Một số ý kiến đề xuất về công tác quy hoạch,
tổ chức và quản lý vùng đệm hiện nay ở Việt Nam
Võ Nguyên Huân
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
HIện nay ở Việt Nam có nhiều cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ hoặc một phần nhiệm vụ
quản lý rừng và đất lâm nghiệp trong vùng đệm, dẫn tới có sự chồng chéo về nhiệm vụ
và quyền hạn, gây nên sự lẫn lộn và không rõ ràng giữa tất cả các bên liên quan. Bài
báo này đề cập đến vấn đề cấp thiêt hiện nay là phải xây dựng những tiêu chí để xác
định và quy hoạch vùng đệm, cơ sở để xây dựng dự án đầu tư vùng đệm và thiết lập
Ban quản lý dự án để phối hợp hoạt động giữa các bên liên quan trong công tác quản
lý vùng đệm.
1. Những tiêu chí để xác định và quy hoạch vùng đệm.
Xây dựng vùng đệm nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã
hội. Một số vấn đề được đặt ra ở đây là: những khu bảo tồn nào thì cần xây dựng vùng
đệm? Nếu có vùng đệm thì vị trí vùng đệm ở đâu? Quy mô vùng đệm như thế
nào?…Đó là những tiêu chí để xác định và quy hoạch vùng đệm. Vấn đề này chúng tôi
có các khuyến nghị sau:
- Những KBT cần các dự án phát triển vùng đệm.
+ Tất cả các vườn quốc gia
+Những KBT chịu nhiều áp lực của dân số.
Theo khuyến nghị này thì những KBT không có hoặc ít có áp lực dân số, những
KBT mà quy mô diện tích quá nhỏ thì chưa cần có dự án phát triển vùng đệm.
- Ví trí vùng đệm: vùng đệm là vùng nằm ngoài liền kề KBT và bao quanh
KBT.
- Ranh giới vùng đệm: có ranh giới phía bên trong và ranh giới phía bên ngoài
vùng đệm.
Ranh giới phía bên trong vùng đệm là ranh giới giữa KBT và vùng đất bao
quanh KBT.
Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm là ranh giới giữa vùng đất bao quanh KBT
công lao động xã hội: phân công lao động theo ngành gắn liền với phân công lao động
theo lãnh thổ. Sự kết hợp đó là yếu tố khách quan, là yêu cầu thường xuyên và lâu dài
của quản lý kinh tế – xã hội. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao, thì
việc tổ chức sản xuất lãnh thổ càng phức tạp, yêu cầu kết hợp giữa ngành và lãnh thổ
càng trở nên cấp thiết.
Sự kết hợp này làm cho việc bố trí phát triển của ngành phù hợp với yêu cầu
phát triển của vùng, tạo khả năng của vùng có thể tác động đến sự phát triển của
ngành. Nó không chỉ làm cho các ngành trong vùng kết hợp với nhau thành một tổng
thể sản xuất, hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, mà còn tạo điều kiện cho hoạt động
của các ngành chuyên môn hóa và phát triển tổng hợp trong vùng.
Thực tế ở nhiều địa phương đã chỉ ra rằng nếu sự kết hợp giữa ngành và lãnh
thổ không thực hiện tốt thì không chỉ gây lãng phí trong sử dụng tài nguyên, đất đai,
hạn chế hiệu quả đầu tư, gây mất cân đối nghiêm trọng trong sản xuất và đời sống, mà
còn gây nên tình trạng trì trệ, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong vùng.
Do đó, thực hiện tốt việc liên kết giữa ngành và lãnh thổ trong phân công sản xuất (cân
đối lãnh thổ), trong tổ chức đời sống dân cư là hết sức cần thiết và là một tất yếu khách
quan.
Sự kết hợp theo ngành và lãnh thổ trong quản lý KBT và vùng đệm là sự kết
hợp giữa các bên liên quan gồm chính quyền địa phương các cấp, ban quản lý KBT,
các lâm trường, trạm, trại lâm nghiệp….trong quản lý rừng và đất rừng. Tuy rằng các
bên liên quan có trách nhiệm và quyền hạn khác nhau, nhưng nếu họ hoạt động riêng
rẽ thì chắc chắn mục tiêu bảo tồn và phát triển sẽ không thể đạt được một cách trọn
vẹn, mà cần có mối quan hệ bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn tài nguyên, đặc
biệt là tài nguyên rừng.
Để có mối quan hệ hợp tác tốt trong việc quản lý KBT và vùng đệm, các bên
liên quan cần bàn bạc để xác định những vấn đề sau:
Phải xác định rõ ranh giới rừng và đất rừng thuộc quyền sử dụng của các thành
phần kinh tế khác nhau trong vùng đệm. Chủ rừng phải đăng ký với cơ quan quản lý
Nhà nước về rừng ở cấp hành chính thấp nhất.
Lập hồ sơ quản lý rừng và đất rừng rõ ràng, thống nhất.
+ Về sự phối hợp, hợp tác giữa các lâm trường, trạm, trại và KBT trong vùng
đệm;
+ Các biện pháp sử dụng hợp lý sức lao động, đất đai, tài nguyên rừng và bảo
vệ môi trường;
+ Sự phối hợp giữa các lâm trường, trạm, trại và KBT trong tổ chức đời sống
của dân cư trong vùng đệm.
- Chính quyền địa phương chăm lo đảm bảo các nhiệm vụ quản lý xã hội, an ninh,
quốc phòng…trên địa bàn; đồng thời là chỗ dựa để các lâm trường, trạm, trại và
KBT quản lý, bảo vệ và sản xuất kinh doanh, không can thiệp trực tiếp vào sản
xuất kinh doanh của các đơn vị kể trên.
- Cần tăng cường năng lực quản lý rừng và đất lâm nghiệp của các cấp chính quyền
địa phương như quy định trong luật Bảo vệ và phát triển rừng và quyết định
245/1998/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ.
(2) Vai trò và trách nhiệm của Ban quản lý KBT:
- Ban quản lý KBT là tổ chức sự nghiệp kinh tế được Ngân sách Nhà nước cấp kinh
phí để hoạt động theo nhiệm vụ quản lý, bảo vệ phát triển rừng, quản lý rừng theo
quy chế rừng đặc dụng.
- Ban quản lý rừng đặc dụng có nhiệm vụ thực hiện các công tác lâm nghiệp theo chỉ
tiêu kế hoạch Nhà nước giao và quản lý các khu rừng có nhiệm vụ phục vụ các lợi
ích xã hội là chủ yếu.
- Bản quản lý rừng đặc dụng cần xây dựng phương án quản lý, bảo vệ, phát triển
rừng đặc dụng đúng mục đích của nó. Phương án phải coi trọng nội dung tạo công
việc làm cho dân cư trên địa bàn, vì họ là thành viên không thể thiếu được trong
quá trình quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng.
- Ban quản lý rừng đặc dụng cùng với các lâm trường trong vùng đệm cung cấp dịch
vụ đầu vào và thực hiện các dịch vụ đầu ra cho các hộ thành viên, tổ chức liên kết
giữa các hộ thành viên với tổ chức cộng đồng làng bản, dòng họ để tiện việc quản
lý bảo vệ rừng được giao. Giúp dân xây dựng các mô hình vườn rừng, trại rừng,
hình thành các làng sinh thái trong vùng đệm.
(3) Vai trò và trách nhiệm của các lâm trường trong vùng đệm.
+ Đã có quy hoạch sử dụng đất vùng đệm được phê duyệt.
+ Đã giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế trong vùng đệm và đã có
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ Đã thống kê được các loài thực vật và động vật quan trọng nhất trong vùng
đệm cần được bảo tồn và bảo vệ.
+ Đã xác định được những vùng nhạy cảm, dễ bị tổn thương để có cơ chế quản
lý, đầu tư thích hợp.
+ Đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của nhân dân vùng
đệm.
- Cơ chế quản lý
Dự án đầu tư KBT và dự án đầu tư vùng đệm đều phải do 1 cơ quan xây dựng.
Hai dự án này được trình và phê duyệt cùng một lúc. Chính dự án phát triển kinh tế –
xã hội vùng đệm, nếu chỉ đầu tư xây dựng KBT mà không đầu tư xây dựng vùng đệm
thì kết quả khó đạt được như mong muốn.
Để thực hiện tốt dự án phát triển kinh tế – xã hội vùng đệm, nên thành lập Ban
điều hành và Ban quản lý dự án. Ban điều hành dự án bao gồm đại diện chính quyền
cấp cao nhất ở các địa phương có vùng đệm, đại diện các lâm trường trong vùng đệm
và đại diện Ban quản lý KBT. Ban quản lý kiêm nhiệm luôn nhiệm vụ của Ban quản lý
dự án đầu tư vùng đệm.
Ban quản lý dự án đầu tư vùng đệm chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Ban
điều hành dự án.
Ban quản lý KBT kiêm nhiệm vụ quản lý dự án đầu tư vùng đệm có nhiều
thuận lợi như:
- Tăng cường được quyền hạn và trách nhiệm của Ban quản lý KBT trong vùng đệm.
- Có quan hệ chặt chẽ hơn với chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan và cộng
đồng dân cư trong vùng đệm.
- Tạo điều kiện để Ban quản lý KBT kiểm soát được việc sử dụng đa dạng sinh học
trong vùng đệm.
Giảm biên chế, tổ chức gọn nhẹ, không cồng kềnh, giảm kinh phí quản lý hành
chính.