Kết quả xác định một số tính chất gỗ rừng trồng mọc nhanh ở Việt Nam
Koichi Yamamoto*, Nguyễn Trọng Nhân
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Tài nguyên gỗ rừng trồng ngày càng trở nên quan trọng hơn do thiếu tài nguyên gỗ
rừng tự nhiên. Hơn nữa, vấn đề quản lý rừng bền vững đã khiến việc sử dụng các
nguồn rừng tự nhiên trong thế kỷ 21 sẽ trở nên khó khăn hơn so với trước đây, các
loại lâm sản chỉ chiếm được ưu thế trên thị trường Quốc tế nếu được cấp chứng
chỉ về quản lý bền vững: ISO14001 hoặc FSC (Forest Stewardship Council)
(WWF 1997).
Theo tài liệu của Cục phát triển lâm nghiệp, loài cây trồng rừng chính ở Việt
Namlà Eucalytus Camaldulensis, Pinus merkusii, Acacia auriculiformis, v.v
Hiện nay gỗ rừng trồng ở Việt Namđược sử dụng chủ yếu làm nguyên liệu sản
xuất giấy. Trong thời gian tới, gỗ rừng trồng sẽ trở thành nguồn nguyên liệu chủ
yếu để chế biến các sản phẩm gỗ xẻ, ván dán, ván dăm Do vậy, việc tìm hiểu và
đánh giá chất lượng nguồn nguyên liệu để sử dụng hiệu quả gỗ rừng trồng là rất
cần thiết.
Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ một phần tính chất
của một số loài gỗ rừng trồng ở Việt Nam, đặc biệt là A. mangium,
A.auriculiformis, A. hybrid.
I. Nội dung và phương pháp thực nghiệm
Tìm hiểu tính chất các loại gỗ rừng trồng bằng cách sử dụng khoan và thiết bị
truyền sóng ứng suất thông qua hệ thống điều hành.
Địa điểm tiến hành: Ba Vì (Hà Tây), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Cầu Hai (Phú Thọ),
thị xã Hoà Bình và một số nơi khác. Ngoài ra, một số thông số như chiều cao vút
ngọn và đường kính cây gỗ thí nghiệm cũng được xác định.
1. Mẫu khoan sinh trưởng
Mẫu khoan sinh trưởng được lấy bằng khoan (Sounto, Finland) tại chiều cao
ngang ngực của cây đứng và mẫu được cuộn ngay vào giấy chuyên dùng đặc biệt
Bảng1. Hàm lượng ẩm của A.mangium, A.auriculiformis, A.hybrid tại phần lõi
trong, lõi ngoài và phần dác
Cây No.* Loài** Tuổi Lõi (ngoài) Lõi (trong) Dác
mẫu (năm) (%) (%) (%)
B-3 M 6 94-104 113-114 105-111
V-1 M 12 38-71 84-106 81-91
V-2 M 12 85-90 85-97 75-86
V-7 M 5 186-253 122-134 125-138
C-1 M 8 149-196 113-114 139
C-2 M 8 110-157 121-129 127-138
C-3 M 8 123-132 125-136 109-118
B-2 A 6 100-201 100-104 98-110
V-3 A 12 119-127 85-108 82-94
V-4 A 12 117-125 86-105 90-92
B-1 H 6 97-130 123-145 116-128
B-4 H 6 90-93 95-103 104-106
V-5 H 3.5 107-191 118-156 103-111
V-6 H 3.5 109 113-124 108-139
V-8 H 5 125-163 135-150 145-170
H-1 H 3 96-97 93-206
H-2 H 3 83-116 125 126-178
*B: Bavi, V: Vinh Phuc, C: Cau Hai, H: Hoa Binh
**A: A.auriculiformis, M: A.mangium, H: A.hybrid
2. Khối lượng thể tích khô của gỗ
Các số liệu về khối lượng thể tích khô của gỗ tính từ ngoài vào thân cây của từng
cây mẫu được ghi trong Bảng 2. Theo các số liệu thu được, giữa các loài cây có độ
tuổi khác nhau cũng khó tìm thấy xu hướng chung của khối lượng thể tích. Khối
lượng thể tích khô bao giờ cũng thấp nhất ở phần lõi và tăng dần về phía phần dác.
Đôi khi cũng tìm thấy khối lượng thể tích lớn nhất trong vùng lõi, cũng có thể là
H-1 H 3 0.30(P) 0.38(O-S)
H-2 H 3 0.29(P) 0.40(O-S)
Trung b×nh 0.40 0.58
*B: Ba Vì, V: Vĩnh Phúc, C: Cầu Hai, H: Hoà Bình
**A: A.auriculiformis, M: A.mangium, H: A.hybrid
***(P): Ruột cây, (O-H): Lõi ngoài, (M-H): Lõi giữa
(O-S): Dác ngoài, (M-S): Dác giữa,
(KLTT) Khối lượng thể tích
3. Độ tròn thân cây
Độ tròn thân cây tại chiều cao ngang ngực được đo bằng sự khác biệt giữa đường
kính lớn nhất và nhỏ nhất đối với đường kính trung bình (Bảng 3). Tỷ số này càng
nhỏ, cây gỗ càng tròn đều hơn. Tỷ số trung bình độ tròn thân cây của A.mangium
và A.auriculiformis và cây lai ở trung gian là 0,128, 0,087 và 0,095. Tỷ số độ tròn
thân cây nhỏ nhất ở A.auriculifomis tiếp theo là cây lai, cuối cùng là A.mangium.
Tuy nằm trung gian giữa A.mangium và A.auriculiformis nhưng độ tròn thân cây
lai gần A.auriculiformis hơn.
Bảng 3. Đường kính cực đại, cực tiểu và trung bình của A.mangium,
A.auriculiformis, và A.hybrid
CâyNo.* Loài** Tuổi HSĐK*** ĐKTB *** Tỷ số
mẫu (năm) (cm) (cm) (HSĐK/ĐKTB)
B-3 M 6 2.8 16.9 0.166
V-1 M 12 2.0 14.8 0.135
V-2 M 12 2.0 16.3 0.123
V-7 M 5 1.9 19.7 0.096
C-1 M 8 2.6 25.9 0.100
C-2 M 8 2.4 15.8 0.152
C-3 M 8 2.8 23.2 0.121
Trung b×nh 0.128
ruột với đường kính 3 cm còn A.auriculiformis thì không. Nhiều người cho rằng
A.mangium là loài cây dễ bị rỗng ruột. Hiện tượng bị rỗng ruột thường xuyên được
nhắc tới ở Malaxia. Chỉ số rỗng ruột chiếm tới hơn 50%. Cây A.mangium mọc rất
nhiều cành từ tuổi thứ 3 và các cành chết vẫn tiếp tục bám trên thân cây từ 3 đến 5
năm. Thực tế, tỷ lệ bị rỗng ruột ở cây A. mangium chiếm 10-50% sau 4 đến 5 năm
tuổi ở vùng Sabah-Malaixia (Ito 1998) còn A.auriculiformis và cây lai không có
hiện tượng này (Ito 1998). Trong các số liệu của đợt nghiên cứu này, ở Việt Nam,
hiện tượng rỗng ruột của A.mangium và A.auriculiformis và A.hybrid không là vấn
đề lớn.
Bảng 4. Mối tương quan giữa khối lượng thể tích khô ở phần ngoài cùng và vận
tốc sóng ứng suất
Cây No.* Loài** Tuổi (năm) Vận tốc sóng (m/s) Khối lượmg thể tích (g/cm
3
)
B-3 M 6 3196 0.57
V-1 M 12 3199 0.62
V-2 M 12 2941 0.66
V-7 M 5 2892 0.46
C-1 M 8 2916 0.54
C-2 M 8 2718 0.52
C-3 M 8 3000 0.52
B-2 A 6 3072 0.58
V-3 A 12 3029 0.66
V-4 A 12 2978 0.60
B-1 H 6 3051 0.50
B-4 H 6 3333 0.65
V-5 H 3.5 3132 0.52
V-6 H 3.5 2895 0.50
V-8 H 5 2821 0.44
H-1 H 3 2721 0.36
Results of identifying some characteristics of fast - growing forest plantation
wood in Viet Nam
Summary:The Forest Science Institute of Viet Nam and the Japan International
Cooperation Agency (JICA) have jointly conducted a research to identify the
wood characteristics of some forest plantation species with the use of increment
borer and transmission meter.
It has been determined through research moisture content of fresh wood, specific
gravity of dry wood, roundness of tree stem and velocity of the stem.
The research has been carried out at Ba Vi (Ha Tay province), Me Linh ( Vinh
Phuc province), Cau Hai ( Phu Tho province) and the Hoa Binh township.
Increment cores obtained in this study reveal no phenomenon of hollow heart of A.
mangium stem.