Tài nguyên Tre Việt nam
Nguyễn Tử Ưởng
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt nam
Việt Nam có địa hình phức tạp, nằm trong vành đai nóng, giầu nhiệt và ẩm, chịu
ảnh hưởng rất lớn của chế độ gió mùa. Đặc điểm này đã ảnh hưởng đến tất cả các
thành phần của tự nhiên từ lớp vỏ phong hoá mầu đỏ vàng giầu sắt và nhôm đến
lớp thực bì. Vì vậy, tài nguyên thực vật rừng Việt Nam rất giầu về số lượng và
phong phú về chủng loại. Ngoài trên 1000 loài cây gỗ lớn và nhỏ, Tre (gọi chung
cho tất cả các loài thuộc họ Phụ Tre - Bambusoideae) là lâm sản đứng sau gỗ và
có thể thay thế cho gỗ trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong tình trạng cây gỗ của
rừng nước ta ngày càng cạn kiệt.
1. Vị trí, giá trị của Tre trong nền kinh tế quốc dân
ở Việt Nam, Tre đựơc sử dụng rộng rãi trong xây dựng, đặc biệt là ở các vùng
nông thôn; từ việc sử dụng làm cọc móng, giàn dáo, các kết cấu cần chịu lực đến
sàn, trần, mái nhà, vách ngăn, khung nhà để xuất khẩu. . . ước tính số lượng Tre
được sử dụng trong xây dựng chiếm tới 50% sản lượng khai thác hàng năm. Trong
giao thông Tre được sử dụng làm thuyền, phao và cầu; trong khai thác mỏ Tre
được sử dụng để chèn hầm lò; trong nông nghiệp Tre được sử dụng làm nông cụ . .
.Rất nhiều đồ dùng thông thường trong mỗi gia đình người Việt Nam như giường,
chiếu, bàn, ghế, mành, thúng, mủng, rổ, rá, đến đũa ăn, tăm sỉa răng đều cần đến
Tre. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ. . . từ Tre ngày càng nhiều và đã trở
thành nhu cầu lớn ở trong nước và quốc tế. Tre dùng vào những việc này tuy
không được thống kê cụ thể, nhưng ước tính cũng chiếm khoảng 25-30% sản
lượng khai thác hàng năm. Trong công nghiệp Tre được sử dụng làm nguyên liệu
dưới dạng thanh, dăm hoặc sợi, bột. Ván ép làm từ tấm cót đan, dăm hoặc thanh
Tre được nhúng tẩm keo rồi dán ép với áp suất và nhiệt độ cần thiết để ván có kết
cấu bền vững, đủ đáp ứng yêu cầu sử dụng như làm trần nhà, vách ngăn, sàn nhà,
ốp tường, mái che. . Sợi Tre do có những ưu điểm về độ dài và độ mềm dẻo hơn
nhiều so với sợi gỗ nên rất thích hợp để làm nguyên liệu sản xuất bột giấy nhất là
diện tích toàn quốc, với tổng trữ lượng là 8.400.767.000 cây. Trong đó:
- Rừng Tre tự nhiên có 1.415.552 ha, bằng 14,99% diện tích rừng tự nhiên, với trữ
lượng là 8.304.693.000 cây bao gồm: Rừng thuần loại Tre có 789.221 ha, bằng
8,36% diện tích rừng tự nhiên, với trữ lượng là 5.863.091.000 cây; rừng hỗn giao
gỗ Tre có 626.331 ha, bằng 6,63% diện tích rừng tự nhiên, với trữ lượng là 2.
441.602.000 cây.
- Rừng Tre trồng có 73.516ha, bằng 4,99% diện tích rừng trồng, với trữ lượng là
96.074.000 cây. Diện tích rừng Tre trồng bằng 5,06% diện tích rừng Tre tự nhiên,
nhưng trữ lượng Tre trồng chỉ bằng 1,16% trữ lượng Tre tự nhiên; như vậy số cây
trên 1 ha ở rừng tự nhiên gấp gần 5 lần ở rừng trồng.
Rừng Tre là rừng thứ sinh của kiểu phụ nhân tác nên có nhiều biến động, kết quả
kiểm kê qua các năm cho thấy như sau:
Biểu 1. Biến động của rừng Tre về diện tích và trữ lượng theo thời gian
Rừng Tre tự nhiên Rừng Tre trồng
Diện tích (ha)
Năm
kiểm kê
Rừng hỗn giao
gỗ - Tre
Rừng thuần
loại Tre
Trữ lượng
(triệu cây)
Diện tích
(ha)
Trữ lượng
(triệu cây)
1983 395.700 1.050.000 4.084,7 46.300 97,1
1990 498.600 1.048.600 6.022,3 43.700 47,1
1999 626.331 789.221 8.304,693 73.516 96,074
chi, 37 loài (cho 62 trong 190 mẫu vật đã thu được); công việc điều tra và giám
định, phân loại đang tiếp tục.
Trong những loài đã thu thập được cũng có khoảng 10 loài trong số "19 loài Tre
ưu tiên cao để quốc tế có hành động" và có khoảng 6 loài trong "18 loài Tre khác
được quốc tế ghi nhận là quan trọng".
5. Phân bố
Tuy diện tích, trữ lượng và số loài có khác nhau nhưng nơi nào ở Việt Nam cũng
có Tre.
Biểu 2. Diện tích rừng Tre và các chi Tre chủ yếu ở các vùng
Rừng tự nhiên Diện tích
(ha)
Vùng
Tổng số
Thuần loại
Tre-Gỗ
Rừng
trồng
Chi Tre chủ yếu
Đông Bắc
Tây Bắc
Đồng bằng S.
Hồng
Bắc Trung Bộ
Tây Nguyên
Duyên hải miền
Trung
322.889
108.386
91
1,6,8
1,2,5,6,8,9
Đông Nam Bộ
Tổng cộng 1.498.068 789.221 626.331 75.516
Ghi chú:
1. Bambusa
2. Dendrocalamus
3. Indosasa
1. 4. Lingnania
2. 5. Neohouzeaua
3. 6. Oxytenanthera
4. 7. Phyllostachys
5. 8. Schizostachyum
6. 9. Sinocalamus.
Xếp theo thứ tự diện tích và trữ lượng thì đáng quan tâm nhất là vùng Tây
Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ rồi đến Tây Bắc.
6. Nguy cơ diệt chủng, hoạt động bảo tồn và nhập nội giống Tre
Một số loài Tre trúc quý hiếm nhưng không được quan tâm bảo vệ và phát triển có
nguy cơ bị tiêu diệt như Trúc vuông (Chimonobambusa quadragularis (Fengi)
Mackino), Trúc hoá long (Phyllostachys sp.) ở Cao Bằng, Trúc đen (Phylostachys
nigra (Lodd) Munro) ở Hà Giang, Lào Cai. Tuy nhiên, hoạt động xây dựng vườn
thực vật, vườn cây mẫu nói chung cũng đã có những kết quả nhất định cho việc
bảo tồn ngoại vi các loài Tre như vườn sưu tập của Trung tâm Nghiên cứu Lâm
sinh Cầu Hai (Phú Thọ) đã tập hợp được hơn 30 loài Tre, trong đó có những loài ở
miền Nam mang ra hoặc Thái Lan mang về.
Những năm gần đây một số loài Tre trồng với mục đích lấy măng của Trung
Quốc,Thái Lan đã được đưa vào trồng ở nhiều nơi góp phần làm giầu thêm thành
phần loài Tre ở Việt Nam.
7. Hoạt động nghiên cứu, phổ biến kỹ thuật
nhiều của thị trường trong nước và ngoài nước.
Summary: Bamboos constitutes a very abundant and valuable plant resource.
Bamboos are capable of regeneration and rehabilitation but rational management
is necessary. In the recent past many activities have made active contribution to
maintaining and developing bamboo resource in our country.
Tài liệu tham khảo
1. Ban chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ương, 2000 - Số liệu kiểm kê rừng Việt Nam
năm 1999.
2. Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Tử Ưởng, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đỗ Đình Sâm,
Nguyễn Tử Kim, 2000 - Tài nguyên Tre Việt Nam – (Báo cáo quốc gia)