Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
1 Hoạt động ngân hàng Việt Nam- Nhìn lại năm 2011 và một số giải pháp cho năm 2012
NGND. PGS. TS. Tô Ngọc Hưng
ThS. Nguyễn Đức Trung
Trong bức tranh toàn cảnh của kinh tế thế giới năm 2011 với những nét cơ bản gồm “tăng
trưởng chậm, không cân bằng và luôn bất ổn”, nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi
tình trạng tăng trưởng thấp đi kèm với lạm phát cao. Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng
Việt Nam cũng đã trải qua một năm đầy khó khăn. Ngay từ đầu năm 2011, thực hiện tinh thần
Nghị quyết 11/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành
chính sách tiền tệ với mục tiêu trọng tâm là kiềm chế lạm phát. Một số kết quả nổi bật đã đạt
được như: (i) Tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán đạt chỉ tiêu đề ra; (ii) các
biện pháp có tính hành chính như trần lãi suất huy động đã giải quyết một số bất ổn vĩ mô
trước mắt; (iii) dòng vốn tín dụng bước đầu đã được định hướng tốt hơn vào khu vực sản xuất
nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như sản xuất hàng xuất khẩu; (iv) thị
trường ngoại tệ và điều hành chính sách tỷ giá có nhiều chuyển biến tích cực; (v) việc kiểm
soát hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) được cải thiện thông qua những đổi mới
trong điều hành của NHNN như việc xây dựng nhóm G12, và tăng cường kỷ cương của thị
trường tài chính ngân hàng…
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu kể trên, vẫn còn một số những tồn tại cố hữu
trong hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam. Bài viết phân tích các tồn tại trong hoạt
động của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2011 và đưa ra một số giải pháp cho năm 2012.
1. Những tồn tại trong hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam năm 2011
Những bất cập chính trong hoạt động của các NHTM Việt Nam tựu trung gồm: (i) Tốc độ
tăng trưởng tổng tài sản và tín dụng chậm lại nhưng không đi kèm với nâng cao chất lượng tín
nợ xuống mức 22% đến 30/6/2011 và 16% đến 31/12/2011, khiến cho những nhu cầu vay vốn
khác của người dân như mua nhà để ở, xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp… không
được đáp ứng khi tỷ trọng dư nợ cho vay phi sản xuất của NHTM đã đạt tỷ lệ quy định. Đây
là một thực tế khó khăn đối với các NHTMCP quy mô nhỏ, do vừa phải tăng vốn điều lệ lên
mức tối thiểu theo quy định là 3.000 tỷ đồng nhưng không thể mở rộng tín dụng, khiến cho
hiệu quả sinh lời bị ảnh hưởng rõ rệt. Chỉ đến giữa tháng 11/2011, NHNN mới ban hành văn
bản loại trừ bốn nhóm dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất nhằm tạo điều kiện cho các
NHTM mở rộng cho vay các nhu cầu kể trên.
Xét trên góc độ vĩ mô, mở rộng tín dụng quá mức giảm lợi ích biên của tín dụng với nền kinh
tế Việt Nam. Tốc độ mở rộng tín dụng của Việt Nam kể từ năm 2007 đã tăng nhanh hơn rất
nhiều so với tốc độ tăng trưởng GDP (Hình 3). So với các quốc gia khác trong khu vực, tỷ lệ
Tín dụng/GDP của Việt Nam có sự biến động mạnh trong suốt thập niên đầu thế kỉ 21, khi
tăng từ 44,8% GDP lên mức 135,8% GDP năm 2010 (Hình 4). Từ năm 2007, khi tín dụng
vượt quá GDP, nền kinh tế Việt Nam đã liên tiếp phải đối mặt với nhiều bất ổn kinh tế vĩ mô.
Nhằm đánh giá tác động của việc gia tăng tín dụng với tốc độ cao tới tăng trưởng kinh tế Việt
Nam, chúng tôi đã xây dựng mô hình kinh tế lượng có dạng sau: Hình 3. Tăng trưởng GDP, tín dụng và
tỷ lệ Tín dụng/GDP của Việt Nam
Hình 4. Tỷ lệ Tín dụng/GDP của một số
quốc gia giai đoạn 2001-2010
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
3
**
(-2,587218)
**
Thời kỳ tỷ lệ Tín dụng/GDP lớn hơn 100%:
(2,713685)
**
(-1,858623)
* (2,289505)
**
(2,317125)
**
(-2,348098)
** (2,717401)
**
(3,234798)
**
(-2,587218)
**
Các phương pháp kiểm định khuyết tật cho thấy mô hình không có khuyết tật phương sai sai
số thay đổi, tự tương quan và phần dư có phân phối chuẩn. Qua phân tích kết quả của mô hình
Tỷ lệ nợ xấu
Nhóm TCTD Việt Nam
3,44%
NHTMNN
3,62%
NHTMCP
2,44%
Công ty tài chính
3,11%
Công ty cho thuê tài chính
51,7%
Nhóm TCTD nước ngoài
2,09%
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
1,21%
Ngân hàng liên doanh
4,46%
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
1,63%
Công ty tài chính
5,25%
Công ty cho thuê tài chính
5,88%
Nguồn: Định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam 2011-2015.
Năm 2011 đã bộc lộ nhiều điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Có thể nhận thấy khi
mà tăng trưởng tín dụng chỉ đạt mức thấp thì giá trị các khoản nợ quá hạn, nợ xấu lại tăng
mạnh, tỷ lệ nợ xấu tăng cao, bộc lộ sự suy giảm chất lượng tín dụng và rủi ro tín dụng đã trở
thành mối quan ngại sâu sắc đối với việc quản trị ngân hàng.
Hình 5. Tỷ lệ nợ xấu tính đến tháng
9/2011
2010
9/2011
VCB
2,71%
5,67%
9,91%
15,12%
3,07%
1,88%
2,08%
2,65%
BIDV
18,97%
16,05%
11,17%
10,20%
0,71%
0,62%
1,37%
1,90%
CTG
N/A
1,02%
1,02%
1,36%
N/A
0,27%
0,09%
0,62%
ACB
3,05%
0,19%
1,24%
1,09%
0,82%
HBB
N/A
11,64%
20,18%
23,85%
N/A
1,16%
1,01%
1,87%
NVB
N/A
1,05%
1,52%
1,88%
N/A
0,92%
1,07%
1,14%
Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính quý 3/2011 các NHTM nêu trên.
Do chất lượng các khoản vay bị sụt giảm nên các ngân hàng buộc phải tăng cường trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng. Đặc biệt, các NHTMNN có tỷ lệ trích dự phòng rủi ro tín dụng trên
tổng dư nợ cho vay khách hàng tăng cao hơn rất nhiều so với các NHTMCP. Với tình hình
khó khăn của các doanh nghiệp như hiện nay thì khoản mục trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
được dự báo sẽ tiếp tục tăng lên trong tương lai, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Tuy
nhiên, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của các TCTD Việt Nam vẫn còn quá mỏng so với các
trả tới 4%. Với mặt bằng huy động như vậy, lãi suất cho vay ngoại tệ cao nhất cũng không
quá 9%/năm, thấp hơn nhiều so với mặt bằng lãi suất cho vay VND (20-22%).
Việc các ngân hàng chạy đua gom USD được lý giải nhằm đáp ứng nhu cầu vay của doanh
nghiệp. Tính đến cuối tháng 6/2011, dư nợ tín dụng ngoại tệ tăng 2,3% so với tháng 5/2011 và
tăng đến 23,31% so với cuối năm 2010. Còn nếu so với cùng kỳ năm trước, dư nợ ngoại tệ
tăng 46,3%. Doanh nghiệp khi vay bằng USD đã bán ra, lấy tiền đồng kinh doanh, khiến
nguồn cung ngoại tệ trên thị trường dồi dào. Nhưng khi các hợp đồng vay đáo hạn, doanh
nghiệp lại phải mua USD trả nợ cho ngân hàng, khi đó cầu tăng mạnh, gây áp lực tỷ giá leo
cao. Từ tháng 8 đến cuối năm 2011 là giai đoạn chuẩn bị hàng hóa phục vụ Tết và cũng là chu
kỳ nhập khẩu tăng lên, khiến cho nhu cầu USD tăng mạnh, tỷ giá tại các NHTM luôn trong
tình trạng kịch trần, nhiều NHTM giá thu mua USD bằng giá bán ra. Nguồn cung ngoại tệ
khan hiếm khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn gốc và lãi
các khoản ngoại tệ.
Bên cạnh đó, giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12/2011 chứng kiến chu kỳ tăng giá mạnh của
vàng (nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động đầu cơ của một số tổ chức, cá nhân), nhu cầu tích
trữ vàng sản xuất cuối năm, đã khiến giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới rất nhiều (có
lúc chênh tới hơn 4 triệu đồng một lượng), theo đó kích thích nhu cầu nhập vàng (đặc biệt là
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
7 nhập lậu vàng). Do sự chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới cao đã kích
thích việc gom USD chợ đen để nhập theo đường tiểu ngạch.
(iv) Tỷ lệ nợ xấu quá chênh lệch giữa đánh giá của Việt Nam và các tổ chức quốc tế dẫn đến
những câu hỏi cho ngành Ngân hàng. Trong khi Việt Nam tính tỷ lệ nợ xấu trong 6 tháng đầu
năm 2011 chỉ là 2,72%, thì theo đánh giá của Fitch (một tổ chức có uy tín cao trong đánh giá
xếp hạng tín nhiệm trên thế giới), tỷ lệ này lên đến 13% tổng dư nợ.
Đơn vị: %/năm
Chênh lệch lãi suất cho vay
& huy động của các NHTM
2005
2006
2007
2008
2010
2011
3,42
4,63
4,45
4,62
2,50
5,23
Nguồn: Thống kê của nhóm nghiên cứu
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
8 Tuy nhiên, trước tình hình khó khăn của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói
riêng, mức sinh lời của các NHTM đều có xu hướng giảm so với các năm trước (Hình 11, 12).
Tính đến tháng 10/2011, ROA (tính theo lợi nhuận trước thuế) và ROE của hệ thống ngân
hàng là 1,02% và 10,4%.
Hình 7. Chỉ số ROA tính đến tháng 9/2011
Hình 8. Chỉ số ROE tính đến tháng 9/2011
Indonesia
3,1%
25,9%
Malaysia
1,8%
18,9%
Philippines
1,6%
13,3%
Thailand
1,1%
13,6%
Nguồn: Asia Economic Monitor, December 2011
(còn nữa- kỳ sau đăng tiếp)
1.3. Huy động vốn khó khăn và thanh khoản trở thành mối quan ngại sâu sắc với hệ
thống ngân hàng
(i) Thị trường huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế sụt giảm so với các năm trước
Đối với toàn bộ thị trường, lượng tiền gửi huy động đã suy giảm nhanh chóng. Theo NHNN,
số dư tiền gửi của khách hàng tại các NHTM tháng 10/2011 giảm 0,74% so với tháng 9, còn
tháng 9 giảm 1,07% so với tháng 8 và giảm mạnh nhất là tiền gửi VND. Đến cuối tháng
10/2011, huy động thị trường I đạt 2.819,6 nghìn tỷ đồng, chỉ tăng 8,4% so cuối năm 2010
(bình quân tháng tăng 0,84%; trong khi mức bình quân tháng của năm 2010 là 3,1%).
Tính từ thời điểm tháng 3/2011 khi Thông tư 07 được ban hành, số dư tiền gửi của khu vực
ngân hàng giảm trong 2 tháng kế tiếp đó (tháng 3 và 4/2011). Sau đó, tỷ lệ này tăng trở lại với
biên độ không ổn định. Đáng chú ý là tổng tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại NHTM đã giảm
mạnh trong năm 2011, dẫn đến giảm tốc độ luân chuyển tiền tệ của toàn nền kinh tế. Thêm
vào đó, chính sách trần lãi suất huy động VND ở mức 14% đã gây ra sự suy giảm nguồn vốn
huy động tiền gửi từ dân cư, đồng thời khuyến khích sự tích lũy “đóng băng” dưới các dạng
tiền gửi tiết kiệm bằng VND đảm bảo bằng USD” hoặc sản phẩm “hợp tác đầu tư, nhận vốn
và cho vay theo yêu cầu của bên ủy thác” được phát triển phổ biến trong hệ thống NHTM.
Trước tình hình đó, NHNN tiếp tục ban hành Thông tư số 04/2011/TT-NHNN quy định áp
dụng lãi suất không kỳ hạn trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại các
NHTM. Để đối phó, các khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt trước đây của các NHTM được
chuyển thành các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần hoặc không kỳ hạn. Hơn thế, sự căng thẳng về thanh
khoản thể hiện rõ qua việc niêm yết lãi suất gần như ở mức ngang bằng nhau (và bằng đúng
lãi suất trần 14%) trong các kỳ hạn từ 1 đến 12 tháng tại các ngân hàng trong 5 tháng đầu năm
2011. Với CPI tháng 4/2011 tăng tới 3,32% so với tháng trước, mức tăng cao nhất kể từ tháng
3/2008, và tăng 9,64% so với tháng 12/2010, vượt xa mức chỉ tiêu 7% cho cả năm được Quốc
hội phê duyệt, nhiều NHTM đã dùng nhiều biện pháp “phá trần lãi suất huy động” lên trên
17%/năm, thậm chí có nơi lên tới 20%/năm. Tình hình vi phạm trần lãi suất tiếp diễn cho đến
đầu tháng 9, khi Chỉ thị 02/CT-NHNN ngày 7/9/2011 được ban hành, yêu cầu chấp hành quy
định trần lãi suất huy động của các NHTM là 14%/năm đối với VND; huy động USD là
2%/năm đối với cá nhân và 0,5%/năm đối với tổ chức. Chỉ thị 02/CT-NHNN cũng nêu rõ
những biện pháp xử lý đối với các NHTM cố tình vi phạm trần lãi suất huy động nhằm xác
lập lại kỷ luật thị trường. Tuy nhiên, một số NHTM tiếp tục lách quy định này bằng cách áp
dụng mức lãi suất 14%/năm đối với cả các khoản tiền gửi kỳ hạn ngày, tuần, khiến cho lãi
suất thực tế lên cao hơn 14%/năm. Vì vậy, NHNN đã phải ban hành Thông tư 30/TT-NHNN
ngày 28/9, quy định rõ trần lãi suất huy động 14%/năm được áp dụng đối với tiền gửi VND
có kỳ hạn 1 tháng trở lên, với kỳ hạn dưới 1 tháng và không kỳ hạn, lãi suất huy động tối đa là
6%/năm. Trước những hành động quyết liệt của NHNN, “chính sách trần lãi suất huy động”
đã phát huy tác dụng theo đúng bản chất của nó. Đó là giúp xác định rõ những NHTM hoạt
động không hiệu quả, sử dụng biện pháp cạnh tranh lãi suất huy động nhằm đầu tư vào lĩnh
vực bất động sản.
(iii) Thanh khoản căng thẳng do hệ lụy của “độ trễ” của tăng trưởng tín dụng thiếu hợp lý
trong giai đoạn 2007- 2010
Tình hình thanh khoản của một số NHTM Việt Nam trở nên căng thẳng một phần do tiền gửi
suy giảm trong toàn bộ nền kinh tế, nhưng một phần nguyên nhân quan trọng bắt nguồn từ
việc tăng trưởng tín dụng bất hợp lý trong giai đoạn trước đây. Không tính những ngân hàng
NHTM khác
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
12 Nguồn: Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính quý 3/2011 các NHTM.
Kết quả của việc tốc độ tăng trưởng huy động thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng là tỷ lệ dư
nợ trên huy động ở hầu hết các ngân hàng tăng mạnh trong năm 2011. Một trong những
nguyên nhân khiến cho ba ngân hàng buộc phải thực hiện sáp nhập (NHTMCP Đệ nhất, Sài
Gòn và Việt Nam Tín Nghĩa) là vì ba ngân hàng này đã có những thiếu hụt thanh khoản tạm
thời do mất cân đối kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay. Sự kiện này cho thấy, dù
ngân hàng có tăng trưởng quy mô cao, kết quả kinh doanh có lãi mà khả năng quản trị rủi ro
kém thì nguy cơ rơi vào căng thẳng thanh khoản là hoàn toàn có thể xảy ra, đặc biệt là trong
những thời kỳ thắt chặt chính sách tiền tệ của NHNN.
(v) Thị trường II xuất hiện những biến động bất thường
Từ những khó khăn của thị trường I, một số NHTM có lợi thế huy động vốn trên thị trường I
đã cho vay lại trên thị trường II với mức lãi suất cao và rủi ro thấp hơn so với cho vay khách
hàng, khiến cho nguồn vốn huy động không được cho vay ra nền kinh tế mà di chuyển qua lại
trong hệ thống ngân hàng. Khó khăn thanh khoản tại một số ngân hàng nhỏ có khoản tiền vay
từ các ngân hàng lớn, cộng với thực trạng vay nợ chằng chịt giữa các ngân hàng càng khiến
cho mức độ rủi ro của cả hệ thống ngân hàng Việt Nam trở nên lớn hơn. Lãi suất liên ngân
hàng trong tháng 9/2011, sau 4 tháng liên tục ổn định ở mức 11-12%/năm, đã bật tăng và tại
một số phiên giao dịch trung tuần tháng 10 lên tới 30-40%/năm, đã bộc lộ rõ việc thiếu hụt
thanh khoản tại một số NHTM. Đến tháng 11, khi các ngân hàng đang giao dịch với nhau ở
mức lãi suất 14-16%/năm với các kỳ hạn qua đêm và một tuần, Vietcombank bất ngờ hạ lãi
suất xuống còn ở mức 12-13,5%/năm, nhưng yêu cầu phải có tài sản bảo đảm. Các tài sản bảo
NHNN chỉ định BIDV tham gia toàn diện vào quá trình hợp nhất, thay mặt Nhà nước đại diện
quản lý phần vốn hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng sáp nhập. NHNN cho biết, lợi ích của
người gửi tiền được Nhà nước đảm bảo, quyền lợi của các cổ đông được giữ nguyên và các
trách nhiệm, nghĩa vụ của các ngân hàng hợp nhất được chuyển giao theo đúng quy định của
pháp luật. Chính vì vậy, lượng khách đến rút tiền do lo ngại tình hình mất thanh khoản của
các ngân hàng hợp nhất đã không xảy ra, hoạt động của ngân hàng hợp nhất vẫn diễn ra bình
thường. Tính đến thời điểm 30/9/2011, tổng tài sản của ba ngân hàng đạt 153.662 nghìn tỷ
đồng, tổng vốn điều lệ đạt 10.584 nghìn tỷ đồng; sau khi hợp nhất, ngân hàng hợp nhất có
tổng tài sản đứng thứ ba và vốn điều lệ đứng đầu trong nhóm các NHTMCP.
Vấn đề đáng quan tâm là, khi phân tích ba ngân hàng này dựa trên báo cáo tài chính và báo
cáo thường niên năm 2010, các chỉ tiêu tài chính đều ở mức từ tốt đến rất tốt so với các ngân
hàng khác trong cùng hệ thống. Đặc biệt là ngân hàng Ficombank, các số liệu về tỷ lệ an toàn
hoạt động đều đạt, thậm chí tốt hơn nhiều so với quy định theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN.
Bảng 5. Các tỷ lệ an toàn hoạt động của Ficombank năm 2010
Một số chỉ tiêu an toàn hoạt động
Tỷ lệ
Chuẩn
CAR
43,54%
>=9%
Tỷ lệ khả năng chi trả
20,38%
>=15%
Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động
22,4%
<=80%
Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn
0%
<=30%
Nguồn: Tính toán của tác giả.
dừng có tính thời vụ nên phương pháp dự báo Holt-Winter được sử dụng và cho các kết quả
như sau: Lạm phát ở mức 10,6% và tăng trưởng GDP năm 2012 đạt 6,31% như trong Hình 12
(mức dự báo về tăng trưởng GDP và lạm phát được IMF đưa ra cho Việt Nam năm 2012 lần
lượt là 6,27% và 8,08%).
Hình 12. Dự báo GDP và lạm phát các quý năm 2012, Việt Nam
Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu.
Căn cứ tình hình kinh tế thế giới và các biến số kinh tế vĩ mô Việt Nam được dự báo, chúng
tôi kiến nghị một số giải pháp cho hoạt động ngân hàng năm 2012 với mục tiêu để hoạt động
ngành Ngân hàng thực sự góp phần giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng đình trệ.
2.1. Đối với hoạt động tín dụng năm 2012
(i) Đối với quản lý tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2012
Sử dụng chuỗi số liệu M2 từ tháng 1/2007 đến tháng 11/2011 của Vụ Thống kê - NHNN,
nhóm tác giả tiến hành dự báo về M2 cho năm 2012. Các chuỗi số liệu dùng cho dự báo là
chuỗi dừng có tính thời vụ nên phương pháp dự báo Holt-Winter được sử dụng và cho các kết
quả như sau:
Hình 13. Dự báo chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán năm 2012
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
15
Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả.
Kết quả dự báo cho thấy nếu theo nhịp độ hiện tại, năm 2012 tổng phương tiện thanh toán gia
tăng xấp xỉ 15%. Về tăng trưởng tín dụng, với số liệu được lấy theo quí, nhóm nghiên cứu
đưa ra kết quả dự báo năm 2012 ở Bảng 6.
Bảng 6. Dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2012
trong nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất đối với nền kinh tế. Theo quan điểm của nhóm tác giả,
trong thời gian trước mắt, NHNN nên tiếp tục duy trì trần lãi suất huy động và dần dần giảm
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
16 trần lãi suất huy động khi có điều kiện phù hợp trước khi tiến tới dỡ bỏ biện pháp hành chính
với lãi suất.
Nếu như NHNN áp dụng biện pháp trần lãi suất cho vay, sẽ xảy ra một số bất lợi sau:
Thứ nhất, các NHTM sẽ nhanh chóng đẩy lãi suất lên bằng mức trần lãi suất cho vay nhằm
giải quyết vấn đề thiếu hụt vốn cục bộ của cả hệ thống. Kết quả là không những không hạ
được mặt bằng lãi suất mà lại đẩy mặt bằng lãi suất lên mức cao hơn và nếu có, chỉ giải quyết
được vấn đề thanh khoản tạm thời. Với mức lãi suất huy động cao hơn thì mức lãi suất cho
vay sẽ ở mức kịch trần nhằm bảo đảm lợi nhuận cho ngân hàng. Như vậy, mục tiêu giảm mặt
bằng lãi suất đối với nền kinh tế, tháo gỡ khó khăn về vốn cho doanh nghiệp để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế có thể không đạt được. Trong những trường hợp thanh khoản của hệ thống
ngân hàng rơi vào trạng thái thiếu hụt nghiêm trọng thì mức lãi suất huy động có thể tăng lên
sát mức lãi suất cho vay, các ngân hàng sẽ không thể tiến hành cho vay đối với khách hàng,
hoạt động tín dụng bị đình trệ, mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là không thể đạt được.
Thứ hai, khi áp dụng trần lãi suất huy động thì các ngân hàng lớn, có uy tín cao sẽ tạm thời
thu hút được tiền gửi từ nền kinh tế tốt hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ và những ngân
hàng này sẽ cho vay lại trên thị trường 2. Nếu áp dụng trần lãi suất cho vay sẽ xảy ra hiện
tượng các ngân hàng chỉ cho vay đối với các doanh nghiệp lớn, có uy tín cao, phương án kinh
doanh và dự án tiềm năng tài sản bảo đảm tốt, còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ khó tiếp
cận nguồn vốn tín dụng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh
tế, đang gặp nhiều khó khăn là đối tượng cần được hỗ trợ. Khi ngân hàng không thực hiện
được vai trò là kênh dẫn vốn cho cả nền kinh tế thì việc nâng trần lãi suất cho vay (vốn không
với NHNN trong việc hỗ trợ thị trường bất động sản. Bên cạnh đó, phải có chế tài mạnh với
các NHTM thực hiện việc “lách” hoặc “đối phó” chính sách đối với các quy định về cơ cấu
tín dụng của NHNN.
(iv) Đối với vấn đề tín dụng ngoại tệ
Cơ cấu tín dụng theo đồng tiền của các NHTM Việt Nam là vấn đề cần xem xét. Theo đó,
việc quản lý cơ cấu tín dụng theo đồng tiền nên được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ
với rủi ro thanh khoản về ngoại tệ của hệ thống NHTM Việt Nam. Cụ thể, NHNN cần thực
hiện các biện pháp sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu chỉnh sửa sớm Thông tư 07 theo hướng thu hẹp đối tượng cho vay
bằng ngoại tệ, với điều kiện chỉ cho vay những doanh nghiệp có khả năng tái tạo được ngoại
tệ. Còn doanh nghiệp nào không có khả năng tái tạo ngoại tệ thì kiên quyết không cho vay,
khi có nhu cầu ngoại tệ thì xử lý bằng phương thức mua bán giao ngay hay kỳ hạn. Theo
hướng này, đối tượng nào muốn vay ngoại tệ phải thực sự tái tạo được nguồn ngoại tệ để trả
nợ. Những doanh nghiệp đơn thuần chỉ nhập khẩu hàng hóa về bán trong nước sẽ không còn
là đối tượng được vay ngoại tệ nữa. Ngân hàng không cho doanh nghiệp nhập khẩu vay ngoại
tệ với quy định việc thu nợ được thực hiện bằng hợp đồng mua kỳ hạn USD để trả nợ, bởi
doanh nghiệp đơn thuần chỉ nhập khẩu bản chất là không tái tạo được ngoại tệ, nên làm như
vậy thực chất chỉ là dịch chuyển nhu cầu mua ngoại tệ hiện tại sang một thời điểm khác trong
tương lai mà thôi.
- Thứ hai, Thông tư 07 quy định: “Cho vay các nhu cầu vốn bằng ngoại tệ khác ngoài quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được chấp thuận bằng văn bản của Thống đốc
NHNN”. Việc quy định Thống đốc NHNN xem xét xử lý từng trường hợp cụ thể theo đề nghị
của TCTD tiếp nhận hồ sơ vay vốn là không phù hợp với quy chế làm việc của Thống đốc
NHNN. Vì vậy, nên bỏ qui định này.
- Thứ ba, NHNN có thể nghiên cứu áp dụng biện pháp hành chính quy định tỷ lệ dư nợ tín
dụng bằng ngoại tệ cho nền kinh tế trên nguồn huy động ngoại tệ từ dân cư và các tổ chức
kinh tế trong nước. Về nguyên tắc, tỷ lệ này phải nhỏ hơn 100% đối với các NHTM trong
nước trên cơ sở phù hợp với kiểm soát thanh khoản ngoại tệ và chủ trương hạn chế đôla hóa
nền kinh tế.
2.2. Tái cơ cấu hệ thống NHTM với trọng tâm nâng cao năng lực thanh khoản của hệ
- Thứ sáu, NHTM vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động
ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng
được NHNN áp dụng một hoặc một số biện pháp xử lý đặc biệt như đình chỉ, miễn nhiệm
chức vụ người quản lý, người điều hành của NHTM; sáp nhập, hợp nhất, giải thể NHTM; yêu
cầu NHTM phải chuyển nhượng vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần; cổ đông lớn, cổ đông nắm
quyền kiểm soát, chi phối phải chuyển nhượng cổ phần để thực hiện các giải pháp cơ cấu
lại…
(ii) Thực hiện đề án xác định số lượng NHTM nội địa hợp lý phù hợp với nền kinh tế Việt
Nam
Quan điểm của NHNN nhấn mạnh, trong vòng 5 năm tính từ năm 2011, hệ thống ngân hàng
Việt Nam chỉ nên gồm 12 đến 15 ngân hàng đủ lớn, đồng thời các NHTM có quy mô vừa và
nhỏ hoạt động trong các phân khúc thị trường phù hợp. Sau khi 3 ngân hàng SCB,
TinNghiabank và Ficombank sáp nhập thành ngân hàng SCB, hệ thống ngân hàng có 5
NHTMNN và 35 NHTMCP. Trong số 40 ngân hàng này, có 8 ngân hàng có mức vốn điều lệ
trên 9.000 tỷ đồng bao gồm: Vietcombank, BIDV, Agribank, Vietinbank, Eximbank, SCB,
Sài Gòn Thương tín và Á Châu. Giả định rằng 8 ngân hàng kể trên không nằm trong diện
buộc phải hợp nhất vào ngân hàng khác mà sẽ giữ nguyên tình hình hoạt động như hiện nay,
dựa vào số liệu về vốn điều lệ của các NHTM tính đến tháng 6/2011, có thể đưa ra dự báo
sau: Tổng mức vốn điều lệ của 8 ngân hàng có quy mô vốn điều lệ trên 9.000 tỷ đạt 109,452
tỷ, nắm giữ gần một nửa vốn điều lệ toàn hệ thống. Tổng mức vốn điều lệ của 32 ngân hàng
còn lại đạt 115,125 tỷ. Nếu như nhóm các ngân hàng trụ cột chiếm 80% thị phần và các ngân
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
19 hàng chuyển về nông thôn có mức vốn điều lệ rơi vào khoảng từ 2.500 đến 3.000 tỷ thì sẽ có
khoảng 15 đến 18 NHTMCP sẽ phải chuyển về nông thôn trong tương lai. Tính đến thời điểm
tín dụng đen. Từ đó, hoạt động của hệ thống NHTM trở nên minh bạch hơn, các biện pháp
hành chính của NHNN liên quan đến giảm mặt bằng lãi suất cho nền kinh tế sẽ đảm bảo tính
hiệu quả.
Để hoạt động ngân hàng năm 2012 thực sự góp phần phát triển kinh tế Việt Nam, không chỉ
cần có sự cố gắng của NHNN mà cần quá trình tái cấu trúc tự thân của chính các NHTM.
Theo đó, các vấn đề quản trị rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cần được coi như trọng tâm
hoạt động của năm 2012.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ADB. Asian Development Outlook 2011 Update: Preparing for Demographic Transition.
September 2011.
2. ADB. Asia Economic Monitor, Emerging East Asia - A Regional Economic Update. July
2011, December 2011.
3. Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội hàng tháng năm 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009,
2010 và 2011, Tổng cục thống kê, www.gso.gov.vn.
4. Báo cáo tài chính quý 3/2011 các ngân hàng Agribank, Vietcombank, Vietinbank, BIDV,
ACB, STB, EIB, SHB, HBB, NVB.
Học viện Ngân hàng
2011
Hoạt động ngân hàng Việt Nam - Điểm lại năm 2011 và Dự báo năm 2012
20 5. Báo cáo thường niên 2008, 2009, 2010 các ngân hàng Agribank, Vietcombank,
Vietinbank, BIDV, ACB, STB, EIB, SHB, HBB, NVB, Ficombank, SCB và
TinghiaBank.
6. Bùi Duy Phú, Trần Thị Lộc, Xây dựng hàm cầu tiền Việt Nam, phân tích và dự báo qua
một số mô hình định lượng, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Mã số KNH 2010- 06,
10/2011, trang 55-59.
7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống