BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG XÃ HỘI
DỰ ÁN GIẢM NGHÈO KHU VỰC TÂY NGUYÊN
Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Ngãi & Quảng Nam
[BẢN THẢO 2]
[BẢN THẢO LẤY Ý KIẾN, KHÔNG TRÍCH DẪN DƯỚI MỌI HÌNH THỨC]
Tháng 8, 2013
2
Danh mục bảng, hình và hộp 4
LỜI CẢM ƠN 5
Danh mục từ viết tắt 6
TÓM TẮT BÁO CÁO 8
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 10
1.1 Bối cảnh của Đánh giá Tác động Xã hội 10
1.2 Mục tiêu của Đánh giá Tác động xã hội 11
1.3 Phương pháp luận của Đánh giá 11
1.3.1 Khung lý thuyết 11
1.3.2 Các công cụ thu thập thông tin 16
1.3.3 Quá trình chọn mẫu và mẫu 17
CHƯƠNG II: CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH CỦA BÁO CÁO 19
2.1 Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, vốn sinh kế và các yếu tố ngoại cảnh làm tăng tính dễ bị
tổn thương 19
2.1.1 Tính dễ bị tổn thương của nhóm đối tượng Dự án 20
2.1.2 Tiếp cận vốn sinh kế của nhóm đối tượng trong vùng Dự án 24
2.1.3 Nhiều yếu tố về môi trường/bối cảnh làm tăng tính dễ bị tổn thương của các nhóm yếu
thế trong vùng Dự án 41
2.2 Cơ cấu tổ chức, thể chế và quá trình 44
2.2.1 Cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng đến việc thực hiện Dự án 45
2.2.2 Các chính sách, quá trình và thể chế: mức độ tác động đến sự tham gia và hưởng lợi
của đối tượng dễ bị tổn thương 50
2.2.3 Một số thiết chế văn hóa, tôn giáo có ảnh hưởng đến thực hiện Dự án 55
2.3 Kiểm chứng về mức độ phù hợp của chiến lược phát triển sinh kế của Dự án GNKVTN 60
ình t
ại vùng Dự án theo nhóm dân tộc (2011) 29
Bảng 2.8: Số lượng lao động của hộ gia đ
ình phân theo gi
ới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2011) 29
Bảng 2.9: Chất lượng của lực lượng lao động tại vùng Dự án thể hiện qua trình
đ
ộ chuyên môn
cao nhất của chủ hộ (2010) 31
Bảng 2.10: Chất lượng lao động qua trình
đ
ộ chuyên môn của chủ hộ, phân theo giới (2010) 32
Bảng 2.11: Cơ sở hạ tầng và tiện ích phục vụ sản xuất nông nghiệp của vùng Dự án (2010) 33
Bảng 2.12: Tiếp cận vốn của hộ gia đ
ình trong vùng D
ự án (tại 1/7/2011) 36
Bảng 2.13: Tiếp cận vốn của hộ gia đ
ình trong vùng D
ự án phân theo giới tính chủ hộ (tại
1/7/2011) 37
Bảng 2.14 Sở hữu các phương tiện viễn thông và thông tin vô tuyến trong vùng Dự án giữa các
nhóm dân tộc (2010) 40
Bảng 2.15: Sở hữu các phương tiện viễn thông và thông tin vô tuyến trong vùng Dự án theo giới
tính của chủ hộ 40
Hình 1.1: Sơ đồ Phương pháp Tiếp cận Sinh kế Bền vững (SLA) 12
Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án 20
Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010 21
Hình 2.3: Phân bổ (tỷ trọng) đất cho các loại cây trồng phân theo giới tính chủ hộ (%) (2010) 27
Hình 2.4: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng vùng Dự án (2011) 30
Hình 2.5: Tỷ lệ hộ sở hữu phương tiện vật chất là máy móc nông nghiệp tại các tỉnh Dự án (2010)
ấp và chia sẻ các thông tin hết sức thực tiễn, cụ thể và hữu ích, góp phần xây
dựng nên phần lớn thông tin được trình bày trong báo cáo này. Đồng thời, đoàn nghiên cứu c
ũng
xin được cảm ơn chính quyền các địa phương đ
ã t
ạo điều kiện làm việc tốt nhất cho đoàn trong
quá trình làm việc tại địa bàn khảo sát, giúp các cán bộ nghiên cứu tiếp cận người dân và các
doanh nghiệp trong khu vực.
Cuối cùng, xin được đặc biệt bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến những người dân đại diện cho các
thôn/bản đ
ã
dành thời gian tham gia các hoạt động phỏng vấn và thảo luận nhóm, nhiệt tình cung
cấp và làm rõ thông tin sống động để đoàn nghiên cứu có thể xây dựng và hoàn thiện các phát
hiện quan trọng, kiểm chứng tính chính xác về các nhận định liên quan đến các vấn đề xã hội của
dự án GNKVTN.
Do hạn chế về mặt thời gian và các nguồn lực nên nghiên cứu này có thể chưa bao quát được hết
các khía cạnh tác động đến thực hiện Dự án GNKVTN. Để thực hiện tốt hơn các nghiên cứu, phân
tích, báo cáo đánh giá trong tương lai, chúng tôi rất trân trọng và mong nhận được ý kiến đóng
góp từ những độc giả quan tâm đến báo cáo này.
Xin chân thành cảm ơn!
6
Danh mục từ viết tắt
ADB
:
Ngân hàng phát triển Châu Á
Agricensus 2011
:
Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2011
AusAID
:
Dự án
DT&BD
:
Duy tu và bảo dưỡng
DTTS
:
Dân tộc thiểu số
DFID
:
Bộ Hợp tác quốc tế, Vương quốc Anh
ĐVT
:
Đơn vị tính
FLITCH
:
Dự án Phát triển Lâm nghiệp Cải thiện Đời sống vùng Tây Nguyên
GNKVTN
:
Giảm nghèo khu vực Tây nguyên
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
GS&ĐG
:
Giám sát & đánh giá
HP
:
Hợp phần
HTKT
:
NGOs
:
Các tổ chức phi chính phủ
NH
:
Ngân hàng
7
NH CSXH
:
Ngân hàng chính sách xã hội
NH NN& PTNT
:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHTG
:
Ngân Hàng Thế Giới
NTM
:
Chương tr
ình Nông Thôn m
ới
NTP
:
Chương tr
ình M
ục tiêu Quốc gia
NTPPR
:
Chương tr
ình m
Chương tr
ình phát tri
ển của Liên hợp quốc
USD
:
Đô la Mỹ
VHLSS 2010
:
Khảo sát Mức sống dân cư năm 2010
VNĐ
:
Đồng Việt Nam
WB3
:
Dự án phát triển ngành lâm nghiệp
8
TÓM TẮT BÁO CÁO
Dự án Giảm nghèo Khu vực Tây Nguyên (GNKVTN) có Mục tiêu phát triển (PDO) là “nâng cao cơ
hội sinh kế cho các hộ gia đ
ình và c
ộng đồng nghèo tại 26 huyện trong 06 tỉnh trong vùng Dự án”
với bốn hợp phần là (1) phát triển cơ sở hạ tầng, (2) phát triển sinh kế, (3) phát triển CSHT kết nối,
nâng cao năng lực và truyền thông, và (4) quản lý Dự án. Dự án được triển khai tại 26 huyện
1
tập
trung tại sáu tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Quảng Nam, và Quảng Ngãi. C
ơ quan
chủ quản của Dự án là Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) và Nhà tài trợ là Ngân hàng thế giới
(NHTG). Thời gian dự kiến triển khai là 5 năm (2014 đến 2018) với tổng vốn đầu tư là 165 triệu
USD; trong đó nguồn vốn vay ODA từ Ngân hàng Thế giới (NHTG) là 150 triệu USD (chiếm 90%),
lệ nghèo trong vùng Dự án (vùng nông thôn) cao hơn gần 2,5 lần so với tỷ lệ nghèo trung bình ở
nông thôn cả nước và thu nhập bình quân của vùng Dự án chỉ bằng 70 – 80% cả nước. Từ góc độ
dân tộc thì các nhóm dân tộc thiểu số là nhóm nghèo hơn (so với dân tộc Kinh). Còn nếu nhìn từ
góc độ giới thì nhóm hộ có chủ hộ là nữ nghèo hơn so với nhóm hộ có chủ hộ là nam giới.
Đồng thời, nghiên cứu c
ũng cho th
ấy, tiếp cận của các nhóm yếu thế (dân tộc thiểu số, hộ gia đ
ình
có chủ hộ là nữ) đến nguồn vốn sinh kế (vốn tài nguyên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài
chính, vốn xã hội) c
ũng h
ạn chế hơn so với các nhóm còn lại. Bên cạnh đó, các cú sốc về thiên tai
và dịch bệnh, biến động giá nông sản, và làn sóng di cư tự do đến các tỉnh Dự án (nhất là trong
những năm trở lại đây) c
ũng là nh
ững yếu tố tác động mạnh, một cách tiêu cực đến đời sống và
sinh kế của các nhóm hưởng lợi trong vùng Dự án.
Về cơ cấu tổ chức, có thể tạm chia cơ cấu tổ chức thành năm nhóm. (1) Chủ thể chỉ đạo quá trình
triển khai dự án, UBND các cấp với sự tham gia trực tiếp của Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND,
1
26 huyện vùng dự án gồm: Đắk Glong, Đắk Song, Krông Nô, Tuy Đức (Đắk Nông); Buôn Đôn, Ea Súp,
Krông Bông, Lắk, M' Đắk (Đắk Lắk); K Bang, Kông Chro, Krông Pa, Mang Yang, Ia Pa (Gia Lai); Ngọc Hồi,
Đắk Glei, Sa Thầy, Kon Rẫy, Kon Plong, Tu Mơ Rông (Kon Tum); Sơn Hà, Sơn Tây, Ba Tơ (Quảng Ngãi) và
Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My (Quảng Nam).
9
có vai trò tiên quyết đối với thành công của Dự án. (2) Chủ thể trực tiếp triển khai, BQLDA các
cấp, cần đặc biệt lưu tâm đến vấn đề về năng lực và nhân sự. (3) Chủ thể hỗ trợ triển khai, các sở
ban ngành và các tổ chức hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân), chỉ có thể tham gia một cách hiệu quả
nếu có sự chỉ đạo thống nhất của UBND c
ũng như các cân nh
một số vấn đề như tính kết nối của các công trình, ph
ương pháp đ
ấu thầu có sự tham gia của
cộng đồng, các quy định về sử dụng lao động địa phương, v.v. Đối với các hoạt động phát triển
sinh kế thì có khá nhiều lo ngại và câu hỏi xoay quanh mô hình tổ nhóm sản xuất, vấn đề được
đặc biệt đặt ra là phải tránh tính hình thức và thiếu hiệu quả của mô hình hợp tác xã tr
ư
ớc đây.
Nội dung và phạm vi hỗ trợ c
ũng c
ần được thiết kế phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số, trong
đó chú trọng vào hỗ trợ kỹ thuật, tập huấn nhắc lại, giới thiệu mô hình mới, cấp phát con giống và
vật tư nông nghiệp. Câu hỏi về tính bền vững cũng là một vấn đề được các bên đặc biệt quan tâm.
Về nâng cao năng lực và quản lý dự án thì nổi rõ nhất là các ý kiến về vai trò quan trọng của nâng
cao năng lực, bổ sung cán bộ chuyên trách bên cạnh các vị trí kiêm nhiệm và sự tham gia của cấp
xã với vai trò chủ đầu tư.
Căn cứ vào các phát hiện chính được trình bày trong Báo cáo này, khuyến nghị cơ bản nhất của
Báo cáo có thể được tổng kết như sau: tiếp tục hoàn chỉnh thiết kế của Dự án theo nội dung và
hướng tiếp cận như hiện nay. Tuy nhiên, cần tăng cường các chiến lược can thiệp để đảm bảo sự
tham gia tích cực của các nhóm yếu thế vào việc lập kế hoạch và thụ hưởng các can thiệp của Dự
án. Cơ sở hạ tầng được xây dựng phải phản ánh được nguyện vọng của các đối tượng dễ tổn
thương. Đồng thời, công tác tuyên truyền, vận động nhóm dễ tổn thương tích cực tham gia,
khuyến khích sự ủng hộ của các cá nhân có uy tín trong cộng động c
ũng s
ẽ giúp cải thiện đáng kể
tình trạng tham gia của các nhóm này.
Ngoài ra, Báo cáo c
ũng có m
ột số lưu
ý v
Dự án được thiết kế gồm bốn (04) Hợp phần với các mục tiêu cụ thể là: (1) Hợp phần Phát triển
cơ sở hạ tầng (CSHT) cấp xã và thôn/bản phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống dân sinh
c
ũng như t
ạo việc làm trong xây dựng CSHT và bảo trì, duy tu công trình; (2) Hợp phần Phát triển
sinh kế bền vững có mục tiêu củng cố an ninh lương thực, đa dạng hóa và nâng cao thu nhập cho
người dân thông qua cải thiện và đa dạng hóa sinh kế bền vững, phát triển liên kết thị trường (3)
Hợp phần Phát triển CSHT kết nối, Nâng cao năng lực và Truyền thông có mục tiêu cải thiện điều
kiện CSHT kết nối ở cấp huyện (phần cứng và phần mềm) để thúc đẩy sản xuất, đồng thời nâng
cao năng lực cán bộ; thúc đẩy truyền thông nâng cao nhận thức; (4) Hợp phần Quản lý Dự án có
mục tiêu đảm bảo quản lý, giám sát và đánh giá hiệu quả các hoạt động của Dự án theo đúng thiết
kế Dự án.
Vùng dự án và đối tượng hưởng lợi được lựa chọn dựa trên văn bản hướng dẫn của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư (Công văn 10284/BKH&ĐT-KTĐP< ngày 11/12/2012 và Công văn 10462/BKH&ĐT-
KTĐP< ngày 17/12/2012). Theo đó, đối tượng dựa trên tỷ lệ nghèo của địa phương và ưu tiên
hỗ trợ cho các nhóm yếu thế. Quy trình lựa chọn được thực hiện theo ba bước: (i) lựa chọn huyện
Dự án; (ii) lựa chọn xã trong huyện Dự án; và (iii) lựa chọn đối tượng hưởng lợi. Danh mục 130 xã
thuộc 26 huyện trong sáu tỉnh được cung cấp tại Phụ lục 2 của Báo cáo này.
Do những thông tin về những đối tượng hưởng lợi thuộc Dự án GNKVTN chỉ ra rằng có sự không
đồng nhất giữa các nhóm về giới tính, dân tộc, văn hóa, tình trạng kinh tế, mức độ tham gia v.v.
Do vậy, những thách thức của Dự án là phải xác định đúng những yêu cầu đa dạng của các
nhóm, tập trung vào các nhóm dễ bị tổn thương (người nghèo nói chung, nhóm dân tộc thiểu số
nói riêng, nhóm phụ nữ nghèo nói riêng). Hơn nữa, có một số lượng khá lớn các bên liên quan, cả
trong và ngoài Dự án GNKVTN có những quan điểm khác biệt về mức độ tác động mà các hoạt
động của Dự án GNKVTN có thể tạo ra c
ũng như
các kết quả cụ thể của Dự án này, nên quá trình
Đánh giá xã hội và xây dựng Báo cáo sẽ rất cần thiết trong việc xây dựng khung chính sách mà ở
2
26 huyện vùng dự án gồm: Đắk Glong, Đắk Song, Krông Nô, Tuy Đức (Đắk Nông); Buôn Đôn, Ea Súp,
Dự án và huy động sự tham gia của các chủ thể hữu quan, thu thập và phản ánh quan điểm của
các bên liên quan cho thiết kế Dự án.
Đánh giá được thiết kế hướng tới thực hiệncác mục tiêu cụ thể như sau: (i) xác định và mô tả đặc
điểm các nhóm đối tượng có nguy cơ bị loại trừ/hạn chế khỏi sự tham gia và hưởng lợi từ Dự án;
(ii) xác định các bên liên quan chính của Dự án về tầm quan trọng/mức độ ảnh hưởng của các bên
liên quan đến Dự án; (iii) xác định các quá trình, thể chế, yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến sự tham
gia của đối tượng hưởng lợi trong quá trình tham vấn, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện Dự án; (iv)
kiểm chứng mức độ phù hợp của chiến lược cải thiện sinh kế [livelihood strategies] mà Dự án dự
kiến thực hiện; và (v) trên cơ sở đó, đưa ra các khuyến nghị về chiến lược can thiệp, nguyên tắc
thiết kế dự án để đảm bảo các đối tượng dễ bị tổn thương sẽ được tham gia đầy đủ và thụ hưởng
từ các can thiệp của Dự án như mong đợi.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Đánh giá được thiết kế trên cơ sở lý thuyết là “tiếp cận sinh kế bền
vững” (Sustainable livelihood approach) của DFID, các phát hiện được xây dựng từ các nguồn dữ
liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thu thập tại địa bàn khảo sát trong vùng Dự án (bằng các công cụ
định tính như phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm). Chi tiết được trình bày trong phần tiếp theo của
báo cáo.
1.3 Phương pháp luận của Đánh giá
1.3.1 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết chính sử dụng trong đánh giá là Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững
(Sustainable Livelihoods Approach - SLA), (xem Hình 1.1 d
ư
ới đây).
12
Hình 1.1: Sơ đồ Phương pháp Tiếp cận Sinh kế Bền vững (SLA)
Nguồn: tổng hợp từ các tài liệu của DFID và AusAID
Cách tiếp cận này đưa ra một chỉ dẫn tổng quát cho một quá trình xây dựng các can thiệp phát
triển sinh kế cho cộng đồng, bao gồm các chương tr
ình và d
ự án như Dự án GNKVTN. Theo
Serrat (2008), tiếp cận sinh kế bền vững (the sustainable livelihoods approach)
Từ viết tắt
H = Vốn con người S = Vốn xã hội
N = Vốn tài nguyên P = Vốn vật chất
F = Vốn tài chính
BỐI CẢNH (gây
bất lợi)
KẾT QUẢ
SINH KẾ
VỐN SINH KẾ
CƠ CẤU & QUÁ
TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
S
F
P
Những cú sốc
Các xu hướng
Thời vụ
Tăng thêm thu
nhập
Tăng tính ổn
định
Giảm tính tổn
thương
Tăng cường
an ninh lương
thực
Sử dụng
nguồn tài
nguyên thiên
nhiên một
lực khả dụng cho phát triển sinh kế gồm nguồn nhân lực (human capital), nguồn tài nguyên
(natural capital), nguồn lực vật chất (nhân tạo) (physical capital), nguồn tài lực (financial capital) và
nguồn lực xã hội (social capital). Xem Bảng 1.1 để có giải thích chi tiết hơn cho các thuật ngữ
trong Khung SLA.
Cần lưu
ý là gi
ữa các yếu tố trong khung SLA này có mối quan hệ tương hỗ, cụ thể các kết quả
sinh kế khi đạt được lại góp phần tăng cường các nguồn lực mà đối tượng có thể tiếp cận/sở hữu;
các quá trình/cấu trúc có thể tác động thay đổi những thành phần trong bối cảnh [gây tổn thương].
Bảng 1.1: Bảng giải thích các thuật ngữ chính trong Khung SLA
Khung sinh kế bền
vững (SLA)
:
Khung sinh kế bền vững giúp tổ chức các nhân tố hạn chế hay tăng cường
cơ hội sinh kế, đồng thời c
ũng cho th
ấy mối quan hệ giữa các nhân tố này.
Ý niệm trung tâm là các hộ gia đình khác nhau có tiếp cận khác nhau đối
với các tài sản sinh kế vốn là mục tiêu phát triển và mở rộng của phương
pháp tiếp cận sinh kế bền vững. (DFID)
Bối cảnh [gây tổn
thương]/vunerable
context
:
Các yếu tố làm nên bối cảnh gây tổn thương gồm các cú sốc (shocks), các
xu hướng (trends) và tính mùa vụ (seasonity) có ảnh hưởng trực tiếp đến
tình trạng tài sản của hộ gia đ
ình, cá nhân c
ũng như làm phương h
ại các
bất lợi. Tuy nhiên việc sử dụng thuật ngữ bối cảnh gây tổn thương [hàm
ý
tính bất lợi từ môi trường] là nhằm nhấn mạnh thực tế rằng tổng hợp các xu
hướng này giải thích [trực tiếp hoặc gián tiếp] cho rất nhiều khó khăn mà
người nghèo phải đối diện. Tính dễ tổn thương sẵn có trong sinh kế của
người nghèo khiến họ khó đối phó với những nguy cơ, dù có dự đoán được
hay không. Ngoài ra, điều này cũng làm giảm khả năng [của người nghèo]
để tác động ngược trở lại đối với môi trường nhằm giảm các nguy cơ này;
và hệ quả là, họ lại càng trở nên dễ tổn thương hơn. Kể cả khi xu hướng là
tích cực, thì người nghèo c
ũng thư
ờng khó được lợi vì họ thiếu tài sản,
thiếu cách tổ chức đủ mạnh để khai thác được các cơ hội từ những xu
hướng tích cực này.
Tính mùa vụ được thể hiện ở: (i) thay đổi giá cả hàng nông sản (giá cao khi
hàng hóa nông sản khan hiếm, giá thấp khi đúng vụ thu hoạch và sản lượng
lớn; (ii) cơ hội nghề nghiệp cao ở thời gian đ
ình đi
ểm của sản xuất (ví dụ vụ
thu hoạch cà phê tại vùng Tây Nguyên); (iii) nguồn cung ứng lương thực
cao sau thời gian thu hoạch cây lương thực (điển hình là ngô và gạo) và
thấp ở thời gian “giáp hạt”; chi phí sản xuất thay đổi vào mùa mưa hoặc
mùa khô (phát sinh chi phí bơm nước tưới vào mùa khô hoặc chi phí sấy
khô nông sản sau khi thu hoạch vào mùa mưa). Yếu tố mùa vụ đều ít nhiều
ảnh hưởng đến đời sống của người nghèo, người nông dân.
Bối cảnh [gây tổn thương] nằm ngoài khả năng kiểm soát của người dân.
Trong ngắn hạn đến trung hạn, một cá nhân hoặc một nhóm nhỏ người dân
hầu như không thể làm gì
đ
ể trực tiếp thay đổi các yếu tố thuộc bối cảnh
:
Sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục, kiến thức và kỹ năng, năng lực làm việc,
khả năng thích nghi.
Vốn xã hội
:
Các mạng lưới và mối liên hệ (khách quen, hàng xóm, quan hệ họ tộc), các
quan hệ tin cậy với sự thông hiểu và giúp đỡ lẫn nhau, các nhóm chính
thức và không chính thức, các giá trị và hành vi chung, các nguyên tắc và
phong tục giống nhau, đại diện tập thể, các cơ chế tham gia trong việc ra
quyết định, sự lãnh
đ
ạo.
Vốn tự nhiên
:
Đất đai và sản vật, nước và nguồn nước, cây cối và các sản phẩm từ rừng,
15
sinh vật tự nhiên, các loại sợi và lương thực tự nhiên, sự đa dạng sinh học,
dịch vụ môi trường.
Vốn vật chất
:
Cơ sở hạ tầng (phương tiện vận chuyển, đường xá, xe cộ, các tòa nhà và
chỗ ở an toàn, nguồn cấp nước và hệ thống xử lý rác thải, năng lượng,
truyền thông), các công cụ và công nghệ (các công cụ và thiết bị sản xuất,
hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, tập quán sản xuất).
Vốn tài chính
:
Tiền tiết kiệm, các khoản tín dụng và vay nợ (chính thức và không chính
thức), các khoản tiền chuyển về, lương hưu, lương định kỳ.
Cơ cấu/cấu trúc và
quy trình/thể chế
ra các kết quả sinh kế) thì
Đánh giá tác đ
ộng xã hội sẽ xem xét (soi xét) lại quá trình xây dựng các
can thiệp đó bằng việc đi từ bên trái sang bên phải của Sơ đồ khung SLA ở trên (Hình 1.1) theo
các bước như dưới đây.
Bước 2
Bước 1
Bước 3
Rà soát chiến lược sinh kế Dự án (gồm mục tiêu phát triển và mục tiêu
cụ thể của 04 hợp phần và các tiểu hợp phần/các hoạt động DA)
Rà soát nhóm đối tượng, thực trạng nghèo (đa chiều) và các đặc điểm
xã hội quan trọng khác của nhóm nghèo, nhóm dân tộc, nhóm phụ nữ
thẩm định lại tính phù hợp của mục tiêu Dự án và nhu cầu của
nhóm đối tượng.
Đánh giá các yếu tố: (1) tiếp cận nguồn vốn sinh kế của các đối tượng;
và (2) bối cảnh gây tổn thương/bất lợi (các xu hướng, các cú sốc, yếu
tố mùa vụ bất lợi)
Đánh giá về cấu trúc/cơ cấu (chủ thể tham gia quản lý và vận hành dự
án từ khu vực chính quyền, khu vực dân sự/đoàn thể, xã hội; khu vực
tư nhân (doanh nghiệp, người kinh doanh) và các chính sách (chương
trình giảm nghèo); quy chế (dân chủ, sự tham gia, v.v.) và thiết chế
văn hóa có ảnh hưởng đến triển khai thực hiện Dự án
Bước 4
Kiểm chứng
Kiểm chứng
Kiểm chứng
16
1.3.2 Các công cụ thu thập thông tin
Ở từng bước tiến hành đánh giá x
ã h
Cán bộ các cơ quan chính quyền các cấp và các sở/ngành;
Cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội (nông dân, phụ nữ);
Hộ kinh tế khá;
Đại diện các doanh nghiệp, cơ sở kinh tế tư nhân;
Đại diện một số tổ chức phi chính phủ (NGO) địa phương.
Thảo luận nhóm:
Nhóm dân cư nghèo (thuộc các thành phần dân tộc);
Nhóm dân tộc thiểu số bản địa;
Nhóm dân tộc thiểu số di cư;
Nhóm phụ nữ (thuộc các thành phần dân tộc).
Bước 3: Đánh giá các
yếu tố ảnh hưởng đến
sinh kế (tiếp cận vốn sinh
kế và bối cảnh gây bất lợi)
:
Nghiên cứu tài liệu và tính toán dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu sẵn có:
Tổng điều tra nông nghiệp 2011 (Agricensus 2011);
Báo cáo phát triển kinh tế xã hội các địa phương;
Các công bố về giá cả nông sản (từ nhiều nguồn tổng hợp);
Các dữ liệu thủy văn.
Phỏng vấn sâu:
Cán bộ các cơ quan chính quyền các cấp và các sở/ngành;
Cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội (nông dân, phụ nữ);
Hộ kinh tế khá;
Đại diện các doanh nghiệp, cơ sở kinh tế tư nhân;
Đại diện một số tổ chức phi chính phủ (NGO) địa phương.
Thảo luận nhóm:
Nhóm dân cư nghèo (thuộc các thành phần dân tộc);
Nhóm dân tộc thiểu số bản địa;
17
Nhóm dân cư nghèo (thuộc các thành phần dân tộc);
Nhóm dân tộc thiểu số bản địa;
Nhóm dân tộc thiểu số di cư;
Nhóm phụ nữ (thuộc các thành phần dân tộc).
Chi tiết các công cụ thu thập dữ liệu định tính sơ cấp được trình bày trong phụ đính của Báo cáo.
Đánh giá được thực hiện bắt đầu từ tháng 12/2012, chia ra các giai đoạn, gồm thiết kế và nghiên
cứu tại bàn; khảo sát thực địa (gồm cả khảo sát thí điểm và khảo sát chính thức); xử lý dữ liệu và
xây dựng các phát hiện ban đầu; và xây dựng báo cáo đầy đủ. Trong các giai đoạn ở trên, khảo
sát thực địa có ý ngh
ĩa quan tr
ọng nhất vì cung cấp những cơ sở khách quan và hiện thực cho các
phát hiện của Báo cáo. Ở bước này, các kỹ thuật phổ biến của đánh giá nông thôn có sự tham gia
(participatory rural assessment - PRA) được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia trong các cuộc thảo
luận nhóm tập trung và khuyến khích đối tượng cung cấp thông tin chia sẻ ý kiến khi phỏng vấn
sâu bán cấu trúc.
1.3.3 Quá trình chọn mẫu và mẫu
Việc khảo sát thực địa được thực hiện tại cả sáu tỉnh thuộc Dự án, mỗi tỉnh chọn một huyện
(Krông Nô của Đắk Nông, M’Đrắk của Đắk Lắk, Ia Pa của Gia Lai, Kon Rẫy của Kon Tum, Ba Tơ
của Quảng Ngãi, Ph
ư
ớc Sơn của Quảng Nam). Tiêu chí để lựa chọn các huyện là tỷ lệ nghèo và
thành phần dân tộc. Về tỷ lệ nghèo, các huyện được chọn không phải là những huyện nghèo nhất,
c
ũng không ph
ải là huyện khá nhất trong vùng Dự án của từng tỉnh. Về thành phần dân tộc, các
huyện được chọn theo cách sao cho các nhóm dân tộc thiểu số bản địa có dân số lớn trong vùng
Dự án như Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, M’nông, và J’rai (ở Tây Nguyên), H’re và Cơ Tu (ở Quảng Ngãi
và Quảng Nam) nằm trong đối tượng khảo sát. Tại mỗi huyện, 02 xã
đư
ợc chọn khảo sát theo các
thể này, đặc biệt đưa vào các chủ thể không trực tiếp quản lý Dự án (như doanh nghiệp, các hộ
dân khá giả), giúp thực hiện một trong những mục tiêu phái sinh là cung cấp thông tin và tham vấn
các đối tượng về thiết kế Dự án.
19
CHƯƠNG II: CÁC PHÁT HIỆN CHÍNH CỦA BÁO CÁO
Như khung l
ý thuy
ết SLA đ
ã g
ợi ý và theo thiết kế của Đánh giá này, các phát hiện chính của báo
cáo được trình bày theo các nhóm nội dung với trình tự sau: Phần 2.1 mô tả đặc điểm của các đối
tượng hưởng lợi dễ bị tổn thương gồm các đặc điểm nghèo, mức độ tiếp cận/sở hữu các loại hình
vốn sinh kế, và yếu tố bối cảnh làm nghiêm trọng hơn tính dễ bị tổn thương của nhóm hưởng lợi
yếu thế; Phần 2.2 nêu các phát hiện chính liên quan đến cấu trúc/cơ cấu quản lý và các quy
trình/chính sách/
đ
ịnh chế; trong đó 2.2.1 là các phát hiện chính về các bên liên quan có ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình thực hiện và khả năng thành công trong thực hiện các
mục tiêu của Dự án, c
ũng như nh
ững rủi ro tiềm tàng liên quan đến những đối tượng này; phần
2.2.2 là các phát hiện về các quá trình/định chế (gồm các chương tr
ình/chính sách, các thi
ết chế
văn hóa/tôn giáo, quy định về dân chủ cấp cơ sở và sự tham gia của cộng đồng vào phát triển
kinh tế-xã hội của địa phương. Phần 2.3 tập trung vào những phản hồi chính của đối tượng hưởng
lợi và các bên liên quan về thiết kế của Dự án (chiến lược sinh kế dự kiến) tại thời điểm khảo sát.
Dựa trên các phát hiện này, Báo cáo sẽ đưa ra một số khuyến nghị chính trong Chương 3.
2.1 Nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, vốn sinh kế và các yếu tố ngoại
cảnh làm tăng tính dễ bị tổn thương
bất lợi hơn/dễ bị tổn thương hơn không được tham gia đầy đủ hoặc chỉ thụ hưởng các thành quả
phát triển/kết quả sinh kế do Dự án đầu tư một cách hạn chế.
Về dân tộc, ba nhóm chính được so sánh là nhóm Kinh, nhóm dân tộc thiểu số bản địa và nhóm
dân tộc thiểu số khác. Chỉ tính riêng trên địa bàn 26 huyện Dự án, có 41 dân tộc cùng sinh sống,
trong đó đồng bào DTTS chiếm 60%, dân tộc Kinh là 40%. Sắp xếp theo mức tăng đần, tỷ trọng
các dân tộc tại vùng Dự án như sau: Cơ Tu (1%), Ê đê (3%), M’Nông (5%), Jarai (7%), Bana
(7.4%), Xơ Đăng (9.3%), H’rê (10%), dân tộc thiểu số khác – không xếp loại được riêng vì có
20
nhiều nhóm có tỷ trọng rất nhỏ trong số liệu khảo sát thứ cấp (16%) và Kinh (40%). Các nhóm dân
tộc thiểu số bản địa chính trong vùng Dự án là Ê Đê, M’Nông (chủ yếu tại Đắk Lắk và Đắk Nông);
Jarai, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng (chủ yếu tại Gia Lai và Kon Tum); H’rê và Ca Dong (tại Quảng
Ngãi) và Cơ Tu (tại Quảng Nam)
(xem Hình 2.1). Các dữ liệu được
phân tích ở ba cấp độ xã Dự án
(130 xã), huyện Dự án (26 huyện)
và tỉnh Dự án (6 tỉnh); có thể các
dữ liệu cấp quốc gia sẽ được đưa
vào phân tích khi phù hợp nhằm
làm nổi bật tính so sánh của các
tỉnh Dự án và cả nước; trong một
số trường hợp dữ liệu của các xã
nằm ngoài Dự án nhưng trong 26
huyện Dự án, các huyện ngoài Dự
án nhưng nằm trong sáu tỉnh Dự
án được đưa vào phân tích để làm
nổi bật tính so sánh giữa vùng Dự
án và vùng ngoài Dự án. Trong
một số trường hợp, do dữ liệu thứ
cấp chỉ hiện hữu đối với cấp tỉnh
(ví dụ tình trạng dinh dưỡng của
cả nước.
Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án
Nguồn: Agricensus 2011
20
nhiều nhóm có tỷ trọng rất nhỏ trong số liệu khảo sát thứ cấp (16%) và Kinh (40%). Các nhóm dân
tộc thiểu số bản địa chính trong vùng Dự án là Ê Đê, M’Nông (chủ yếu tại Đắk Lắk và Đắk Nông);
Jarai, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng (chủ yếu tại Gia Lai và Kon Tum); H’rê và Ca Dong (tại Quảng
Ngãi) và Cơ Tu (tại Quảng Nam)
(xem Hình 2.1). Các dữ liệu được
phân tích ở ba cấp độ xã Dự án
(130 xã), huyện Dự án (26 huyện)
và tỉnh Dự án (6 tỉnh); có thể các
dữ liệu cấp quốc gia sẽ được đưa
vào phân tích khi phù hợp nhằm
làm nổi bật tính so sánh của các
tỉnh Dự án và cả nước; trong một
số trường hợp dữ liệu của các xã
nằm ngoài Dự án nhưng trong 26
huyện Dự án, các huyện ngoài Dự
án nhưng nằm trong sáu tỉnh Dự
án được đưa vào phân tích để làm
nổi bật tính so sánh giữa vùng Dự
án và vùng ngoài Dự án. Trong
một số trường hợp, do dữ liệu thứ
cấp chỉ hiện hữu đối với cấp tỉnh
(ví dụ tình trạng dinh dưỡng của
dân cư) nên phân tích chỉ dừng lại ở việc so sánh giữa sáu tỉnh Dự án với tình trạng chung của cả
nước.
Về giới, giới tính của chủ hộ được xác định là chiều phân tích thứ hai. Dữ liệu theo nhóm hộ có nữ
làm chủ hộ và nam làm chủ hộ được phân tích chỉ trong phạm vi vùng Dự án từ cấp xã
Kinh, 39,610
M'Nông, 5,27
0
Jarai, 7,180
Bana , 7,390
Xơ
Đăng, 9,300
Cơ Tu, 1,120
Hre, 10,310
DTTS
khác, 16,380
20
nhiều nhóm có tỷ trọng rất nhỏ trong số liệu khảo sát thứ cấp (16%) và Kinh (40%). Các nhóm dân
tộc thiểu số bản địa chính trong vùng Dự án là Ê Đê, M’Nông (chủ yếu tại Đắk Lắk và Đắk Nông);
Jarai, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng (chủ yếu tại Gia Lai và Kon Tum); H’rê và Ca Dong (tại Quảng
Ngãi) và Cơ Tu (tại Quảng Nam)
(xem Hình 2.1). Các dữ liệu được
phân tích ở ba cấp độ xã Dự án
(130 xã), huyện Dự án (26 huyện)
và tỉnh Dự án (6 tỉnh); có thể các
dữ liệu cấp quốc gia sẽ được đưa
vào phân tích khi phù hợp nhằm
làm nổi bật tính so sánh của các
tỉnh Dự án và cả nước; trong một
số trường hợp dữ liệu của các xã
nằm ngoài Dự án nhưng trong 26
huyện Dự án, các huyện ngoài Dự
án nhưng nằm trong sáu tỉnh Dự
án được đưa vào phân tích để làm
nổi bật tính so sánh giữa vùng Dự
Thứ nhất, người dân của vùng Dự án ở tình trạng nghèo hơn so với mặt bằng chung của
địa phương và của cả nước: Vùng Dự án là nghèo hơn mức trung bình của cả nước, VHLSS
2010 cho biết tỷ lệ nghèo trong vùng Dự án (vùng nông thôn) cao hơn gần 2.5 lần so với tỷ lệ
nghèo trung bình ở nông thôn cả nước và thu nhập bình quân của vùng Dự án chỉ bằng 70 – 80%
cả nước.
Hình 2.1: Thành phần dân tộc tại vùng Dự án
Nguồn: Agricensus 2011
Dân tộc
Kinh, 39,610
Êde, 3,440
M'Nông, 5,27
0
21
Bảng 2.1: Tỷ lệ nghèo của các huyện thuộc vùng Dự án 2010
T
ỷ lệ ngh
èo (%)
T
ỷ lệ cận ngh
èo (%)
Trung bình c
ả nước*
14,2
7,53
Trung bình sáu t
ỉnh Dự án
24,9
7,4
Trung bình 26 huy
ện trong Dự án
hẳn các huyện còn lại (45% so với 20%). Xét trên phạm vi cả nước, rõ ràng tỷ lệ nghèo của sáu
tỉnh là cao hơn gấp đôi tỷ lệ chung của cả nước (24,9% so với 11,8%). Mặc dù, Dự án GNKVTN
đ
ã có tiêu chí l
ựa chọn các xã/huyện đưa vào Dự án là phải có tỷ lệ nghèo cao hơn (cụ thể chỉ
huyện có tỷ lệ nghèo trên 30% mới trở thành vùng Dự án) nhưng các dữ liệu thể hiện sự chênh
lệch lớn giữa vùng Dự án và ngoài Dự án phản ánh sự tụt hậu về kinh tế của khu vực Dự án, đồng
thời ám chỉ đời sống kinh tế khó khăn đặc biệt của người dân vùng Dự án.
Thứ hai, từ góc độ dân tộc, dữ liệu khẳng định nhóm nghèo hơn là các nhóm dân tộc thiểu
số: Dữ liệu thứ cấp khẳng định nhóm nghèo hơn trong vùng Dự án là nhóm dân tộc thiểu số (bản
địa và di cư) so với dân tộc Kinh (Hình 2.2).
Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010
Nguồn: Tính toán cho vùng Dự án từ dữ liệu Agricensus 2011
37
30
77
57
85
0
20
40
60
80
100
Quảng Nam
Quảng Ngãi
21
Bảng 2.1: Tỷ lệ nghèo của các huyện thuộc vùng Dự án 2010
T
ỷ lệ ngh
huy
ện Dự án
39,4
8,7
Nguồn: Agricensus 2011 và * tỷ lệ nghèo cả nước theo công bố của Bộ LĐTBXH
Trong năm 2010, khi tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước giảm xuống chỉ còn 14,2% (Bảng 2.1) thì
tỷ lệ nghèo của sáu tỉnh Dự án là gần 25% và cứ thế tăng dần nếu xét ở quy mô hẹp hơn cho 26
huyện Dự án hoặc 130 xã Dự án. Ở quy mô cấp tỉnh, cứ khoảng 4 người thì có một người là
người nghèo, còn ở các xã Dự án thì cứ 2 người chắc chắn sẽ có một người nghèo. Tỷ lệ cận
nghèo của vùng Dự án cũng cao hơn so với mức trung bình. Cả nước chỉ có 6,98% dân số nằm
trong diện cận nghèo nhưng con số này xét chung cho sáu tỉnh và xét riêng cho 130 xã Dự án
tương ứng sẽ là 7,39% và 8,07%. Nếu chỉ so sánh giữa các xã trong các huyện Dự án, có thể thấy
tỷ lệ nghèo của xã không trong Dự án thấp hơn hẳn tỷ lệ trung bình của 130 xã Dự án (34,9% so
với 51,9%); hay so sánh giữa các huyện trong sáu tỉnh, ta thấy tỷ lệ nghèo của 26 huyện cao hơn
hẳn các huyện còn lại (45% so với 20%). Xét trên phạm vi cả nước, rõ ràng tỷ lệ nghèo của sáu
tỉnh là cao hơn gấp đôi tỷ lệ chung của cả nước (24,9% so với 11,8%). Mặc dù, Dự án GNKVTN
đ
ã có tiêu chí l
ựa chọn các xã/huyện đưa vào Dự án là phải có tỷ lệ nghèo cao hơn (cụ thể chỉ
huyện có tỷ lệ nghèo trên 30% mới trở thành vùng Dự án) nhưng các dữ liệu thể hiện sự chênh
lệch lớn giữa vùng Dự án và ngoài Dự án phản ánh sự tụt hậu về kinh tế của khu vực Dự án, đồng
thời ám chỉ đời sống kinh tế khó khăn đặc biệt của người dân vùng Dự án.
Thứ hai, từ góc độ dân tộc, dữ liệu khẳng định nhóm nghèo hơn là các nhóm dân tộc thiểu
số: Dữ liệu thứ cấp khẳng định nhóm nghèo hơn trong vùng Dự án là nhóm dân tộc thiểu số (bản
địa và di cư) so với dân tộc Kinh (Hình 2.2).
Hình 2.2 Tỷ lệ nghèo của các dân tộc năm 2010
Nguồn: Tính toán cho vùng Dự án từ dữ liệu Agricensus 2011
30
11
24
24,9
7,4
Trung bình 26 huy
ện trong Dự án
45,0
8,4
Huy
ện
ngoài D
ự án
nhưng trong sáu t
ỉnh
20,0
7,1
130 xã D
ự án
51,9
8,1
Trung bình c
ủa các xã ngoài Dự án nhưng trong 26
huy
ện Dự án
39,4
8,7
Nguồn: Agricensus 2011 và * tỷ lệ nghèo cả nước theo công bố của Bộ LĐTBXH
Trong năm 2010, khi tỷ lệ nghèo trung bình của cả nước giảm xuống chỉ còn 14,2% (Bảng 2.1) thì
tỷ lệ nghèo của sáu tỉnh Dự án là gần 25% và cứ thế tăng dần nếu xét ở quy mô hẹp hơn cho 26
huyện Dự án hoặc 130 xã Dự án. Ở quy mô cấp tỉnh, cứ khoảng 4 người thì có một người là
người nghèo, còn ở các xã Dự án thì cứ 2 người chắc chắn sẽ có một người nghèo. Tỷ lệ cận
nghèo của vùng Dự án cũng cao hơn so với mức trung bình. Cả nước chỉ có 6,98% dân số nằm
lớn nhất, thì khoảnh cách chênh lệch này tương ứng là 62 và 25 điểm phần trăm.
Từ Hình 2.2, có thể thấy rằng, tại các vùng Dự án, cứ gặp ba người Kinh thì ít nhất hai người
trong số họ sống trên ngưỡng nghèo.Còn nếu gặp 3 người dân tộc thiểu số thì có nhiều khả năng
2 người trong số họ sống dưới ngưỡng nghèo. Và đây mới chỉ là tỷ lệ nghèo thô xét theo các tiêu
chuẩn tiền tệ, còn nếu xét theo thước đo nghèo đa chiều thì có thể dễ dàng dự đoán được rằng
với phân bố dân cư (người Kinh chủ yếu tập trung ở các thành phố và trung tâm văn hóa - kinh tế
- xã hội), tập tục sinh hoạt (còn nhiều điểm lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số) như hiện nay
thì tỷ lệ nghèo ở nhóm dân tộc thiểu số có thể còn cao h
ơn n
ữa và khoảng cách giữa nhóm Kinh
và các nhóm dân tộc còn lại tại các vùng Dự án sẽ còn lớn hơn nhiều, đặc biệt khi bóc tách chi tiết
đến các khía cạnh của nghèo đa chiều như giáo dục, y tế, nước sạch.
Bảng 2.2: Tiếp cận dịch vụ thiết yếu (điện, nước sạch, vệ sinh) giữa các nhóm dân tộc (2010)
T
ỷ lệ hộ (%)
Sử dụng điện l
ư
ới
qu
ốc gia
dùng ngu
ồn n
ước
s
ạch cho ăn uống
Có h
ố xí hợp vệ
sinh
Xã d
ự án (130 x
95,2
40,4
DTTS b
ản
đ
ịa
92,8
50,6
6,5
DTTS khác
86,4
70,9
12,6
Chung ( sáu t
ỉnh)
Kinh
99,0
98,7
62,8
DTTS b
ản
đ
ịa
95,1
64,5
10,1
DTTS khác
89,7
79,4
17,2
Bắc như Dao, Mường, Thái, H’Mông và từ đồng bằng sông Mê-kông), các hộ di cư tự do trong
thời gian 3 năm trở lại đây thường là những đối tượng khó khăn hơn.
Thứ ba, từ góc độ giới, nhóm hộ có chủ hộ là nữ nghèo hơn so với nhóm hộ có chủ hộ là
nam giới trong vùng Dự án: Nhóm hộ với chủ hộ là nữ (gồm dân tộc theo xã hội mẫu hệ và phụ
hệ) có tỷ lệ nghèo cao hơn đáng kể so với chủ hộ là nam. Chênh lệch về tỷ lệ nghèo trong nhóm
hộ có nữ làm chủ hộ so với nhóm hộ có nam làm chủ hộ, tính riêng cho địa bàn 130 xã Dự án, là
10 điểm phần trăm (tương ứng với 60,4% và 50,4%). Còn tính cho 26 huyện trong Dự án và
chung cho cả sáu tỉnh được khảo sát lần lượt đều là trên 12 và 13 điểm % (xem Bảng 2.3).
Bảng 2.3: Tỷ lệ nghèo phân theo giới tính chủ hộ tại vùng Dự án (2010)
Gi
ới tính chủ hộ
T
ỷ lệ ngh
èo
T
ỷ lệ cận ngh
èo
130 xã D
ự án
Nam
50,4
8,3
N
ữ
60,4
6,5
26 huy
ện trong Dự án
Nam
43,1
ới), khiến gia đ
ình h
ọ không quá bần cùng (vì vẫn có sức lao động, khả năng sản
xuất) nhưng c
ũng không khá gi
ả hẳn lên được.
“Hộ khó khăn là các hộ đàn bà không có chồng (chồng chết), con; nhà đông con (10 khẩu) không phát triển
được”
(Già làng, xã Ia Broai, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai)
Điều đó có thể thấy rõ h
ơn qua s
ố liệu của Bảng 2.4. Mặc dù nghèo hơn so với nhóm hộ có nam
giới làm chủ hộ (tính theo thước đo tiền tệ) nhưng tiếp cận với điện và nước sạch của nhóm hộ có
nữ làm chủ hộ lại tương tự [ở phạm vi xã Dự án] hoặc cao hơn [ở phạm vi huyện Dự án và tỉnh
Dự án]. Tuy vậy, tình hình tiếp cận với hố xí hợp vệ sinh thì nhóm hộ có nam làm chủ lại cao hơn
[với mức chênh lệch dao động trên dưới một đến ba điểm phần trăm ở cả ba cấp xã, huyện, tỉnh
Dự án]. Sự khác biệt trong tiếp cận các dịch vụ và tiện ích sinh hoạt cơ bản này của hai nhóm hộ
24
gia đ
ình có th
ể được giải thích bằng mối quan tâm của chủ hộ có giới tính khác nhau được đặt
vào các tiện ích khác nhau. Phụ nữ làm chủ hộ có thể quan tâm hơn đến việc sử dụng nước sạch
cho sinh hoạt gia đ
ình và ăn u
ống.
“Trong gia đ
ình, ng
ư
ời phụ nữ ngoài lo việc đồng áng còn là ng
ư
s
ạch cho ăn uống
có h
ố xí hợp vệ
sinh
130 xã D
ự án
Nam
91,2
66,8
17,2
N
ữ
92,6
66,5
16,6
26 huy
ện trong Dự án
Nam
93,2
71,5
21,2
N
ữ
94,1
72,2
19,3
6 t
ỉnh Dự án
Nam
tượng dễ bị tổn thương của Dự án. Cơ hội để thụ hưởng các nguồn vốn tự nhiên khác như khí
hậu, môi trường, sự đa dạng sinh học, sản vật từ rừng, v.v. về cơ bản sẽ không có ý ngh
ĩa khác
biệt giữa nhóm yếu thế và nhóm không yếu thế.
25
Bảng 2.5: Sở hữu đất và diện tích canh tác phân theo dân tộc trong vùng Dự án (2010)
Di
ện tích đất sở hữu (m2) trung b
ình hộ
Di
ện tích trồng cây trung b
ình hộ (m2)
Đ
ất trồng
cây hàng
năm
Đ
ất
tr
ồng
cây lâu
năm
Đ
ất
lâm
nghi
ệp
T
ổng
di
19.416
4.934
2.156
908
50
416
632
DTTS khác
10.224
5.343
1.074
16.641
4.066
2.015
2.714
93
1.768
667
26 huy
ện
trong D
ự
án
Kinh
7.089
7.509
1.100
15.698
2.131
1.493
ỉnh Dự
án
Kinh
2.622
4.110
957
7.689
1.891
511
2.791
212
683
303
DTTS b
ản
đ
ịa
8.699
4.359
2.798
15.856
4.048
1.585
2.386
81
1.007
646
DTTS khác
8.428
5.485
khoảng 0,24 và 0,53 ha mỗi hộ (xem Bảng 2.5).
Quỹ đất của nhóm dân tộc thiểu số bản địa chủ yếu được đầu tư cho trồng cây hàng năm (lúa,
ngô) và lâm nghiệp, là hai loại cây không đ
òi h
ỏi đầu tư và chăm sóc nhiều nhưng không cho hiệu
quả kinh tế và thu nhập lớn như những loại cây mà nhóm dân tộc Kinh chú trọng và nhóm dân tộc
khác đang có xu hướng đầu tư. Diện tích đầu tư trung b
ình c
ủa các hộ dân tộc khác vào cây hàng
năm c
ũng khá cao, tương đương v
ới nhóm dân tộc thiểu số bản địa (xấp xỉ 1,0-1,1 ha ở cấp xã và
huyện Dự án, giảm xuống khoảng 0,85 ha nếu tính chung cho cả sáu tỉnh Dự án). Nhưng diện tích
đất dành cho cây lâu năm của họ lại cao hơn hẳn. Có thể do nhóm này có nhiều người mới di cư
đến cần thu hoạch hàng năm để đảm bảo cuộc sống trong quá trình tích l
ũy thêm đ
ất, nhưng mục
tiêu dài hạn của họ vẫn là tăng dần đầu tư và chờ thu hoạch từ các diện tích cây lâu năm/cây công
nghiệp.