiêu biểu của thuyết này là John Locke (1632-1704); S.L
thắng tổ chức ra một cơ quan đặc biệt, đó là nhà nước để cai trị kẻ chiến bại. Các
học giả của thuyết tâm lý lại cho rằng, nhà nước xuất hiện do nhu cầu tâm lý của
con người nguyên thủy vốn luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, các giáo sĩ là
những lãnh tụ của họ; vì vậy, nhà nước là tổ chức của những vị lãnh tụ đó để che
6
chở, chăm lo và lãnh đạo xã hội. Ngoài ra còn có quan niệm “nhà nước siêu trái đất”
cho rằng, sự xuất hiện nhà nước là do sự du nhập và thử nghiệm những thành tựu
của một nền văn minh ngoài trái đất, v.v.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, những học thuyết và quan điểm trên chưa
giải thích một cách đúng đắn và đầy đủ về nguồn gốc nhà nước và pháp luật.
1.2. Học thuyết Mác-Lênin về nguồn gốc nhà nước
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc NN được coi là hợp lý nhất
và khoa học nhất. Với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các
nhà kinh điển cho rằng: NN không phải là hiện tượng siêu tự nhiên hay là sản phẩm
tự nhiên; NN cũng không phải hiện tượng vĩnh hằng, bất biến mà là một phạm trù
lịch sử. Nghĩa là, NN có quá trình phát sinh, phát triển, tồn tại và tiêu vong; NN nảy
sinh từ XH, là sản phẩm có điều kiện của XH loài người; NN chỉ xuất hiện khi XH
đã phát triển đến một giai đoạn nhất định và đạt đến một trình độ nhất định. Đó là
khi XH có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; chứng
nào XH có giai cấp và đấu tranh giai cấp thì NN còn tồn tại; NN sẽ tiêu vong khi
những điều điều kiện khách quan đó không còn nữa.
Những luận điểm quan trọng về nguồn gốc NN được Ph.Ăngghen nêu trong tác
phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, sau này được
V.I Lênin bổ sung và phát triển trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”.
Ph.Ăngghen trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và
của nhà nước”, giải thích trong lịch sử loài người “không phải lúc nào cũng đã có
nhà nước. Đã từng có những xã hội không cần đến nhà nước, không có một khái
niệm nào về nhà nước và chính quyền nhà nước cả” (Sđd, NXB Sự thật. hà Nội-
1972, tr.288). Xã hội không cần đến NN trong trường hợp này là xã hội thị tộc của
lao động và phân phối sản phẩm làm ra.
Quyền lực cao nhất trong thị tộc là Hội đồng thị tộc, bao gồm tất cả các thành
viên đã trưởng thành, nam cũng như nữ. Trong Hội đồng thị tộc mọi người đều tự
do, bình đẳng với nhau về mọi vấn đề khi giải quyết những công việc của thị tộc.
Hội đồng bầu ra Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự để thay mặt Hội đồng điều hành các
hoạt động chung và chỉ huy quân sự. Những người này có quyền lực rất lớn nhưng
không tổ chức bộ máy cưỡng chế mà dựa trên cơ sở uy tín cá nhân, sự tín nhiệm và
sự ủng hộ của các thành viên trong thị tộc. Tù trưởng, chỉ huy quân sự cùng sinh
sống, cùng lao động và hưởng thụ thành quả lao động như những người khác; không
có đặc quyền, đặc lợi; họ chịu sự giám sát của Hội đồng thị tộc và có thể bị Hội
đồng thị tộc phế truất nếu không còn có uy tín. Đặc điểm của quyền lực trong xã hội
CXNT là không tách rời cộng đồng mà thuộc về công đồng, gắn liền với cộng đồng
và do cộng đồng tổ chức ra để phục vụ lợi ích cho cả cộng đồng; không có bộ máy
cưỡng chế riêng. Cách thức tổ chức quyền lực ở bào tộc, bộ lạc và liên minh các bộ
lạc cũng tương tự như trong thị tộc nhưng có sự tập trung quyền lực cao hơn, vì
tham gia vào Hội đồng của các tổ chức này chỉ gồm tù trưởng và thủ lĩnh quân sự
của các thị tộc.
Tóm lại, trong chế độ CXNT “ không có nhà nước, lúc đó các quan hệ xã hội
và ngay cả xã hội nữa, kỷ luật, tổ chức lao động đều duy trì được là nhờ có sức
mạnh của phong tục, tập quán, nhờ có uy tín và sự kính trọng đối với những bô lão
cuaẻ thị tộc, hoặc đối với phụ nữ-địa vị của phụ nữ hồi đó không chỉ ngang với nam
giới mà còn cao hơn nữa, và lúc đó không có một hạng người riêng biệt, hạng
người chuyên môn để bóc lột” (Sđd, tr.270).
b) Sự tan rã của chế độ thị tộc và nhà nước xuất hiện
Mặc dù trong chế độ thị tộc, với trạng thái kinh tế tự nhiên chủ yếu là săn bắt
và hái lượm nhưng lực lượng sản xuất (LLSX) vẫn không ngừng phát triển thông
qua việc cải tiến công cụ sản xuất. Nhờ cải tiến công cụ lao động mà số thú rừng săn
bắt được nhiều hơn. Một số bộ lạc tiên tiến nhất lúc đầu ấy xuất hiện một bộ phận
dân cư chuyên thuần dưỡng thú rừng và sau đó là chăn nuôi gia súc trở thành ngành
lao động chủ yếu của họ. Hệ quả là những bộ lạc du mục tách rời khỏi những bộ lạc
Tác động của sự phân công lao động lần này là:
- Sản xuất không ngừng phát triển, năng suất và giá trị hàng hoá, sản phẩm
tăng cao làm xuất hiện một bộ phận chuyên làm nghề trao đổi sản phẩm, nô lệ trở
thành bộ phận chủ yếu trong xã hội.
- Đất đai trồng trọt được chia cho các gia đình sử dụng. Gia đình bắt đầu trở
thành đơn vị kinh tế của XH. Trong XH ngoài sự phân biệt giữa người tự do với nô
lệ đã xuất hiện sự phân biệt giữa kẻ giàu với người nghèo.
- Sự liên minh các bộ lạc cùng thân tộc dẫn đến sự hợp nhất những lãnh thổ
riêng của các bộ lạc thành lãnh thổ chung của bộ tộc; quyền lực của thủ lĩnh quân sự
ngày càng được nâng cao, tập quán lựa chọn người kế thừa thủ lĩnh quân sự trong
cùng một gia đình được hình thành theo kiểu thế tập, đó là cơ sở của chế độ vương
quyền thế tập và quý tộc thế tập.
Hệ quả của lần phân công lao động về mặt xã hội là: “toàn bộ chế độ thị tộc
chuyển hoá thành cái đối lập với nó: từ một tổ chức của các bộ lạc nhằm giải quyết
một cách tự do những công việc của mình, nó đã trở thành một tổ chức để cướp bóc
và áp bức láng giềng Các cơ quan của nó, lúc đầu là công cụ của ý chí nhân dân,
thì nay đã trở thành những cơ quan độc lập của sự thống trị và áp bức, nhằm chống
9
lại ngay chính nhân dân” (PH. Ăng –ghen, “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước”, Sđd, tr.273).
Việc xã hội loài người phát hiện ra kim loại, biết sử dụng và cải tiến công cụ
lao động bằng kim loại đã làm cho năng xuất lao động không ngừng gia tăng, của
cải làm ra không những đủ để cung cấp cho nhu cầu của xã hội mà còn có sự dư
thừa. Từ đây xuất hiện nhu cầu trao đổi sản phẩm lao động làm ra của cộng đồng
người nguyên thủy giữa các khu vực khác nhau. Cùng với năng suất lao động không
ngừng tăng lên, xã hội loài người đã biết sử dụng đồng tiền làm thước đo giá trị sản
phẩm trao đổi đã kích thích quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa càng ngày càng
tăng lên; từ đó xuất hiện một bộ phận dân cư chuyên làm nghề trao đổi, buôn bán
sản phẩm làm cho xuất hiện một ngành nghề mới, đó là thương nghiệp. Ngành
các giai cấp đối lập nhau và mâu thuẫn ngày càng gay gắt. “Muốn cho những mặt
đối lập đó, những giai cấp có quyền lợi kinh tế mâu thuẫn đó, không đi đến chỗ tiêu
10
diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội trong một cuộc đấu tranh vô ích, thì cần
phải có một lực lượng cần thiết, một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có
nhiệm vụ làm dịu sự xung đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”. Và
lực lượng đó, nảy sinh từ xã hội, nhưng lại đứng trên xã hội và ngày càng xa rời xã
hội, chính là Nhà nước” (PH. Ăng - ghen, “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước”, Sđd, tr.282).
Theo PH. Ăng - ghen thì nhà nước ra đời là để thay thế cho chế độ thị tộc, nó
nảy sinh từ nhu cầu quản lý, thống trị xã hội có giai cấp để thiết lập và giữ gìn trật
tự xã hội ấy, nó “tựa hồ như đứng trên các giai cấp đang đấu tranh với nhau, đã
dập tắt cuộc xung đột công khai giữa họ và cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai
cấp diễn ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức được mệnh danh là hợp
pháp” (PH. Ăng - ghen, “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”,
Sđd, tr.280).
Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, khi
nghiên cứu về nguồn gốc nhà nước, V.I. Lênin đưa ra định nghĩa về nhà nước như
sau: Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hoà được. Bất kỳ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào về mặt khách quan, những
mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được thì nhà nước xuất hiện. Ngược lại, sự
xuất hiện nhà nước chứng tỏ những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được.
Như vậy, theo quan điểm của Học thuyết Mác - Lênin thì quá trình hình thành
nhà nước là một tất yếu khách quan của tiến trình vận động và phát triển xã hội. Sự
phát triển của lực lượng sản xuất đã từng bước tạo ra những điều kiện làm tan rã nền
tảng của chế độ thị tộc và cũng từng bước đưa đến sự xuất hiện các yếu tố làm tiền
đề cho sự hình thành nhà nước. Sự chuyển đổi của nền kinh tế xã hội làm xuất hiện
chế độ tư hữu tài sản, dẫn đến sự phân hóa xã hội CXNT thành những kẻ giàu,
người nghèo; xuất hiện giai cấp, mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là
chiến thắng đế chế La Mã và xâm chiếm một vùng đất đai rộng lớn của người La
Mã.
- Những nhà nước Phương Đông cổ đại được xem là những nhà nước ra đời
sớm nhất trong lịch sử xã hội nhân loại, đó là các nhà nước: Ai Cập, Babilon, Ấn
Độ, Trung Quốc, v.v. Những nhà nước này xuất hiện không chỉ thuần tuý do đối
kháng và mâu thuẫn giai cấp mà còn do nhu cầu bảo vệ lợi ích chung của cộng
đồng, như nhu cầu tổ chức và quản lý việc xây dựng các công trình thuỷ nông nhằm
trị thủy, làm thuỷ lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, nhu cầu tự vệ để chống lại kẻ
thù xâm lược từ bên ngoài, v.v. Chính những nhu cầu đó đã làm cho quyền lực xã
hội của thị tộc, bộ lạc chuyển hóa dần thành quyền lực nhà nước; quyền lực thế tập
của thủ lĩnh quân sự chuyển hóa dần thành quyền lực thế tập của nhà vua và tầng
lớp quý tộc; bộ máy của thị tộc, bộ lạc được chuyển hóa dần thành bộ máy quản lý
của nhà nước.
Tóm lại, tùy thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện kinh tế xã hội, hoàn cảnh lịch sử
và phong tục tập quán ở từng khu vực khác nhau mà có sự khác nhau về sự xuất
hiện của các nhà nước. Tổ chức đó do giai cấp chiếm được ưu thế về kinh tế tổ
chức ra để thực hiện sự thống trị giai cấp, dập tắt sự xung đột công khai giữa các
giai cấp, giữ các xung đột ấy trong vòng một trật tự, bảo vệ lợi ích và địa vị của
giai cấp thống trị. Đó là nhà nước.
d) Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước XHCN ra đời là kết quả đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản và
nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Cách mạng mỗi nước có
những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử và tương quan lực lượng khác nhau cho nên sự
ra đời của các nhà nước XHCN cũng như việc tổ chức nhà nước kiểu mới có
những đặc điểm khác nhau. Nghĩa là mỗi nước đều phải lựa chọn cho mình những
phương pháp và hình thức tổ chức nhà nước thích hợp.
Công xã Pari “là hình thức phôi thai” của một kiểu nhà nước mới, ra đời trong
cuộc khởi nghĩa vũ trang ngày 18/3/1871 của công nhân Pari. Mặc dù còn còn hết
sức sơ khai nhưng Công xã Pari, trên thực tế được tổ chức và hoạt động như một
nhà nước kiểu mới - nhà nước xã hội chủ nghĩa.
bầu cử trực tiếp còn Xô viết cấp tỉnh trở lên bầu cử gián tiếp. Sau này, Hiến pháp
năm 1936 của Liên Xô (cũ) đã có những sửa đổi phù hợp với tình hình kinh tế xã
hội của đất nước.
Nhà nước dân chủ nhân dân ra đời sau chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là
chính quyền liên hiệp của nhiều giai cấp được tập hợp trong mặt trận dân tộc
chống phát xít, chống thực dân, đế quốc xâm lược (lấy liên minh giai cấp công
nông làm nòng cốt) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (các Đảng phái khác thừa
nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản). Nhà nước dân chủ nhân dân được thiết
lập bằng hình thức bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ
phiếu kín.
1.3. Đặc trưng của nhà nước
Những đặc trưng căn bản của Nhà nước được hiểu là những dấu hiệu riêng
giúp phân biệt được với các tổ chức khác trong xã hội, cụ thể là:
- Nhà nước tổ chức và phân chia dân cư theo lãnh thổ.
13
- Nhà nước thiết lập quyền lực công đặc biệt (công quyền) để buộc dân chúng
phải phục tùng. Công quyền gồm không chỉ những người được vũ trang như quân
đội, cảnh sát mà còn có công cụ vất chất phụ thêm như nhà tù và đủ các loại cơ quan
cưỡng bức mà xã hội thị tộc không hề biết đến.
- Nhà nước ban hành pháp luật.
- Nhà nước đặt ra các loại thuế và tiến hành thu thuế để duy trì bộ máy cai trị.
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không
tách rời nhà nước. Chủ quyền quốc gia được thể hiện trên các phương diện: Quyền
tự quyết của nhà nước về tất cả các vấn đề thuộc chính sách đối nội và đối ngoại;
quyền lực nhà nước có hiệu lực trên toàn phạm vi lãnh thổ; làm xuất hiện quan hệ
về quốc tịch, tức là mối quan hệ ràng buộc giữa nhà nước và công dân về quyền và
nghĩa vụ.
2. Bản chất của nhà nước
Bản chất nhà nước là vấn đề trọng tâm và phức tạp của Lý luận nhà nước và
1
Giáo trình Triết học Mác-Lênin. NXB Chính trị Quốc gia. Hà Nôi-1999, tr.275
2
V.I Lênin, Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va - 1976, tr.16
14
đặc biệt trong tay giai cấp thống trị để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, đồng thời
thông qua nhà nước, giai cấp thống trị có thể biến ý chí của mình thành pháp luật,
thành các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung cho mọi thành viên trong xã hội
phải phục tùng. Chính nhờ nhà nước mà giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai
cấp thống trị về chính trị, nắm giữ quyền lực chính trị. Quyền lực chính trị là bạo
lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp các giai cấp khác. Nhà nước chính là
bạo lực có tổ chức của giai cấp thống trị xã hội để trấn áp các giai cấp khác.
Hơn thế nữa, thông qua nhà nước, giai cấp thống trị ban hành pháp luật, nắm
giữ, kiểm soát các phương tiện thông tin đại chúng nhằm áp đặt ý chí, hệ tư tưởng
của mình lên toàn xã hội. Dó đó, nhà nước trở thành công cụ để xác lập, bảo vệ hệ
tư tưởng thống trị xã hội.
Tuy nhiên, ngoài tính giai cấp, nhà nước còn mang tính xã hội, bởi NN sinh ra
từ XH và không chỉ do nhu cầu của giai cấp thống trị mà còn do nhu cầu tổ chức,
điều hành và quản lý XH. Ngoài lợi ích giai cấp, nhà nước trong chừng mực nhất
định còn phải chăm lo cho đời sống và sự tiến bộ xã hội. Với tư cách là tổ chức
quyền lực công, nhà nước là người đại diện chính thức cho xã hội và nhân danh xã
hội. Ngoài việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ giai cấp, nhà nước còn phải
giải quyết những vấn đề xã hội đã và đang đặt ra trong thực tiễn đời sống, như vấn
đề nghèo đói, dịch bệnh, môi trường, giáo dục, y tế, văn hoá, xây dựng hạ tầng cơ
sở, v.v.
Tính giai cấp và tính xã hội là những thuộc tính chung của tất cả các kiểu nhà
nước nhưng các kiểu nhà nước khác nhau thì có sự biểu hiện khác nhau. Kiểu nhà
nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến thì tính giai cấp có tính nổi trội hơn
3. Chức năng của nhà nước
Chức năng nhà nước luôn gắn liền với bản chất nhà nước, bởi chức năng nhà
nước thể hiện bản chất nhà nước. “Chức năng của nhà nước tức là vai trò xã hội
của nhà nước”
3
.
Dưới góc độ chung nhất, có thể hiểu chức năng nhà nước là những phương diện
hoạt động cơ bản, thể hiện bản chất của nhà nước, do cơ sở kinh tế, xã hội quyết
định, nhằm thực hiện nhiệm vụ của nhà nước trong từng giai đoạn nhất định.
Cần phân biệt chức năng với nhiệm vụ của nhà nước. Những công việc mà nhà
nước phải thực hiện trong một thời gian nhất định để đạt được mục đính đã xác
định trước gọi là nhiệm vụ của nhà nước. Tuỳ theo yêu cầu của từng giai đoạn mà
nhiệm vụ của nhà nước được chia thành hai loại: Nhiệm vụ cơ bản (chiến lược) và
nhiệm vụ cụ thể (trước mắt). Nhiệm vụ cơ bản có vai trò quyết định đối với việc
xác định và thực hiện chức năng; còn nhiệm vụ cụ thể của nhà nước là nhằm giải
quyết và thực hiện những mục tiêu, những yêu cầu của thực tiễn công tác quản lý,
thực tiễn đời sống đặt ra.
Chức năng của nhà nước rất đa dạng và phong phú cho nên có nhiều tiêu chí để
phân loại. Khoa học pháp lý nước ta có cách phân loại phổ biến là căn cứ vào
phạm vị hoạt động của nhà nước để phân chia chức năng nhà nước thành hai loại.
Thứ nhất, chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước
trong nội bộ đất nước, như chức năng trấn áp và chức năng tổ chức, xây dựng.
Thứ hai, chức năng đối ngoại là những hoạt động cơ bản của nhà nước thể hiện
mối quan hệ của một nhà nước với các quốc gia, các dân tộc khác cũng như các tổ
chức quốc tế. Hai chức năng này của nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen
lẫn nhau và cùng tương tác, hỗ trợ trợ nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ của nhà
nước.
Cũng có một số cách khác để phân loại chức năng nhà nước, như:
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, có thể phân chia chức năng của nhà nước
thành nhiều loại, như: Chức năng quản lý điều hành nền kinh tế, chức năng quản
bản đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn
tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định. Cơ
sở để xác định kiểu nhà nước là học thuyết Mác-Lênin về các hình thái kinh tế
xã hội. Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của xã hội
có giai cấp. Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế – xã hội sẽ quyết định
những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng.
Có 4 kiểu nhà nước (phù hợp với 4 hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử của xã
hội có giai cấp: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ
nghĩa)
Kiểu Nhà nước chủ nô
- Đây là nhà nước đầu tiên trong lịch sử, ra đời khi chế độ thị tộc, bộ lạc tan rã.
Nhà nước chủ nô tồn tại trên cơ sở phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ,
đặc trưng là chế độ sở hữu của chủ nô đối với TLSX và nô lệ.
- Xã hội có 2 giai cấp chính là chủ nô và nô lệ, nô lệ chiếm số đông. Ngoài ra
còn có thợ thủ công, công dân tự do, những người lệ thuộc nhà thờ hoặc kinh
tế nhà vua…
- Nhà nước chủ nô là công cụ bạo lực, duy trì sự thống trị về kinh tế, chính trị,
tinh thần, đàn áp một cách có tổ chức của giai cấp chủ nô đối với nô lệ và
nông nô.
- Chức năng đối ngoại nổi bật là tiến hành chiến tranh xâm lược, mở rộng
phạm vi lãnh thổ.
17
- Bộ máy nhà nước ban đầu đơn giản, còn mang dấu ấn của tổ chức thị tộc, chủ
nô vừa lãnh đạo quân đội, vừa đại diện chính quyền, vừa ban hành pháp luật,
vừa là quan toà.
Kiểu Nhà nuớc phong kiến
- Nhà nước phong kiến ra đời trên cơ sở thay thế nhà nước chủ nô, xoá bỏ chế
độ nô lệ. Cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối
với tư liệu sản xuất.
nhà nước mới ra đời.
b. Tiền đề chính trị – xã hội: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và vô sản ngày càng
trở nên gay gắt. Nhà nước tư sản ngày càng sử dụng nhiều biện pháp phản
động, quan liêu, độc tài nhưng được che đậy dưới các hình thức dân chủ. Với
18
sự phát triển của nền sản xuất TBCN, giai cấp vô sản ngày càng phát triển về số
lượng và chất lượng, tính tổ chức, kỷ luật, trở thành giai cấp lãnh đạo xã hội,
tiến hành cuộc CM giải phóng áp bức, bóc lột, thiết lập kiểu nhà nước mới của
giai cấp mình.
Trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, các ĐCS đã được thành lập để lãnh
đạo phong trào CM và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến sự thắng lợi của
CM.
c. Điều kiện về lịch sử, thời đại, yếu tố dân tộc ở từng quốc gia, từng vùng trên
thế giới cũng là nguyên nhân tác động đến quá trình ra đời của nhà nước
XHCN.
- Cơ sở kinh tế của nhà nước XHCN là QHSX XHCN dựa trên chế độ công
hữu về TLSX chủ yếu của xã hội.
- Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo nhà nước và xã hội, quyền lực nhà
nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
- Nhà nước XHCN là công cụ thống trị của đa số nhân dân lao động đối với
thiểu số bóc lột, với mục tiêu xây dựng xã hội bình đẳng, tự do, dân chủ.
Các nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản mặc dù mỗi kiểu có những đặc điểm
riêng, nhưng chúng đều là những kiểu nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ
sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Các nhà nước đó đều là “Nhà nước
theo đúng nghĩa” là công cụ để bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, duy trì
sự thống trị của giai cấp bóc lột với đông đảo quần chúng nhân dân lao động.
Nhà nươc xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới có bản chất khác hẳn với các
kiểu nhà nước bóc lột, nhà nước xã hội chủ nghĩa là “công cụ của chế độ làm
chủ tập thể xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ
của quyền lực nhà nước, xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan đó với nhau và với
nhân dân.
Hình thức chính thể của nhà nước, bao gồm hai dạng cơ bản là chính thể quân
chủ và chính thể cộng hoà.
Chính thể quân chủ là hình thức nhà nước mà cơ quan cao nhất của quyền lực
nhà nước là quốc vương (nhà vua, hoàng đế) lên ngôi theo nguyên tắc thế tập
(truyền ngôi) hoặc suy tôn.
Chính thể quân chủ gồm có hai dạng là quân chủ chuyên chế (tuyệt đối) và
quân chủ lập hiến (hạn chế).
Quân chủ chuyên chế (tuyệt đối) là hình thức nhà ước mà nhà vua có quyền lực
tối cao trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhà vua cai trị một
cách chuyên quyền, độc đoán, theo ý chí cá nhân của mình mà không bị hạn chế.
Aristotle trong tác phẩm “Politics” đã chỉ rõ: “Chính thể chuyên chế là chính thể
mà một người có quyền lực tuyệt đối và bạo ngược đối với toàn thể cộng đồng và
mỗi thành viên trong đó”. Đây là hình thức phổ biến của kiểu nhà nước phong
kiến vào thời trung cổ. Hiện nay hình thức này hầu như không tồn tại trên thực tế.
Quân chủ hạn chế là hình thức nhà nước mà quyền lực của nhà vua bị hạn chế
bởi hiến pháp hoặc cơ quan khác. Trong hình thức này, nhà vua chỉ nắm giữ một
phần quyền lực tối cao của nhà nước, bên cạnh vua còn có cơ quan khác (thường
là nghị viện) để chia sẻ hoặc hạn chế quyền lực của nhà vua.
Chính thể cộng hoà là hình thức nhà nước mà cơ quan cao nhất của quyền lực
nhà nước được thiết lập theo nguyên tắc bầu cử.
Chính thể Cộng hoà, bao gồm hai loại: Cộng hoà quý tộc và cộng hoà dân chủ.
Cộng hoà quý tộc là hình thức chính thể mà quyền bầu cử chỉ được quy định
cho tầng lớp quý tộc hoặc những người có tài sản lớn.
Cộng hoà dân chủ là hình thức chính thể mà quyền bầu cử được quy định rộng
rãi cho mọi tầng lớp nhân dân khi họ có đủ điều kiện nhất định.
Trên thực tế thì hình thức chính thể quân chủ cũng như hình thức chính thể
cộng hoà còn có nhiều dạng biến thể khác nhau tuy theo điều kiện, hoàn cảnh và
pháp luật của mỗi nước.
Trong lịch sử xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị sử dụng nhiều phương pháp
để thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng nhìn chung được ra hai loại chính là
phương pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ.
Dân chủ là chế độ mà nhân dân có quyền tham gia vào việc tổ chức, hoạt động,
quyết định những vấn để quan trọng của nhà nước. Ngay nay, đa số các quốc gia
trên thế giới đều thiết lập chế độ chính trị theo phương pháp dân chủ. Tuy nhiên
tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, phong tục, tập quán và pháp luật khác nhau mà việc
sử dụng phương pháp này có sự khác nhau; ngay trong một nhà nước, tuỳ theo
từng giai đoạn khác nhau thì việc sử dụng phương pháp này cũng có sự khác nhau.
Xu thế chung là phương pháp dân chủ ngày càng được sử dụng một cách rộng rãi.
Vì dân chủ vốn là sự tiến bộ, là giá trị nhân văn của nhân loại.
Phản dân chủ là chế độ mà nhân dân bị hạn chế hoặc không có quyền tham gia
vào các công việc của nhà nước. Phương pháp này được sử dụng một cách phổ
biến trong kiểu nhà nước phong kiến (hình thức quân chủ chuyên chế). Vào những
năm 70, 80 của thế kỷ 20, một số nước vẫn còn sử dụng phương pháp này như chế
độ phân biệt chủng tộc Apacthai ở Nam Phi, chế độ diệt chủng Khơme Đỏ ở
Cămphuchia.
4
Nga có 21 nước cộng hòa, Diện tích tổng cộng khoảng 17.075.400 km², là đất nước có diện tích rộng nhất thế giới
5
Đức có 16 bang
6
Myanma có 7 bang : Bang Chin; Bang Kachin; Bang Kayin; Bang Kayah; Bang Mon; Bang Rakhine; Bang
Shan.
21
II. NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1. Sự ra đời của nhà nước Việt Nam
Theo sử sách thì ở nước ta, các thời đại Hùng Vương tồn tại trong khoảng trên
nước Công nông đầu tiên trên bán đảo Đông Dương.
Năm 1954, sau hơn chín năm chiến tranh chống thực dân Pháp, với chiến dịch
Điện Biên Phủ thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và tiến lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội, miền Nam tạm thời còn bị chia cắt và bị đế quốc Mỹ đô hộ.
Thắng lợi của chiến dịch mùa xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh tan đế
quốc Mỹ và chế độ nguỵ quyền Sài Gòn, đất nước thống nhất và cả nước đi lên
xây dựng CNXH, con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và cả dân tộc
Việt Nam lựa chọn. Năm 1976, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được đổi tên
thành nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
22
2. Bản chất Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thuộc kiểu nhà nước XHCN là nhà nước
kiểu mới, có bản chất khác với bản chất của các kiểu nhà nước bóc lột. Bản chất
nhà nước XHCN do cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa và đặc điểm của quyền lực
chính trị của chủ nghĩa xã hội quyết định.
Ra đời từ cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngay từ những ngày đầu, nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thể hiện bản chất của một nhà nước gắn bó
máu thịt và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Trải qua
hơn ba mươi năm chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thắng lợi, đất
nước ta hoàn toàn giải phóng, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên cả nước đi
lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bản chất của nhà nước ta được khẳng định tại Điều 1, Hiến pháp năm 1946 -
bản Hiến pháp đầu tiên: “ Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả
quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi
giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” và tiếp tục được khẳng định tại các
bản Hiến pháp tiếp theo (Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980, và Hiến pháp
1992), cụ thể là tại Điều 2, Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) ghi rõ: “Nhà nước
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
nhà nước ta là nhà nước của khối đại đoàn kết các dân tộc anh em cùng chung sống
trên lãnh thổ Việt Nam. Mọi hành vi chia rẽ, kỳ thị, làm phương hại đến khối đại
đoàn kết dân tộc đều bị nghiêm cấm và trừng trị.
Thứ ba, nhà nước thể hiện tính xã hội rộng lớn.
Mặc dù nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, nhưng nhà nước ta
phản ánh và bảo vệ lợi ích của cả dân tộc. Vì lợi ích của giai cấp công nhân về cơ
bản thống nhất với lợi ích của giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và lợi ích của
toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhà nước ngoài chức năng trấn áp, còn đặc biệt quan tâm giải quyết các vấn đề
của toàn xã hội, như việc làm, thất nghiệp, xoá đói, giảm nghèo, chăm sóc sức
khỏe nhân dân, giúp đỡ người già cô đơn, trẻ mồ côi, v.v.
Thứ tư, nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN
Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước trong lịch sử nhân loại
mà ở nhà nước đó thượng tôn và đề cao vai trò của pháp luật trong việc “cai trị”,
quản lý xã hội. Ở nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể (bao gồm cá nhân, tổ chức và
cả nhà nước) đều thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật, coi pháp
luật là thước đo tính đúng đắn, tính hợp pháp trong hành vi hoạt động của mình.
Công cụ quan trọng và hữu hiệu nhất mà nhà nước sử dụng để quản lý xã hội cũng
như để kiểm soát hoạt động của nhà nước là pháp luật.
Ngoài những yêu cầu chung của nhà nước pháp quyền nêu trên, nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam còn có những đặc trưng riêng, cụ thể:
- Quyền lực nhà nước là thống nhất không có sự phân chia nhưng được phân
định rõ ràng và có sự phân công trong việc thực hiện ba quyền: Lập pháp, hành
pháp và tư pháp.
- Hệ thống pháp luật mang đậm tính nhân văn, trong đó văn bản Luật có vị trí
tối thượng.
- Cở sở kinh tế của nhà nước cũng như của pháp luật được xây dựng trên nền
tảng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
- Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi hoạt
đối ngoại.
a) Các chức năng đối nội
- Chức năng tổ chức và quản lý nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định
hướng XHCN.
Nhà nước XHCN không những là tổ chức quyền lực chính trị, mà còn là đại
diện chủ sở hữu các TLSX chủ yếu trong xã hội; trực tiếp tổ chức vận hành và
quản lý nền kinh tế. Nhằm mục đích xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chủ
nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Nội
dung của chức năng này gồm ba vấn đề then chốt: Xác lập và hoàn thiện QHSX xã
hội chủ nghĩa để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển; xác lập và củng cố cơ chế
mới về quản lý kinh tế; thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, bảo đảm
công bằng và giải quyết tốt các vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình vận hành
nên kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Chức năng tổ chức và quản lý nền văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ.
Mục đích của việc thực hiện chức năng này nhằm xây dựng nền văn hoá mới,
con người mới, lối sống mới; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài; thiết lập nền khoa học, công nghệ tiên tiến phục vụ đắc lực công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Về văn hoá, nhà nước bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; kế thừa và
phát huy những giá trị của nền văn hiến Việt Nam; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
25
loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân; nghiêm cấm truyền bá tư
tưởng và văn hoá phản động, đồi truỵ; bài trừ mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu.
Về giáo dục, nhà nước xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương
trình, nội dung, văn bằng chứng chỉ; thực hiện mạnh mẽ chủ trương xã hội hoá
công tác giáo dục.
Về khoa học công nghệ, nhà nước ưu tiên đầu tư cho khoa học công nghệ, đặc
biệt những ngành khoa học mũi nhọn; phát triển đồng bộ các ngành khoa học, đổi
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việc thực hiện chức năng này thông qua nhiều hình
thức, như ký kết hoạc tham gia các điều ước quốc tế về bảo vệ hoà bình, quyền
con người và các vấn đề có tính toàn cầu; trực tiếp tham gia các tổ chức quốc tế để
đấu tranh, giữ gìn hoà bình và những giá trị của nhân loại.