Các loài tre với dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Nguyễn Tử Ưởng
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Nước ta có khoảng 150 loài tre (cây tre là tên gọi chung cho các loài thuộc họ phụ
tre- Bambusoidac), phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam, từ ven biển đến đồng
bằng và trên núi cao.
Theo "Kết quả kiểm kê rừng tự nhiên" 1993, trong tổng số 5.168.952 ha rừng tự
nhiên giành cho sản xuất kinh doanh có 896.391 ha rừng tre- chiếm 17% (tre thuần
loại là 580.120 ha, tre hỗn giao với gỗ là 316.271 ha) với trữ lượng 3.908.066.000
cây
Theo "Số liệu tài nguyên rừng năm 1990", trong tổng số 744.900 ha rừng trồng đã
có 43.700 ha là tre chiếm 5,9% với trữ lượng 47.100.000 cây.
Tre là loài cây có nhiều tác dụng; ở đâu người dân cũng tiếp xúc với cây tre và sử
dụng các sản phẩm từ tre trong cuộc sống hàng ngày. Thân tre làm nhà và các vật
dụng hàng ngày cho con người, làm nguyên liệu trong công nghiệp giấy , công
nghiệp chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ và xuất khẩu. Măng tre được chế biến
làm thực phẩm hàng ngày và xuất khẩu- măng tre ăn ngon lại có tác dụng làm
thuốc.
Quần thể tre có tác dụng bảo vệ môi trường; trồng ven đê chắn sóng, trồng bao
đồi, bao làng, làm hàng rào chống sói mòn, bảo vệ đất, chống thú rừng và gia súc
để bảo vệ hoa màu. Tre thích hợp với nhiều điều kiện khí hậu và đất đai, dễ trồng
và dễ dàng phát triển trong rừng thứ sinh, nhanh chóng cho sản phẩm và khai thác
trong nhiều năm. Khi khai thác bất kỳ loài tre nào đều áp dụng phương thức chặt
chọn nên đảm bảo được môi trường sinh thái. Tre là cây cứu đói cho người nghèo,
các gia đình có trồng tre cần tiền lúc nào cũng có thể khai thác tre đem bán.
Để thực hiện nhiệm vụ của dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, một số loài tre có thể
thích hợp và đã có một số kết quả nghiên cứu phục vụ thiết thực cho sản xuất được
kể đến là:
1. Tre trong rừng tự nhiên có thể khoanh nuôi tái sinh
Những loài tre này thường có sẵn trong rừng tự nhiên mà từ trước tới nay thường
ra hoa, kết hạt rồi chết hàng loạt; sau đó, Mạy sang tái sinh tự nhiên từ hạt và hạt
cũng được đem trồng ở đây và ở vùng Trung tâm Bắc Bộ. Mạy sang là loài tre
không gai, thân ngầm dạng củ, mọc quần tụ thành cụm dưới 100 cây, Mạy sang có
thể hỗn giao với cây gỗ hoặc thuần loài.
Kích thước cây trung bình: Thân cao 14m, đường kính 7cm, lóng dài 22 cm, vách
thân dầy 1,3cm, thân tươi nặng 19kg.
Biện pháp kỹ thuật: Bảo vệ, phát dọn cây khô, cây sâu bệnh trong khóm; khi khai
thác thì chặt cây già từ tuổi 4 trở lên, chu kỳ chặt không quá 4 năm.
Lồ ô - Bambusa procera A.Chev. et A.Cams
Lồ ô mọc tự nhiên ở vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, tập trung nhiều ở vùng
Đông Nam Bộ.
Lồ ô là loài tre không gai, thân ngầm dạng củ, mọc quần tụ thành cụm dưới 100
cây, mọc thuần loại hoặc hỗn giao với cây gỗ.
Kích thước cây trung bình: Thân cao 16m, đường kính 7,6 cm, ngọn cong 1,5 cm,
lóng dài 42cm, vách thân dày 1 cm, thân tươi nặng 15 kg.
Biện pháp kỹ thuật: Bảo vệ, phát dọn cây khô, cây sâu bệnh trong khóm, khi khai
thác thì chặt cây già từ 4 tuổi trở lên, chu kỳ chặt không quá 4 năm.
2 Tre trong trồng rừng
Trong kế hoạch trồng “1 triệu ha rừng trồng mới thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn,
rừng phòng hộ chắn gió, chống cát bay, chắn sóng bảo vệ đê sông, đê biển và vùng
dân cư vùng đồi núi đồng bằng”, “2 triệu ha trồng rừng tập trung để lấy gỗ làm
nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, gỗ lớn, đặc sản, tre trúc” và “50 triệu cây phân
tán/năm ở quanh nhà. . .” chúng ta có thể trồng các loài sau đây:
Tre gai - Bambusa stenostachya Hack
Tre gai được trồng rộng rãi nhất ở Việt Nam-Từ Bắc vào Nam, từ đồng bằng đến
miền núi, nhưng ở miền Bắc trồng nhiều hơn.
Tre gai là loại tre có nhiều cành và nhiều gai cứng nhọn. Thân ngầm dạng củ, thân
tre mọc quần tụ chen khít thành từng cụm dưới 100 cây.
Kích thước cây trung bình: Thân cao 14m đường kính 7 cm, ngọn cong 1m, lóng
dài 28cm, vách thân dầy 1,8cm, thân tươi nặng 30kg
sào được trồng thuần loại từng đám 1-2ha ở sườn đồi. Trong quá trình phát triển
chúng xâm lấn vào rừng gỗ nghèo kiệt ở xung quanh tạo nên rừng hỗn giao với
cây gỗ rải rác ở tầng trên. Chặt cây từ tuổi 4 trở lên, chu kỳ chặt không quá 4 năm.
Diễn trứnghoặc Tre tầu - Sinocalamus latiflorus (Munro) McClure
Diễn trứng là loài tre không gai, thân ngầm dạng củ, mọc quần tụ thành cụm dưới
100 cây. Được trồng nhiều ở vùng Trung tâm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ.
Kích thước cây trung bình: Thân cao 15m; đường kính 8cm, ngọn cong dài 1m,
lóng dài 38 cm, vách thân dày 1,1cm thân tươi nặng 22 kg.
Biện pháp kỹ thuật: Giống trồng có thể là gốc, chét, thân hoặc cành. Người dân
thường trồng ở chân đồi, quanh nhà nên ít khi có 1-2 ha. Hiện nay ở vùng Đông
Nam Bộ đã và đang nghiên cứu trồng chuyên canh lấy măng. Người dân có tập
quán khi chặt chỉ để lại cây 1 tuổi. Tốt nhất là chặt cây 4 tuổi trở lên, chu kỳ chặt
không quá 4 năm.
Mạnh tông- Dendrocalamus asper (Schult.f.) Back ex Heyne.
Mạnh tông được trồng nhiều ở vùng Đông Nam Bộ. Mạnh tông là loài tre không
gai, thân ngầm dạng củ, mọc quần tụ thành cụm dưới 100 cây.
Kích thước cây trung bình: Thân cao 19 m, đường kính 11cm, lóng dài 28 cm,
vách thân dày 2cm, thân cây tươi nặng 57kg.
Biện pháp kỹ thuật: Giống trồng thường dùng là gốc hoặc chét. Người dân thường
trồng ở quanh nhà để lấy măng vì cho nhiều măng to, ăn ngon.
Hiện nay ở vùng Đông Nam Bộ đã và đang nghiên cứu trồng chuyên canh lấy
măngvà dùng giống cành được bó bầu trên thân tre.
Một số loài tre trồng lấy măng mới nhập nội
Vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có cho nhập một số tre trồng lấy
măng, nguồn giống từ Trung Quốc và Đài Loan.
Loài Lục trúc (Bambusa oldhamii Munro), giống được nhập từ Đài Loan, trồng
năm 1997 tại Bắc Giang. Rừng trồng có triển vọng tốt nhưng chưa được tổng kết.
Hiện nay loài Lục trúc đã được nhân giống đem trồng ở một số nơi như Hà Tây,
Hoà Bình, Phú Thọ, Lạng Sơn. . .
Các loài Bát độ, Tạp giao nhập giống từ Trung Quốc đã được giới thiệu tại bản