Triển vọng phục hồi hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới, họ Sao dầu ở Việt Nam
Thái Văn Trừng
Viện Sinh học Nhiệt đới
Hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới (HSTRMNĐ) trên thế giới hiện còn 933 triệu ha
phân bố ở Nam Mỹ 634 triệu ha, Trung phi 138 triệu ha và Đông Nam á 161 triệu
ha, đang bị phá huỷ với một tốc độ kinh khủng (từ 1990 trở đi là 17 triệu ha hằng
năm - theo tài liệu của FAO) nhưng vẫn chưa có phương thức tái sinh, tái tạo có
hiệu quả. Nếu không có biện pháp tích cực ngăn chặn nạn phá rừng trên thế giới
thì đến cuối thế kỷ 21, HST RMNĐ sẽ bị xoá sạch trên hành tinh trái đất và không
còn là lá phổi xanh hấp thụ CO
2
và nhả O
2
vào không khí, cải tạo môi trường sống
của con người. Do tích tụ CO
2
trong khí quyển nên đã gây nên “hiệu ứng nhà
kính” làm nóng lên khí hậu của trái đất, tan các tảng băng ở hai cực, dâng cao mực
nước biển làm ngập nước các vùng thấp, là nơi trồng lúa nước nuôi sống hàng
trăm triệu con người và đã xây dựng nhiều vùng dân cư đông đúc! Đó là thảm hoạ
sinh thái đang đe doạ chúng ta trong thế kỷ 21, nếu nạn phá rừng không ngăn chặn
được! Để giảm bớt hậu quả của “hiệu ứng nhà kính”, một mặt buộc các nước công
nghiệp phát triển phải giảm việc sử dụng quá nhiều nhiên liệu hóa thạch (than đá,
dầu khí) để hạn chế lượng khí CO
2
thải ra theo cam kết của Nghị định thư 1997
Kyoto; mặt khác, ngoài việc ngăn chặn được nạn phá huỷ các hệ sinh thái rừng
nhiệt đới, một mục tiêu khác không kém phần quan trọng là phục hồi thảm rừng
xanh trên các đất trống đồi trọc và sau đó là lập lại hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới
đã tồn tại trước đây. Làm như vậy thì mới nói đến lập lại cân bằng sinh thái trong
thiên nhiên và giảm nhẹ các thiên tai như lũ lụt, lốc bão, hạn hán là mối đe doạ
còn rừng.
Mục tiêu phấn đấu của các nhà sinh thái rừng và lâm sinh học Việt Namlà tìm
được loài cây phủ kín nhanh chóng 10 triệu ha đất trống đồi núi trọc, và tìm
phương thức tái sinh tái tạo hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới, họ Sao dầu đã tồn tại
trước đây.
Sau năm 1975, cây keo lá tràm (Acacia auriculiformis) đã được phát hiện là một
cây họ Đậu, nhập từ úc, có lá giả, phát triển từ cuống lá; rễ có nốt sần cố định đạm
và tán lá dày rậm, khép tán sớm nếu trồng dày trên 3000 cây/ ha nên đã giữ độ ẩm
tốt cho đất; lá cứng phân huỷ thành mùn hơi chậm, nhưng đã trả độ phì và độ ẩm
cho đất bị xói mòn trên các đồi trọc, đã trở thành khô cằn, kiệt màu. Hiện nay, cây
keo lá tràm đã được trồng để phủ xanh các đồi trọc ở các tỉnh ven biển miền nam
thay cho cây thông 2 lá (Pinus merkusii), mọc rất chậm trên đồi trọc khô cằn,
thành rừng thưa, có lớp cỏ dày, bị cháy trong mùa khô và thường bị sâu bệnh
nghiêm trọng; đặc biệt thay cây bạch đàn liễu (Eucalyptus exerta) hạt giống nhập
từ Trung Quốc, tuy mọc được trên các đồi trọc trung du Bắc bộ, nhưng hút nước
rất mạnh, làm khô cạn các ruộng ở chân đồi, nên nông dân đã chặt bỏ. Các tỉnh
phía nam nhất định không chịu nhận hạt giống bạch đàn liễu để trồng, nhưng vẫn
phát triển cây bạch đàn trắng (Eucalyptus tereticornis) ở các tỉnh đồng bằng sông
Cửu Long.
Năm 1983, tác giả được giao đề tài “Phục hồi các hệ sinh thái rừng bị chiến tranh
hoá học huỷ diệt ở miền Nam Việt Nam”. Đối với các hệ sinh thái rừng ngập mặn
và rừng úng phèn, việc phục hồi rừng chỉ cần có đủ hạt giống và tạo lại môi trường
đất ngập nước thích hợp. Nhưng đối với hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới họ Sao
dầu đã bị huỷ diệt và đốt cháy hàng vạn ha ở Đông Nam Bộ và ở Tây Nguyên,
được thay thế bằng những savan cỏ tranh (Imperata cylindrica), cỏ Mỹ
(Pennisetum polystachyon) bị cháy trong mùa khô nóng, nên hạt giống và cây
giống không còn và không thể nào tái sinh tự nhiên được! Cây keo lá tràm đã được
chọn để trồng lại thành rừng và nhờ bộ lá dày rậm sau khi khép tán đã tiêu diệt các
loại cỏ tranh, cỏ Mỹ dưới tán rừng. Sau 10 năm đã mở luống để trồng những cây
gỗ bản địa họ Sao dầu và họ Đậu có gỗ quý (sao đen, dầu rái, dầu song nàng, vên
của những trận mưa trút nước do những đợt áp thấp nhiệt đới gây ra, và sẽ giảm
nhẹ những thiên tai như lũ lụt, lốc bão, hạn hán, thường xảy ra ở vùng này.
Tài liệu tham khảo
1. UNESCO, UNEP, FAO, 1972 - Ecosystems forestiers tropicaux 740 pp.
2. Gomez Pampa& at, 1972. The tropical rainforest, a non-renewable resource.
Science 177.
3. Nguyễn Quang Hà, 1996. Cơ hội đầu tư vào ngành lâm nghiệp Việt Nam. Nông
lâm ngư nghiệp Việt Nam.
4. Thái Văn Trừng, 1970 - 1978. Thảm thực vật rừng Việt Nam- NXB Khoa học
Kỹ thuật.
5. Thái Văn Trừng, 1996. Thảm thực vật ở Việt Nam, nguy cơ và chiến lược phủ
xanh. Nông lâm ngư nghiệp Việt Nam.
6. Thái Văn Trừng, 1999. Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam. NXB
Khoa học Kỹ thuật.