ĐỀ CƯƠNG LÝ LUẬN VĂN HỌC
CHƯƠNG I
VĂN HỌC, HÌNH THÁI Ý THỨC XHTM
I. Đối tượng đặc trưng của văn học.
- “Phạm vi nghệ thuật là tất cả những cái gì có trong hiện thực( con người, thiên
nhiên) đó là những cái con người quan tâm, không pải cái quan tâm của một học
giả mà là của con người bình thường - nội dung quan tâm đó là nghệ
thuật.”(Secnưxepki).
- Đối tượng của Vn không tách bạch với đối tượng của Kh nhưng Vn có cách nhìn
và chiếm lĩnh riêng:
+ Vn pa các quan hệ trong xã hội loài người.
+ Vn ko pa hiện thực trong ý nghĩa kách quan phổ quát của chủng loại mà pa mối
qua hệ người kết tinh trong sự vật(con đường cho những tấm lòng…)
- Đối tượng chủ yếu của văn nghệ là con người – là điểm tựa nhìn ra toàn thế giới,
miêu tả con người là miêu tả toàn thế giới.
- VH nhận thức con người như những tính cách(hiền lành, dũng cảm…) và mang
nội dung đạo đức nhưng kác với cách nhìn của đạo đức học.
- VH cũ ng miêu tả con người trong đời sống chính trị nhưng ko pải là những con
người mang bản chất GC trừu tượng. Vh tái hiện các bản chất xã hội như những
tính cách, làm sống lại cuộc sống chính trị của con người như số phận con người.
Tóm lại:
- Chỉ ra cái đặc thù đối tượng của Vh ko pải là… mà là tìm ra tính đặc thù của văn
nghệ trong cái chung
- Phản ánh con người XH
- Tái hiện thế giới trong mối tương quan với lý thưởng và khát vọng của con
người….một cách toàn vẹn và sinh động .
II. NỘI DUNG TÌNH CẢM XÃ HỘI THẨM MỸ
- Là một hình thái ý thức xã hội nhưng ý thức trong văn nghệ đã chuyển hoá thành
một tình cảm mãnh liệt nhưng không pải tình cảm mãnh liệt nào cũng trở thành
nghệ thuật….
- Tình cảm trong nghệ thuật mang sắc thái xã hội ….
thuật.
2. Tính tạo hình và biểu hiện của hình tượng.
- HTNT là cái được sáng tạo, được khái quát chứ không phải cái được sao chép, có
sẵn.
- Tạo hình là làm cho kách thể có được tồn tại cụ thể, khái quát một thể xác, hình
hài.(tạo cho hình tượng ko gian thời gian…những con người có nội tâm…)
+ Cái vô hình nhờ có tạo hình mà xuất hiện trong nghệ thuật…
+ Không có tạo hình thì cũng không có hình tượg.
+ Tạo hình ko thiên về kể lể mà mang tính chọn lọc những chi tiết ít ỏi nhất nhưng
tiêu biểu nhấ giàu sức biểu hiện nhất cho một cuộc sống, một tính cách, một tình
huống.
Ví dụ: Chi tiết “cái bóng”… Đó là những chi tiết biết nói.
- Biểu hiện:
+ là pc tất yếu của tạo hình: bộc lộ cái bên trong, bản chất của SV, hé mở những
nỗi niềm thầm kín trong tâm hồn.
+ gợi lên sự toàn vẹn, đầy đặn của HT thể hiện tư tưởng tình cảm của tác giả, của
con người trước các hiện tượng của cuộc sống.
=> Sự kết hợp giữa tạo hình và biểu hiện làm cho hình tượng có được một hình
thức nghệ thuật độc đáo. Đó là một thể thống nhất sinh động giữa thực và hư, trực
tiếp và gián tiếp, ổn định và biến hoá, thống nhất và đa dạng mang đầy nội dung tư
tưởng và cảm xúc.
3. Hình tượng và ký hiệu.
- HTNT muốn giữ lại và truyền đạt cho người kác thì pải chuyển hoá thành các ký
hiệu ko chỉ bằng từ ngữ và các chất liệu kác mà còn bằng các chi tiết tạo hình biểu
hiện.
- Trong các chi tiết tạo hình luôn có sự mã hoá các tư tưởng, cảm xúc xã hội thẩm
mỹ.
- Muốn hiểu HTNT thì pải giải mã, chiếm lĩnh được ngôn ngữ nghệ thuật.
=> HTNT vừa là sự pản ánh nhận thức đời sống, vừa là hiện tượng ký hiệu giao
tiếp.
VĂN HỌC VỚI HIỆN THỰC
I. Phản ánh với nhận thức.
- Những tác phẩm phản ánh đúng đắn bản chất hay một vài kía cạnh bản chất của
hiện thực – nghĩa là có giá trị và tác dụng nhận thức – thì mới có tính chân thật.
II. Phản ánh với biểu hiện.
- Vh ko chỉ phản ánh thế giới kách quan mà còn biểu hiện thế giới chủ quan của
nhà văn.
III. Phản ánh với sáng tạo.
- Văn nghệ không chỉ biết phản ánh mà còn pải sáng tạo nữa.
- Sáng tạo nghệ thuật là nói sự kách thể hoá bằng ngôn ngữ những mơ ước và lý
tưởng của nghệ sĩ.
IV. Phản ánh với tác động.
- Phản ánh chân thật thì văn học mới có tác động tích cực tới bạn đọc.
CHƯƠNG BA
Ý THỨC XÃ HỘI TRONG VĂN HỌC
I. Văn học với các hình thái ý thức XH kác(triết học, chính trị, tôn giáo, đạo
đức)
II. Tính nhân dân trong văn học - một phạm trù tinh thần thẩm mỹ của nghệ
thuật tiến bộ.
- Phải nói về cuộc sống của nhân.
- Giá trị của văn nghệ ở chỗ được nhân dân chấp nhận (Hịch tướng sỹ, Truyện
Kiều, Chiến tranh và hoà bình)
- Phải thức tỉnh được những quần chúng trong nhân dân.
III. Tiêu chuẩn tính nhân dân trong văn học.
- Pản ánh chân thực cs của nhân dân(Ko phải lúc nào cs của nhân dân cũng được
pa như một đối tượng của nghệ thuật)
- Phải miêu tả chân thật theo cách nhìn, cách nghĩ của nd theo những lý tưởng
thẩm mỹ tiến bộ của thời đại.( bài thơ SNNN, Cáo Bình Ngô, VTNSCG, thấm
nhuần tình thần yêu nước của nd…)
- Phải có tính giác ngộ cho quần chúng, giúp nd nhận thức được vai trò ls của
- Thể thơ lục bát là một thể thơ rất giàu tính rât giàu tính dân tộc.
CHƯƠNG V
VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
Cần phân biệt nghệ thuật ngôn từ với ngôn từ nghệ thuật.
- Ngôn từ nghệ thuật là kết quả của các biện páp tu từ cùng với cách tổ chức lời
văn góp pần bộc lộ những giá trị tư tưởng thẩm mỹ của tác phẩm.
- Nghệ thuật ngôn từ là bàn về đặc trưng cơ bản của văn học với tư cách lấy ngôn
từ làm chất liệu đối sánh với các loaị hình nghệ thuật có chất liệu kác.
- Cùng nói đến ngôn từ nhưng ở đây chỉ bàn đến những thuộc tính về mặt chất liệu
làm nên đặc trưng của văn học mà thôi.
I. ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
- Văn học không chỉ là hình thái ý thức xã hội mà nó còn là một hình thái nghệ
thuật cho nên muốn làm nổi bật được đặc trưng của văn học thì phải đặt nó trong
sự đối sánh với các hình thái nghệ thuật kác như: hội hoạ, âm nhạc, điêu khắc…
+ Chất liệu của âm nhạc: âm thanh, tiết tấu…
+ Hội hoạ: đường nét, màu sắc…
+ Vũ đạo là hình thể, động tác…
đều là vật chất với những trạng thái của nó.
- Chất liệu văn học là ngôn từ, không phải là vật chất mà chỉ là ký hiệu mà thôi.
- Văn học là NTNT song không phải là ngôn từ chỉ tác động vào lý tính như chính
trị, triết học…mà phải là ngôn từ giàu cảm xúc, tình cảm tác động chủ yếu vào tâm
hồn con người.
-> Đặc trưng của Vh với tư cách là HTYTXHTM phải là cơ sở cho đặc trưng của Vh
với tư cách là loại hình nghệ thuật là như vậy.
- Xuất pát từ chất liệu để đối sách với các hình thái nghệ thuật kác, Vh với tư cách
là nghệ thuật của ngôn từ có những đặc điểm sau.
1. Tính hình tượng gián tiếp:
Các loại hình NT kác Văn học
- Hoạ, nhạc, vũ đạo mặc dù
là màu sắc, đường nét, âm
vẫn có thể hiểu được những suy
tư của tg hay nhân vật ẩn dấu
đằng sau bức tranh. Các HTNT
kác mang tính td gián tiếp là vì
vậy.
- Ko tái hiện con người đang trực
tiếp tư duy những gì.
- Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất trực tiếp của
tư duy, là ký hiệu của tư duy nên tất cả
những suy nghĩ cảm xúc, trạg thái tình cảm
nào của con người dù ko nói ra cũng pải
thông qua ngôn ngữ.
- VH lấy ngôn ngữ làm chất liệu nên có thể
bộc lộ trực tiếp tất cả những suy nghĩ tình
cảm của nhà văn, nhân vật(ví dụ: Đời cách
mang….)
- VH cổ kim đt cho chúng ta thấy những st
của con người…(nhớ lại đối thoại của ông
giáo, của Chí, Hộ, Nguyễn Duy )
->Vh bao giờ cũng là cuộc đối thoại, tranh
luận công kai hoặc ngấm ngầm về tư
tưởng.
-> Vh giàu khuynh hướng tư tưởng hơn
các loại hình nghệ thuật kác, ko pải ngẫu
nhiên ki có những chuyển biến lớn vh
thường đóng vai trò tp.
3. Tính vô cực hai chiều về không thời gian.
- Các HTNT
của tâm hồn trái tim con người: Ko gian như có giăng tơ….
4. Tính phổ biến trong sáng tác, truyền bá và tiếp nhận.
- Ngôn ngữ là vốn sở hữu chung của mọi người nhưng đồng thời cũng là sở hữu
riêng của một người ko thể chia cho ai. Do đó, ngôn ngữ vừa là phương tiện để tự
biểu hiện vừa để giao tiếp.
- Văn học ít đầu tư về phương diện vật chất hơn so với các ngành nt kác.
- Người đọc được tự do tuyệt đối lựa chọn cáh tiếp cận và tiếp nhận.
- Vh giàu khuynh hướng tư tưởng và phản ánh hiện thực một cách toàn diện: dân
ca Nga được Gôgon cho là lịch sử tâm hồn Nga.
II. VĂN HỌC VỚI CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT
1.Những vấn đề chung.
- Như văn học, các loại hình NT kác cũg ra đời từ lao động…
- Các loại hình NT liên đới, xuyên thấm, thâm nhập lẫn nhau. Ko pải ngẫu nhiên
người ta gọi: KT là “âm nhạc ngưng tụ”, hoa văn là âm nhạc “được kắc hoạ”, vũ
đạo là âm nhạc “cơ thể”, âm nhạc là kiến trúc có âm thanh….
- Chất liệu của vh là ngôn từ nên nó liên quan đến tất cả các loại hình thuật kác.
Bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng có thể tìm thấy đại lý gián tiếp cho chất liệu,
cho ngôn ngữ của chính mình trong kho vô tận đó.
+ Bất cứ loại hình nt nào cũng có thể chuyển dịch một phần trong vh thành HTNT
của mình.
+ Vh cũg thể biến tác phẩm của bất cứ loại hình Nt nào thành hình thượng ngôn từ
theo cách riêng của mình như Sóng Hồng: “ Thơ là thơ, đồng thời cũng là vẽ, là
nhạc, là chạm kắc theo cách riêng của mình…”
Ví dụ: ND đã đữa vào những trang thơ của mình một hình tượng âm nhạc
hoàn chỉnh.
2. VH với hội hoạ.
- Trong thơ: Thi trung hữu hoạ, hoạ trung hữu thi(Tô Đông Pha – Vương Duy); Vô
hình hoạ(Đỗ Phủ); tranh của hoạ sĩ nổi tiếng Hoàn Can(bất ngữ thi-thơ ko lời);
tranh là hữu hình thi(thơ có hình), hoặc “vô thanh thi – tranh ko tiếng”.
- Trong văn: ngôn ngữ cũng rất giàu hình tượng: Nguyễn Quang Sáng miêu tả hình
sống, ứng xử phù hợp với lẽ phải, tình thương trách nhiệm
+ Giair quyết tốt nhất các mqh của con người…giúp con người biết tự đièu chỉnh
mình, kiềm chế những dục vọng ham muốn…
+ Bằng hình tượng nghệ thuật, vh nhờ tưởng tượng và cảm xúc có thể phóng đại
cái tốt, đẹp cũng như cái xấu, cái ác cho mọi người dễ cảm nhận để tự suy xét
ngẫm nghĩ.
- Văn học còn cung cấp rất nhiều hiểu biết kác nhau, đa diện và có tính tổng hợp
nó đủ kả năng làm cho con người hiểu biết, thông minh.
- Vh như một người bạn, người đồng hành, trò chuyện, tâm sự với người đọc, đối
thoại bên trong tâm hồn người đọc, giữa pần tốt, pần xấu, lương tri và tội lỗi, giữa
lý trí sáng suốt cao đẹp và ham muốn tăm tối đê hèn trong mỗi cá nhân. TPVC
luôn kêu gợi cuộc tự đấu tranh soi xét ấy.
=> Vh có tác dụng giáo dục và tự giáo dục, tạo ý nghĩa xã hội sâu rộng đối với
đs, đáp ứng nhu cầu hoàn thiện tâm hồn, nhân cách con người.
3. Giao tiếp.
- Nghệ thuật là một loại giao tiếp .
- Giao tiếp là một chức năng thường tại trong hành động sáng tạo và tiếp nhận của
văn học.
- Viết văn là một cách gt với cuộc sống và với chính bản thân chủ thể.
- Văn chươg là nơi cởi mở tâm hồn phơi bày suy nghĩ, thái độ, tư tưởng, cảm xúc
(nhà văn, của nhân vật….)
- Chưa ở đâu như văn học trưng bày đầy đủ nhất mọi biểu hiện giao tiếp của mọi
loại người tưh bậc thánh nhân, vương giả đến kẻ lưu manh, côn đồ của mọi thời
đại, mọi dân tộc kắp vùng đất nhân gia – như một phòng triển lẫm nhân sinh mà ai
cũng có quyền được ngắm, giao tiếp, đối thoại
Ví dụ: Ta nghe được lời trò chuyện( Nam Cao, Nguyễn Du, Hồ Xuân
Hương…)
- Văn học tạo nên những vòng sóng vô cùng vô tận nếu như tác phẩm vh cị thẩm
có giá trị thẩm mỹ cao.
CHƯƠNG TÁM
1. Nhu cầu giải thoát nội tâm.
- Tích luỹ những ấn tượng về cuộc sống-> giải thoát nội tâm( Tố Hữu - điệu hò quê
mẹ; Tế Hanh – dòng sông quê hương;
- Giải thoát nội tâm và bộc lộ tình cảm là nhu cầu thôi thúc đầu tiên của quá trình
sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật để tự biểu hiện mình và cũng là để giao
tiếp.
2. Bản chất của quá trình sáng tạo.
- Tưởng tượng giúp con người bộc lộ nhận thức xúc cảm bằng các hình tượng nghệ
thuật ko chỉ phản ánh thế giới kách quan mà còn để bộc lộ chủ quan.
“Vầng trăng ai xẻ làm đôi” ko chỉ miêu tả Tn mà còn nói lên tâm trạng
người ngắm cảnh.
- Liên tưởng phát huy kho dự trữ ấn tượng để phát huy các mối liên hệ ngẫu nhiên,
vô hình nằm trong các sự vật.
- Đó là sự tinh nhạy của giác quan…
- Nhờ tưởng tượng mà các hình tượng nghệ thuật ko bị lặp lại.
- Thao tác tưởng tượng: ấn tượng, tiềm thức, vô thức, ý thức-> hình tượng NT.
3. Cảm hứng, trạng thái tâm lý then chốt và bao trùm sáng tác.
- Nhu cầu bộc lộ giải thoát tình cảm cộng với năng lực tưởng tượng dẫn đến trạng
thái sẵn sàng sáng tạo của nhà văn được gọi là cảm hứng.
- Ý chí, trí tuệ, cảm xúc của nhà văn ki đạt đến sự hài hoà sẽ bùng cháy trong tư
duy nghệ thuật của nhà văn, những hình tượng, tư tưởng tự nảy sinh.
- Cảm hứng cũng bắt nguồn từ điều kiện bên ngoài: phong cảh, điều kiện sống…
- Cảm hứng bắt nguồn từ độ nhạy cảm của con tim “hãy đập vào tim anh thiên tài
là ở đó”.
CHƯƠNG MƯỜI
BẠN ĐỌC, CHỦ THỂ TIẾP NHẬN VĂN HỌC
I, Vai trò của người đọc.
- Bạn đọc đã đồng hành cùng nhà văn trong quá trình sáng tác….
- Bạn đọc làm phong phú thêm cho tác phẩm bằng những cảm nhận và đánh giá
riêng của mình( Ví dụ: Secpia chỉ viết 1 Hamlet, nhưng có hàmg trăm Hamlet
2. Lý giải và ngộ nhận.
- Chính ngộ: tuy không phù hợp với ý đồ của tác giả nhưng vẫn có căn cứ trong tác
phẩm
- Phản ngộ:
+ Cố tình hiểu sai…
+ Vô tình….
3. Mối quan hệ giữa nhà văn với bạn đọc.
- Tác phẩm phải được đón nhận, tác phẩm dành cho bạn đọc
- Người đọc pải có tầm đón nhận tốt, hiểu được hàm ý văn bản.
III. HIỆU QUẢ CỦA TIẾP NHẬN VĂN HỌC
1. Đồng cảm.
- Đồng cảm về tư tưởng, quan niệm giữa người đọc và tác phẩm.
2. Thanh lọc.
- Là kết quả người đọc thâm nhập vào thế giới tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm,
và từ trong xúc động cảm thấy tâm hồn mình được điều tiết hài hoà, mở rộng nâng
cao.
3. Bừng tỉnh.
- Từ đồng cảm và thanh lọc người đọc tiếp tục suy ngẫm, liên hệ với thế thái nhân
tình, bỗng nhận ra thêm một khía cạnh nào đó triết lý có ý vị nhân sinh thì đó là
bừng tỉnh.
Ví dụ: Trong đầm gì đẹp bằng sen
- Đồng cảm vẻ đẹp thanh khiết của sen về sắc, về kí tiết, nhưng nghiền ngẫm
ta còn nhận ra lẽ sống cho mình.
4. Ghi tạc.
- Xúc động mãnh liệt, để lại ấn tượng mãi ko phai mờ thì đó là ghi tạc.
+ Ghi tạc ngữ âm: nhớ truyện kiều…
+ Ngữ nghĩa: ghi nhớ ý nghĩa tác phẩm….