Tổng Quan Kỹ Thuật Chăm Sóc, Trồng Cây Cà Phê doc - Pdf 14

Tổng Quan Kỹ Thuật Chăm Sóc, Trồng
Cây Cà Phê
Cây cà phê có nguồn gốc mọc trong rừng châu Phi, trên cao nguyên Kaffa
của Ethiopia (ở độ cao 1370-1830 m). Từ đó cây cà phê được con người
phát hiện và di canh đến các địa lục khác.

Ở Việt Nam, cây cà phê do các cha đạo người Pháp mang đến để trồng làm
cảnh từ những năm 1857. Từ năm 1930, cây cà phê bắt đầu được trồng thành
những đồn điền để khai thác nhân.
Từ đó đến nay, diện tích, năng suất, sản lượng cà phê ở nước ta không
ngừng tăng lên.
II- ĐẶC TÍNH THỰC VẬT HỌC:
1-Rễ: Cây cà phê có 3 loại rễ
1.1-Rễ cọc:
Rễ có độ dài từ 0,3-0,5 m, mọc từ thân chính. Nhiệm vụ chính là dùng làm
trục giữ thân tránh đỗ ngã.
1.2- Rễ nhánh:
_ Là những rễ nhánh mọc ra từ rễ cọc, ăn sâu vào đất để hút nước. Rễ nhánh
có thể ăn sâu xuống đất tới 1,2- 1,5 m. Nếu bạn thấy đoạn văn bản này hiển
thị có nghĩa là ai đó đã đánh cắp bài viết từ website thông tin thị trường cà
phê. Nếu bạn thấy đoạn văn bản này hiển thị có nghĩa là ai đó đã đánh cắp
bài viết từ website thông tin thị trường cà phê Nếu bạn thấy đoạn văn bản
này hiển thị có nghĩa là ai đó đã đánh cắp bài viết từ website thông tin thị
trường cà phê Nếu bạn thấy đoạn văn bản này hiển thị có nghĩa là ai đó đã
đánh cắp bài viết từ website thông tin thị trường cà phê Rễ nhánh càng ăn
sâu, khả năng hút nước và chịu hạn càng tốt. Các rễ bên mọc từ rễ nhánh
phát triển ra xung quanh hành hệ thống rễ con.
1.3-Rễ con:
_ Sự phát triển của rễ con phụ thuộc vào độ dày của tầng đất canh tác, giống
cà phê, chế độ bón phân, tưới nước, canh tác. Hệ thống rễ này hầu hết tập
trung ở tầng đất mặt (Từ 0-30 cm). Nhiệm vụ chủ yếu là hút chất dinh dưỡng

từ 22 – 260 C.
2 Ánh sáng: cây cà phê vối thích hợp ánh sáng trực xạ yếu, do đó cần trồng
cây che bóng để điều hòa ánh sáng cho vườn cây cà phê hợp lý đặc biệt là
giai đoạn kiết thiết cơ bản.
3-Ẩm độ: Cây cà phê (Vối) thích hợp trong điều kiện ẩm độ cao, gần như
bão hòa.
4- Lượng mưa: Cây cà phê sinh trưởng phát triển tốt ở những vùng có
lượng mưa hàng năm 1.800 – 2.000 mm, có một mùa khô ngắn vào cuối và
sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa.
5- Gió: Gió nóng, lạnh hay gió mạnh đều gây ảnh hưởng cho sinh trưởng
phát triển cây cà phê. Khi lập vườn cần trồng cây chắn gió phù hợp cho
vườn cà phê.
IV- ĐẤT ĐAI:
Cây cà phê không đòi hỏi khắt khe về đất, nó có thể phát triển tốt trên nhiều
loại đất khác nhau như: Đất nâu đỏ, nâu vàng hoặc đất xám …. Trong đó,
đất đỏ bazan cây cà phê sinh trưởng tốt, cho năng suất cao. Yêu cầu cơ bản
là có tầng đất mặt sâu từ 70 cm trở lên, có thành phần cơ giới trung bình đến
hơi nặng (Đất thịt nhẹ- sét).
V- GIỐNG:
Có 3 giống chính: Cà phê chè (Arabica), cà phê vối (Robusta), cà phê mít
(Excelsa)
Ơ Đồng Nai thích hợp trồng giống cà phê vối ( Robusta).
Hiện nay, Viện Nông Nghiệp Tây Nguyên đã chọn lọc và đưa ra sản xuất
nhiều dòng cà phê.
Đó là các dòng:
-Dòng TR5: cây sinh trưởng khoẻ, năng suất đạt 3,5 tấn/ha. Trọng lượng 100
nhân đạt 20,6 gram( giống củ chỉ đạt 13-14 gram/100 nhân)
-Dòng TR6: cây sinh trưởng khỏe, kháng rỉ sắt rất cao, năng suất đạt 5,6
tấn/ha. Trọng lượng 100 nhân đạt 17,5 gram.
-Dòng TR4: Cây sinh trưởng khoẻ, kháng rỉ sắt, phân nhiều cành, cành

đầu nẩy mầm thì rảy mỏng từ 5-8cm)
+ Lớp bao tải khô.
+ Rơm khô (càng dày càng tốt).
+ Chung quanh khu luống ủ có vách cao 2m, có liếp che phía trên để mỏ
được ban ngày, đậy lại ban đêm.
Khi cây có 2 lá mầm tiến hành nhổ cây con, chọn những cây có một rễ đuôi
chuột đem trồng vào bầu đã chuẩn bị ở vườn ươm.
3-Chăm sóc cây con:
– Tưới nước: Cây nhỏ tưới ít và nhiều lần, cây lớn tưới nhiều và ít lần trong
ngày.
– Tưới phân thúc: tưới dung dịch urê và clorua kali theo tỷ lệ 2:1 (với nồng
độ 1%), xen kẽ với dung dịch phân hữu cơ ngâm (phân trâu, bò, phân xanh,
bánh dầu,…) cho hoai mục, cây nhỏ tưới loãng, cây lớn tưới đậm hơn.
– Chăm sóc: Nhổ cỏ, phá váng không để bầu ngập nước. Trong vườn ươm
lưu ý bệnh lở cổ rễ và bệnh vàng lá.
– Đảo cây: cây con có 3-4 đôi lá thật, tiến hành đảo cây, xếp cây lớn vào
giữa luống, cây nhỏ ở hai bên luống để cây phát triển đều. Lưu ý xếp thưa
dần khi cây lớn.
* Chú ý: dỡ dàn che từ từ, khi cây đủ tiêu chuẩn cần dỡ bỏ dàn che hoàn
toàn trước khi trồng mới 30 ngày.
4- Tiêu chuẩn cây giống:
a/ Cây thực sinh
Cây con được ươm từ hạt trước khi trồng phải đạt các tiêu chuẩn sau:
– Tuổi cây: 6-8 tháng.
– Chiều cao thân kể từ mặt bầu: 25-35cm, thân mọc thẳng.
– Số cập lá thật: 5-7.
– Đường kính gốc: 3-4mm
– Cây không bị sâu bệnh, dị hình và được luyện dưới ánh sáng hoàn toàn từ
10-15 ngày trước khi trồng.
– Kích thước bầu đất: 14-15 x 24-25cm

Cà phê là cây có nhu cầu dinh dưỡng cao. Chất hữu cơ rất quan trọng đối với
cây cà phê, cần bón mỗi năm với số lượng 10-15kg phân chuồng hoai/cây,
bón vào thời kỳ sau thu hoạch. Lượng phân hóa học bón cho 1 ha cà phê:
Lượng phân hóa học bón cho 1 ha cà phê
- Lần thứ nhất: Bón vào đầu mùa mưa (tháng 3 đến tháng 5), dùng 35%
lượng đạm, 30% lượng kali. Chia là 6 lần bón, chu kỳ 10 ngày/lần.
– Lần thứ hai: Bón vào giữa mùa mưa(tháng 7 đến tháng 8), dùng 40%
lượng đạm, 40% lượng kali, 40% lượng lân. Chia làm 5 lần bón, chu kỳ 10
ngày/lần.
– Lần thứ ba: Bón vào cuối mùa mưa(tháng 10-11), dùng 25% đạm, 60% lân,
30% kali. Chia 5 lần bón, chu kỳ 7 ngày/lần.
* Chú ý: Phải bổ sung lượng phân khoảng 30-40% so với tổng lượng phân
bón trong năm để phục hồi sinh trưởng đối với vườn cà phê cho năng suất
cao, tránh tình trạng suy kiệt cây.
3.2 Tưới nước kết hợp với bón phân qua hệ thống đường ống:
Lần tưới đầu khi hoa có hình dạng hình mỏ sẻ màu xám hoặc xám xanh. Sau
đó tưới định kỳ 7 ngày/lần đối với đất sỏi cơm, 10-12 ngày/lần đối với đất
đỏ bazan, đảm bảo 150-200 lít/cây/lần tưới. Có điều kiện dùng rơm rạ, cỏ tủ
gốc cây trong mùa khô.
Mỗi lần bón hòa tan hoàn toàn lượng phân trong bồn, mở hệ thống tưới tiết
kiệm nước, phân theo hệ thống đi đến từng gốc cây.
Các ưu điểm của phương pháp tưới nước tiết kiệm và bón phân qua đường
ống:
+ Tiết kiệm lượng nước tưới.
+ Tiết kiệm dầu tưới.
+ Tiết kiệm công tưới.
+ Tiết kiệm làm bồn.
+ Tăng hiệu quả của việc bón phân.
+ Tăng năng suất và chất lượng trái.
+ Hạn chế lây lan bệnh cây, nhất là bệnh rễ cây.

kinh tế ngắn (5 – 7 năm). Để khắc phục nhược điểm trên, có thể phối hợp
với biện pháp nuôi thêm thân (cành vượt), thay thế những thân chính có hiện
tượng tán dù. Chọn chồi khoẻ ở phần gốc, sau thu hoạch cần cưa bỏ thân đã
có hiện tượng tán dù giúp cho chồi non phát triển.
4.2-Tỉa cành:
Thường xuyên tỉa bỏ những chồi vượt, những cành bị sâu bệnh gây hại,
những cành đã ra quả ở những năm trước chỉ còn 2-3 cặp lá ở đầu cành.
4.3-Cưa đốn phục hồi:
Những vườn cà phê đã già cỗi, cho năng suất thấp thì cưa đốn phục hồi vào
cuối mùa thu hoạch trái. Vị trí cưa: cách gốc 20-30 cm, giữ lại mỗi gốc 3
chồi tốt nhất phân bố đều quanh gốc.
VIII- PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:
1-BỆNH HẠI:
1.1- Bệnh lở cổ rễ (nấm Rhizoctonia solani):
Bệnh thường gây hại cây con ở vườn ươm và thời kỳ kiến thiết cơ bản. Bệnh
hại ở phần cổ rễ, làm cổ rễ bị teo, khô thắt lại.
Phòng trị: Tiêu huỷ những cây bệnh nặng, dùng các loại thuốc để tưới vào
gốc như: Validamycin (Validacin); Pencycuron (Monceren) hoặc các loại
thuốc gốc đồng.
1.2-Bệnh khô cành, khô quả (nấm Collectotrichum coffeanum)
Bệnh thường phát triển vào đầu mùa mưa nhưng thể hiện rõ rệt khi quả còn
non đến lúc 6-7 tháng tuổi.
Phòng trị: Bón phân đầy đủ, kịp thời cân đối NPK, dùng các loại thuốc
Propineb (antracol); Carbendazim(bavistin); hoặc các loại thuốc gốc đồng
như copper sulfat (Bordeaux), Kasugamycin 2 % + Copper Oxychloride
45% (Kasuran) để phòng trừ 2-3 lần/vụ.
1.3-Bệnh tuyến trùng:
Do tuyến trùng Pratylenchus coffae gây vết thương, tuyến trùng
Meloidogyne spp. gây nốt sần, tuyến trùng Tylenchus gây nội sinh. Cây bị
bệnh thường sinh trưởng kém, vào mùa khô thường bị vàng héo, có khả

2.3-Sâu đục vỏ trái (Prays endolemma):
Thường tấn công trái non làm rụng trái hay tạo các ụ lớn trên vỏ trái làm trái
bị biến dạng, giảm giá trị sản phẩm.
Phòng trị: Cần theo dõi thu gom các trái rụng đem chôn để trừ ấu trùng đang
phát triển trong vỏ trái.
2.4-Mọt đục trái (Stephanoderes lampei):
Đục từ núm quả vào trong sau đó phá hạt. Dùng các loại thuốc để trừ như:
Phun Fenvalerate 92% (First 20EC), Etofenprox 96% (Trebon), Lambda-
cyhalothrin (Karate) vào giai đoạn quả chuyển từ xanh sang chín.
Ngoài ra còn bị một số bệnh khác do thiếu dinh dưỡng được gọi là bệnh sinh
lý như bệnh vàng lá do thiếu lưu huỳnh (S), bệnh rụt cổ do thiếu kẽm (Zn)…
2.5 Sâu đục thân thường gọi là Bore (Xylotrechus quadripe). Chỉ tác hại trên
giống cà phê chè ở tuổi cây thường từ cuối năm thứ 3 trở đi. Sâu đẻ trứng
vào kẻ nút của vỏ sau đó sâu non nỏ vào phá hoại phần gỗ bên trong thân
cây là cho cây héo rồi chết. Loại sâu này khả năng xuất hiện quanh năm
nhưng tập trung đẻ trứng rộ vào hai thời kỳ xuân, hè (tháng 3,4,5) và thu
đông (tháng 10,11).
Trồng cây bóng mát cho cà phê để hận chế sự tác hại của sâu. Dùng
Boremun 4% phun phủ kín lên thân cây từ ngọn đến gốc 1 năm 2 lần để diệt
trừ trứng, sâu non và sâu trưởng thành vào tháng 3-4 (xuân – hè) và tháng
10-11 (vụ thu đông). Những cây bị sâu nặng phải kịp thời cưa cắt kịp thời để
kịp thời diệt nguồn sâu trưởng thành.
VI. NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
1. Kỹ thuật sử dụng thuốc
1.1 Sử dụng theo 4 đúng
a. Đúng thuốc: căn cứ đối tượng dịch hại cần diệt trừ và cây trồng hoặc nông
sản cần được bảo vệ để chọn đúng loại thuốc và dạng thuốc cần sử dụng.
b. Đúng lúc: dùng thuốc khi sinh vật còn ỏ diện hẹp và ở các giai đoạn dễ
mẫn cảm với thuốc (thời kỳ sâu non, bệnh chớm xuất hiện).
c. Đúng liều lượng, nồng độ: đọc kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc và liệu

nạn nhân nóng sốt.
– Theo dõi nhịp thở, nếu ngừng thở phải làm hô hấp nhân tạo.
– Tuyệt đối không cho hút thuốc, uống sữa, uống rượu.
– Đưa nạn nhân đến Y, bác sỹ và phải mang theo nhãn thuốc.
2.4 Đồ bảo hộ lao động
- Áo dài tay, quần dài.
– Nón, mũ.
– Khẩu trang.
– Kính bảo hộ mắt
– Bao tay.
– Ủng, giày cao su
Yêu cầu bảo hộ lao động phải che phủ cơ thể và thích hợp với điều kiện khí
hậu.
2.5 Chuyên chở thuốc BVTV
– Trước khi rời khỏi cửa hàng phải: kiểm tra bao bì xem thuốc có bị rò rỉ hay
không, được gói buộc cẩn thận chưa và hỏi người bán thuốc các biện pháp
cần phải làm nếu thuốc bị đổ bể.
– Không chuyên chở thuốc BVTV lẫn lộn với các vật dễ cháy, dễ nổ, lương
thực thực phẩm vật dụng khác…
– Hạn chế chuyên chở thuốc bằng các phương tiện chật hẹp vì dễ gây ngộ
độc cho người đi cùng và ảnh hưởng môi trường.
2.6 Cất giữ thuốc BVTV
- Nên mua thuốc BVTV đủ sử dụng, tránh dư thừa nhiều.
– Phải cất giữ thuốc nơi riêng biệt, không để gần gia súc, lương thực thực
phẩm, người không có trách nhiệm.
– Nơi cất giữ thuốc không được ở nơi đầu gió, không gần giếng ăn hoặc
kênh rạch, không bị nắng chiếu vào, không bị mưa.
– Luôn kiểm tra nơi giữ thuốc, không để cho thuốc bị đổ vỡ, rò rỉ. Nếu xảy
ra cần dọn dẹp sạch sẽ ngay.
– Nơi cất giữ thuốc phải có khóa chắc chắn để trẻ em, người lớn không phận

– Nếu thuốc hoặc chất thấm nước có khả năng bay mùi ra xung quanh phải
rưới nước từ từ hoặc phủ lên đó một tấm vải nhựa.
– Thu gom thuốc đổ vãi và vật dụng xử lý cho vào túi nhựa và tiến hành tiêu
hủy.
2.10 Tiêu hủy thuốc và bao bì chứa thuốc
– Nếu bao bì bằng giấy thì cho xuống hố rồi đốt.
– Nếu bằng nhựa nhưng trên nhãn có chỉ dẫn là không được đốt thì phải đập
vỡ, đâm thủng rồi chôn xuống đất.
– Nếu bao bì làm bằng vật liệu không cháy thì đập vỡ đâm thủng.
2.11 Vệ sinh sau khi tiếp xúc với thuốc BVTV
- Cởi bỏ ngay bộ đồ bảo hộ lao động.
– Tắm gội sạch sẽ bằng xà phòng.
– Giặt giũ đồ bảo hộ lao động.
– Thay quần áo sạch trước khi nghỉ ngơi, ăn uống, hút thuốc.
Tóm lại, việc sử dụng thuốc một cách an toàn là điều rất quan trọng cho bản
thân và môi trường cộng đồng xung quanh, góp phần mang lại hiệu quả sử
dụng cao hơn. Vì thế chúng ta nên chú ý tuân thủ theo những vấn đề an toàn
và thời gian cách ly được nêu ra theo khuyến cáo hoặc trong nhãn thuốc trừ
sâu.
X- THU HOẠCH – CHẾ BIẾN – BẢO QUẢN:
1-Thu hoạch:
Khi thu hoạch chỉ nên hái trái cà phê vừa chín vì những trái cà phê quá chín
hoặc xanh là nguyên nhân làm cho cà phê mất mùi vị ngon. Ngoài ra nó còn
tạo điều kiện cho nấm mốc và độc tố phát triển.
Cà phê thu hoạch ngày nào, chế biến ngay ngày đó, không nên ủ quá 24 giờ,
làm giảm chất lượng.
2-Chế biến: Có 2 phương pháp:
– Chế biến ướt: Xát tươi loại bỏ phần vỏ, thịt, sau đó lên men hay xát bỏ
phần nhớt bám xung quanh vỏ trấu, ngâm rửa rồi đem phơi.
– Chế biến khô: Sau khi thu hoạch đem phơi cả quả, không qua khâu xát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status