1
Nghiên cứu bảo quản một số tre gỗ rừng trồng sử dụng ngoi trời lm nọc tiêu, xây
dựng cơ bản, nguên liệu sản xuất đồ mộc v ván nhân tạo
Lê Văn Lâm, Bùi Văn ái
Và các công tác viên
Phòng NC Bảo quản Lâm sản
I. Mở đầu
Gỗ, tre, nứa là dạng vật liệu tự nhiên có những đặc tính quý báu nh độ bền cơ học cao, cách
nhiệt, cách âm tốt, dễ gia công và đặc biệt là rất thân thiện với môi trờng nên đợc sử dụng rộng rãi
phục vụ cuộc sống của con ngời. Với mục đích sử dụng ngoài trời, tre gỗ thờng đợc dùng làm tà vẹt
trong giao thông vận tải, xây dựng, cột điện, điện thoại, cột cọc vờn ơm Hiện nay, mô hình kinh tế
trang trại ở nớc ta phát triển mạnh, hồ tiêu là một trong số cây trồng công nghiệp mang lại giá trị kinh
tế cao, diện tích trồng hồ tiêu ngày càng đợc mở rộng ở các tỉnh từ miền Trung trở vào. Cây hồ tiêu
trong quá trình phát triển cần có cọc chống để leo bám. Ngời trồng tiêu vẫn thờng sử dụng lõi của các
loại gỗ quý rừng tự nhiên để làm nọc tiêu. Tuy nhiên, các loại gỗ này đã bị khai thác quá mức đòi hỏi
cần có sự thay đổi trong việc sử dụng nguyên liệu làm nọc tiêu.
Một nhợc điểm cần hết sức quan tâm khi sử dụng gỗ rừng trồng đó là rất dễ bị sâu nấm phá hại,
đặc biệt khi đợc sử dụng ngoài trời. Do đó tre, gỗ rừng trồng nếu không đợc xử lý bảo quản thích hợp
sẽ nhanh chóng bị h hỏng, gây lãng phí lớn về tài nguyên và sức lao động.
Từ thực tế đó, đề tài: Nghiên cứu bảo quản một số tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm nọc
tiêu, xây dựng cơ bản, nguyên liệu sản xuất đồ mộc, ván nhân tạo đã đợc thực hiện với mục tiêu góp
phần nâng cao hiệu quả và mở rộng khả năng sử dụng gỗ rừng trồng.
II. Phơng pháp nghiên cứu
Điều tra sơ bộ sinh vật hại gỗ rừng trồng chủ yếu
Mẫu tiêu bản các đối tợng hại tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời đợc phân tích, phân loại lu
trữ trong phòng thí nghiệm về nấm và côn trùng của phòng Nghiên cứu Bảo quản lâm sản Viện Khoa
học Lâm nghiệp Việt Nam.
Nghiên cứu độ bền tự nhiên của gỗ rừng trồng
5
trong hạt tiêu của lô
tẩm thuốc và đối chứng tiêu tại Bình Phớc và Quảng Bình.
Phơng pháp nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ bảo quản gỗ tròn nguyên liệu sản xuất đồ
mộc và ván nhân tạo
Gỗ tròn Keo lá tràm và Bạch đàn gồm 16 khúc mỗi loại, đợc bóc vỏ. Trên mỗi khúc gỗ chia ra
các ô có kích thớc 10x30cm (kích thớc dài nhất song song với chiều dọc cây). Trên mỗi khúc bố trí 15
ô so le nhau và xử lý thuốc nh sau:
Loại thuốc BQ Nồng độ thuốc (%) Số ô xử lý thuốc Số ô đối chứng
XM
5
, LN
5,
NaF -Bo 5, 10 10 5
Hiệu lực bảo quản của thuốc đợc đánh giá bằng tỷ lệ X (%) diện tích biến màu trên ô xử lý
thuốc và ô đối chứng. Tỷ lệ X%<30% là công thức có hiệu lực tốt; 30%<X%<60% đạt hiệu lực trung
bình; X%>60% đạt hiệu lực kém.
III. Kết quả nghiên cứu
Sinh vật chủ yếu hại gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời
Sinh vật hại tre, gỗ rừng trồng sau khai thác còn tơi tại bãi 1
Côn trùng hại tre, gỗ tơi
Cả hai đối tợng gỗ đợc bóc vỏ và không bóc vỏ, gỗ còn tơi (độ ẩm gỗ>90%) đều cha phát
hiện thấy bị côn trùng xâm nhập và phá hoại. Chúng tôi chỉ phát hiện loài Platypus sodidus để lại dấu vết
lỗ xâm nhập trên thân gỗ rừng trồng.
Tre sau khai thác thời gian lu kho bãi cũng rất ngắn. Chúng tôi đã thu thập đợc 3 loài
Dinoderus minutus, Dinoderus brevis và Dinoderus distinctus. Tre ngay sau chặt hạ 2-3 ngày đã bị mọt
tre xâm nhập vào từ mặt cắt ngang, cắt dọc, phần mắt tre và những vị trí xây xát. Mọt tre xâm nhập vào
- Còn lại các loại gỗ Keo dậu, Trám trắng, Bồ đề và Cao su có mức độ bị hại trung bình >50% thể hiện
gỗ có độ bền kém với nấm.
Độ bền tự nhiên của gỗ rừng trồng với mối
- Gỗ Xà cừ không có vết mối ăn, đợc đánh giá có độ bền tự nhiên tốt với mối.
- Gỗ Phi lao, Bạch đàn trắng, Keo lá tràm, Bạch đàn đỏ chỉ lác đác có mẫu bị mối phá ở mức độ vết ăn
nhẹ, đợc đánh giá có độ bền tự nhiên khá đối với mối.
- Gỗ Mỡ, Keo lá bạc, Bạch đàn Urophylla, Tràm ta, Keo dậu, Keo lỡi liềm có mức độ bị mối tấn công
nhiều hơn. Các vết mối ăn đều rộng và ăn sâu vào trong mẫu nên đợc xếp loại có độ bền tự nhiên trung
bình với mối.
- Keo lai, Thông ba lá, Bồ đề, Cao su và Trám trắng đã bị mối phá nặng, thể hiện các loại gỗ này có độ
bền tự nhiên rất kém với mối.
Kết quả khảo sát độ bền gỗ tại bãi thử tự nhiên
- Hầu hết mẫu của các loại gỗ đều bị nấm mục và côn trùng phá huỷ hoàn toàn sau gần 03 năm thử
nghiệm ngoài trời.
- Bạch đàn đỏ, Tràm bông vàng, Xà cừ và Bạch đàn trắng có độ bền tự nhiên tốt hơn cả.
- Phi lao các loại, gỗ Keo, Tràm ta, Mỡ, Thông ba lá có độ bền trung bình.
- Nhóm có độ bền tự nhiên kém gồm Keo tai tợng, Cao su, Trám trắng và Bồ đề. Các loại gỗ này đã bị
sinh vật phá huỷ sau 01 năm thử nghiệm.
Sức thấm thuốc bảo quản của gỗ rừng trồng
Sức thấm thuốc của 3 loại gỗ ở mức độ ẩm dới điểm bão hoà thớ gỗ
Mối quan hệ giữa lợng thuốc thấm của 3 loài gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ (W), thời gian tẩm (T)
khi ngâm thờng gỗ có mức độ ẩm thấp nh sau:
+ Gỗ Keo lá tràm :
Y
1
= 2,168 - 0,038W
+ 0,024T (3.1)
+ Gỗ Keo lai:
Y
thuốc. Ngợc lại, khi ngâm gỗ có độ ẩm nhỏ dới 50% thì khi độ ẩm gỗ càng tăng lại cản trở quá trình
thấm thuốc bảo quản.
Sức thấm thuốc của 03 loài gỗ theo phơng pháp chân không áp lực
Mối quan hệ giữa lợng thuốc thấm và độ sâu thấm thuốc của 03 loại gỗ với các yếu tố độ ẩm gỗ
(W), thời gian duy trì áp lực (T), áp lực tẩm (P) khi tẩm gỗ bằng phơng pháp chân không áp lực nh
sau:
+ Gỗ Keo lá tràm :
Y
1
= - 0,504 + 0,022W + 0,038T + 0,630P (3.7)
+ Gỗ Keo lai:
Y
2
= 6,141 - 0,049W
+ 0,052T + 0,280P (3.8)
+ Gỗ Bạch đàn Uro:
Y
3
= 0,969 + 0,007W + 0,021T + 0,347P (3.9)
Lợng thuốc thấm khi tẩm bằng phơng pháp chân không áp lực của gỗ Keo lai đạt lớn nhất tiếp
theo là gỗ Keo lá tràm và nhỏ nhất vẫn là Bạch đàn Urophylla.
Nghiên cứu công nghệ bảo quản tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm nọc tiêu, xây dựng cơ bản
Hiệu lực của thuốc XM
5
bảo quản gỗ sử dụng ngoài trời
Bảng 1. Hiệu lực bảo quản của thuốc XM
5
tại bi tự nhiên đối với gỗ xẻ
N
9 Đ/C Keo lá tràm 91 90 81 75 40
10 Đ/C Bạch đàn 90 89 66 42 19
11 Đ/C Trám trắng 40 0 0 0 0
Nhận xét
- Mẫu đối chứng: Trong cùng điều kiện bãi thử, gỗ Keo lá tràm không tẩm thuốc sau 1 năm chỉ số độ
bền vẫn còn rất cao, sang năm thứ 2, chỉ số độ bền giảm xuống rất nhanh và bị phá huỷ nặng sau 30
tháng chôn ngoài bãi. Gỗ Bạch đàn có chỉ số độ bền kém hơn nên mẫu đã bị phá huỷ sau 24 tháng thử
nghiệm. Gỗ Trám trắng đợc sử dụng thờng xuyên để thử hiệu lực của thuốc và để đánh giá sự phá hại
của nấm và côn trùng khi chôn cùng điều kiện thì sau 6 tháng chỉ số độ bền đã giảm xuống rất thấp và
sau 1 năm đã bị phá huỷ hoàn toàn.
- Mẫu tẩm thuốc: Các mẫu tẩm có lợng thuốc thấm nhỏ (<2kg/m
3
) có chỉ số độ bền mẫu trong 2 năm
đầu vẫn đạt 100 song đến năm thứ 3 thử nghiệm, chỉ số độ bền mẫu đã giảm nhiều. Các mẫu tẩm đạt
lợng thuốc thấm cao hơn(>2kg/m
3
), có chỉ số độ bền trong 2 năm đầu không thay đổi (đạt 100) nhng
sang năm thứ 3 chỉ số độ bền đã giảm, song lợng giảm rất thấp (có thể thấy chỉ số độ bền vẫn còn rất
5
cao trên 90). Sở dĩ chỉ số độ bền giảm là do một phần thuốc đã bị rửa trôi và các yếu tố ngoại cảnh khác
tác động.
Các mẫu gỗ khúc và tre nguyên ống đợc tẩm bằng thuốc XM
5
theo phơng pháp ngâm thờng,
băng đa và Boucherie đựơc theo dõi chỉ số độ bền theo các giai đoạn với mẫu xẻ thanh. Kết quả đợc
tổng hợp tại bảng 2.
Bảng 2. Hiệu lực bảo quản của thuốc XM
5
Đối chứng 90 89 83 70 50
Ngâm thờng 8,87 100 100 100 95 90
Boucherie 90 g/cây 100 100 100 93 80
3 Tre luồng
Đối chứng 80 60 35 0 0
Từ bảng 2 cho thấy các mẫu tre và gỗ tẩm thuốc vẫn đạt chỉ số độ bền gỗ cao. Mẫu tre đối chứng
bị phá huỷ hoàn toàn, các mẫu gỗ khúc đối chứng đã bị nấm và côn trùng phá hoại làm giảm mạnh chỉ
tiêu đánh giá chất lợng.
Mẫu Tràm bông vàng và Bạch đàn trắng đợc xử lý bảo quản bằng thuốc XM
5
theo phơng pháp
ngâm thờng và khuếch tán qua thời gian thử nghiệm 2 năm có chỉ số độ bền vẫn đạt 100. Sang năm thứ
3, các mẫu Tràm bông vàng và Bạch đàn trắng có chỉ số độ bền giảm không đáng kể (chỉ số độ bền vẫn
đạt trên 90).
Kết quả theo dõi độ bền nọc tiêu tại 02 mô hình trồng tiêu tại Quảng Bình và Bình Dơng cho kết
quả tơng đơng. Nọc tiêu đối chứng sau hai năm trồng tại mô hình đã bị mục chân và bị mối tấn công
mạnh trong khi đó các nọc tiêu đợc tẩm thuốc theo phơng pháp ngâm thờng và khuếch tán vấn còn
rất tốt, không có vết mối ăn và nấm mục xâm nhập.
Đánh giá ảnh hởng của thuốc bảo quản đến năng suất hạt tiêu
Đánh giá sự phát triển của cây tiêu và năng suất hạt tiêu thu hái đợc tại lô sử dụng nọc có tẩm
thuốc và lô đối chứng sử dụng nọc không tẩm thuốc cho thấy không có sự phân biệt. Sự chênh lệch số
học giá trị trung bình năng suất hạt tiêu không có nghĩa là nọc tiêu có bảo quản có tác động tốt tới năng
suất mà đơn thuần là số liệu thực tế còn có nhiều yếu tố tự nhiên ảnh hởng tới năng suất hạt qua 01 năm
đầu tiên thu hái theo dõi.
Xác định d lợng thuốc bảo quản XM
5
trong hạt tiêu
Hạt tiêu sau khi thu hoạch đợc phơi khô tự nhiên. Mẫu hạt tiêu đợc phân tích để xác định d
lợng thuốc Bảo quản XM
5
Xây dựng quy trình công nghệ bảo quản gỗ rừng trồng làm nguyên liệu đồ mộc và ván nhân tạo
Hiệu lực của một số loại thuốc bảo quản gỗ tròn sau chặt hạ cho ở bảng 4.
Bảng 4. Hiệu lực của một số loại thuốc bảo quản gỗ rừng trồng tại bi 1
STT Loại gỗ Loại thuốc Nồng độ Tỉ lệ % diện tích gỗ bị biến màu theo thời gian
(%) 1 tuần 2 tuần 3 tuần 4 tuần T.bình
1 XM
5
10% 12 20 32 36 25
5% 15 30 42 48 33.8
Keo lá tràm LN
5
10% 15 26 36 43 30.0
5% 20 38 49 55 40.5
NaF -Bo 10% 17 26 37 44 31.0
5% 22 37 48 57 41.0
Đối chứng 24 45 55 67 47.8
2 XM
5
10% 10 18 29 40 24.3
5% 16 29 40 47 33.0
Bạch đàn LN
5
10% 13 22 33 45 29.75
5% 17 35 47 52 37.8
NaF- Bo 10% 16 25 36 45 30.5
5% 21 35 46 52 38.5
Đối chứng 23 40 52 60 43.75
Từ kết quả tổng hợp tại bảng 4, cả 03 loại thuốc với nồng độ sử dụng 10%, sau 2 tuần xử lý,
đợc đánh giá có hiệu lực tốt để bảo
quản tre, gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm nọc tiêu, xây dựng cơ bản.
Gỗ rừng trồng đợc xử lý bảo quản bằng thuốc XM
5
làm nọc tiêu không gây ảnh hởng xấu đến sự
phát triển của cây tiêu và chất lợng hạt tiêu.
Các loại thuốc bảo quản lâm sản XM
5
và LN
5
sử dụng ở nồng độ 10% có hiệu lực bảo quản tạm thời
gỗ rừng trồng sau khai thác trong thời gian 01 tháng.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT. 2004. Danh mục thuốc bảo vệ thực vật đợc phép sử dụng, hạn chế sử
dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam.
2. Nguyễn Xuân Khu. 1985. Sơ bộ xác định khả năng thấm thuốc của một số loài gỗ vùng Thanh
Sơn - Vĩnh Phú, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp rừng, NXB Nông
nghiệp, tr 97-109.
3. Đoàn Văn Kính. 1985. Vấn đề sử dụng gỗ nhóm 6-7 làm xà tải dây điện trên cơ sở xử lý hoá
chất bảo quản, Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng KHKT công nghiệp rừng, NXB Nông
nghiệp, tr 123-134.
4. Lê Văn Lâm, Nguyễn Thị Bích Ngọc. 1999. Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản lâm sản
với nấm mục, Báo cáo nhiệm vụ khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
5. Lê Văn Lâm, Nguyễn Thị Bích Ngọc. 1999. Khảo nghiệm hiệu lực của thuốc bảo quản lâm sản
với mối, Báo cáo nhiệm vụ khoa học, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
6. Nguyễn Vũ Lâm. 2002. Nghiên cứu khả năng thấm thuốc XM
5
của gỗ Keo lá tràm (Acacia