NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG TRONG SỬ DỤNG KHÍ HÓA LỎNG Ở VIỆT NAM - Pdf 15


NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG
PHÁP ĐÁNH GIÁ SỰ CỐ MÔI
TRƯỜNG TRONG SỬ DỤNG KHÍ
HÓA LỎNG (LPG) Ở VIỆT NAM
Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh
giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa
lỏng (LPG) ở Việt Nam
Bởi:
TS. Lý Ngọc Minh

Nghiên cứu xây dựng phương pháp đánh
giá sự cố môi trường trong sử dụng khí hóa
lỏng (LPG) ở Việt Nam
Bởi:
TS. Lý Ngọc Minh

1
TÍNH CẤN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Việt Nam, với một tiềm năng dầu khí dồi dào, đang phát triển mạnh mẽ công nghiệp khai thác, chế biến
nguồn tài nguyên quý giá này thành các sản phẩm có giá trị, trong đó có khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), góp
phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Từ nguồn LPG trong nước do các NM chế biến khí Dinh
Cố, NM lọc dầu Dung Quất chế biến và cung cấp, các cơ sở sử dụng LPG trong sản xuất và đời sống ngày
càng phát triển. LPG là loại nhiên liệu sạch và cao cấp được sử dụng trong sản xuất đã làm thay đổi hình
ảnh khói đen luôn gắn liền với các xí nghiệp công nghiệp; sử dụng trong các khu đô thị, khu dân cư, các nhà
hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể, hộ gia đình. . .đã làm thay đổi thói quen tiêu thụ nhiên liệu truyền thống
là củi, than góp phần đáng kể vào công tác BVMT và sức khỏe nguời dân. Tuy nhiên, bên cạnh vai trò
đóng góp những giá trị KT-XH vô cùng to lớn, quá trình chế biến và sử dụng LPG luôn tiềm ẩn nguy cơ
gây SCMT và thực tế trên thế giới đã xảy ra các sự cố rò rỉ, cháy, nổ LPG gây hậu quả nghiêm trọng, làm
chết và bị thương nhiều người, phá hủy tài sản và gây ô nhiễm môi trường như sự cố nổ TB chứa propane
trên đường vận chuyển tại Tây Ban Nha năm 1978 làm chết 200 người và bị thương 120 người [14]; sự cố
trật bánh tàu hỏa chở propane (và clorine) gần Toroto, Canada tháng 11/1979 làm 250.000 người phải sơ
tán và nhiều người bị ngộ độc phải nhập viện [14]; sự cố nổ TB chứa LPG ở khu dân cư của thành phố
Mexico ngày 19/11/1984 làm chết 450 người, trên 30.000 người mất nhà cửa phải sơ tán [125]; sự cố cháy
tàu hoả ngày 20/02/2002 tại Ai Cập làm gần 400 người bị chết, hàng trăm người bị thương do nổ bình LPG
để nấu ăn trong toa căng tin [125]; sự cố nổ bình chứa LPG làm sập nhà tại thành phố St. Peterburg – Nga
vào ngày 03/06/2003 làm sập toà nhà 9 tầng, gây chết và bị thương nhiều người [125]. Ở Việt Nam, mặc
dù các sự cố đã xảy ra trong chế biến và sử dụng LPG chưa mang tính thảm họa nhưng cũng là những dấu
hiệu cảnh báo sẽ xảy ra những SCMT nghiêm trọng trong tương lai nếu chúng ta không có biện pháp phòng
ngừa. Trong thời gian tới, khi các cơ sở lọc hóa dầu trọng điểm của đất nước dần đi vào hoạt động ổn định
làm cho lượng LPG được chế biến trong nước ngày càng tăng lên thì số cơ sở sử dụng LPG trong sản xuất
và đời sống ngày càng nhiều; trạm cung cấp LPG trung tâm trong khu chung cư cao tầng ngày càng tăng
và nhất là khi chủ trương chuyển đổi năng lượng từ nhiên liệu truyền thống (xăng, dầu . . . ) sang sử dụng
LPG cho các phương tiện giao thông vận tải (GTVT) được thực hiện rộng rãi nhằm cải thiện chất lượng
môi trường không khí tại các thành phố lớn của nước ta, các thiết bị chứa LPG được lắp đặt trong các đô
thị, khu dân cư ngày càng nhiều thì nguy cơ xảy ra SCMT trong sử dụng LPG sẽ ngày càng tăng, thiệt hại
sẽ ngày càng lớn.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Tổng quan về LPG, tình hình chế biến và sử dụng LPG ở Việt Nam; phân tích nguy cơ gây sự cố và
hồi cứu một số sự cố đã xảy ra trong chế biến và sử dụng LPG trên thế giới và ở Việt Nam;
2. Đề xuất tiêu chí xây dựng kịch bản sự cố và lựa chọn kịch bản sự cố nổ hoàn toàn thiết bị chứa LPG
là sự cố có nguy cơ xảy ra rất cao trong sử dụng LPG ở Việt Nam và gây thiệt hại nghiêm trọng về
con người, tài sản và môi trường;
3. Xây dựng cơ sở khoa học đánh giá tác động tới con người và môi trường khi nổ thiết bị chứa LPG;
nghiên cứu trường hợp điển hình: đánh giá sự cố nổ bồn chứa 20 tấn LPG năm 2007 tại Hà Nội.
4. Xây dựng quy trình đánh giá SCMT trong sử dụng LPG dựa trên các cơ sở khoa học và phù hợp với
điều kiện Việt Nam.
5. Nghiên cứu đề xuất khái niệm, quan điểm và xây dựng cơ sở khoa học quản trị rủi ro kỹ thuật trong
sử dụng LPG ở Việt Nam.
6. Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân gây sự cố và đề xuất giải pháp phòng ngừa SCMT trong
sử dụng LPG phù hợp với thực tế Việt Nam và những nước có điều kiện tương tự.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là phương pháp đánh giá SCMT trong sử dụng LPG. Khi thực hiện nghiên cứu này,
cần thực hiện trên các đối tượng được khảo sát là LPG và thiết bị chứa LPG:
• LPG thương mại trong sản xuất và đời sống (gồm thành phần chính là propane hoặc butane hoặc hỗn
hợp propane và butane với tỷ lệ propane: butane là 50%: 50% theo thể tích và một lượng nhỏ các khí,
tạp chất khác [89]. Trong tính toán, luận án lấy LPG công nghiệp với thành phần chính là propane
100% hoặc LPG có tỷ lệ propane: butane là 50%: 50% theo thể tích) được chứa trong thiết bị ở trạng
thái bão hòa, gồm hỗn hợp lỏng và hơi, trong điều kiện có áp suất và nhiệt độ trên nhiệt độ sôi bình
thường của nó.
3
• Thiết bị chứa LPG bao gồm các bồn chứa LPG trong các hệ thống cấp khí đốt trung tâm trong nhà
ở có dung tích chứa nước từ 0,45 m
3
trở lên [11], bồn chứa LPG trên các xe bồn chuyên dụng [72] và
bồn chứa LPG lắp đặt cố định tại các cơ sở công nghiệp và thương mại có dung tích chứa nước từ 150
lít trở lên [73].

; lượng LPG lỏng hóa hơi sau
khi thoát ra khỏi bình chứa là (kg). Phần LPG lỏng cuốn theo đám mây hơi coi như không đáng kể.
• Trong phạm vi sai số cho phép và để thuận tiện trong tính toán, hơi LPG được coi là khí lý tưởng
[135], do vậy một số thông số nhiệt động của LPG như nhiệt dung riêng . . . được coi là hằng số; lượng
không khí đủ để coi chế độ cháy là hoàn toàn ở điều kiện đẳng áp.
Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), bên cạnh ưu điểm là nhiên liệu sạch và tiện dụng, cũng tiềm ẩn những rủi ro
gây ra SCMT trong chế biến và sử dụng, làm thiệt hại về nguời, tài sản và tác động xấu tới môi trường nếu
không nhận thức được khả năng xảy ra sự cố và mức độ nguy hiểm của nó để có những biện pháp QTRR,
phòng ngừa sự cố. Một trong những biện pháp đó là phải có được phương pháp đánh giá SCMT định lượng,
khả thi, phù hợp với đặc điểm trong sử dụng LPG ở Việt Nam.
Đánh giá SCMT là quá trình mang tính hệ thống, cung cấp thông tin tổng hợp, lôgic cho các nhà QLMT,
những người ra quyết định trong việc xác định những phương án quản lý phù hợp. Ngoài ra, đánh giá SCMT
còn hạn chế lãng phí đối với những nguồn lực phải bỏ ra để giải quyết vấn đề ATMT đối với những rủi ro
chấp nhận được.
4
Ý nghĩa khoa học
• Góp phần xây dựng cơ sở khoa học để đánh giá SCMT một cách định lượng trong chế biến và sử dụng
LPG và các môi chất tương tự.
• Góp phần bổ sung cơ sở khoa học về quản trị rủi ro kỹ thuật để bảo đảm an toàn, phòng ngừa SCMT
do thiết bị chứa LPG nói riêng và TBAL nói chung.
• Là cơ sở để xây dựng phần mềm tính sức bền thiết bị chứa LPG nói riêng và chứa môi chất có đặc
tính tương tự nói chung; phần mềm tính phát tán LPG do sự cố sự cố nổ thiết bị chứa LPG với đặc
điểm là năng lượng cao, phát tán nhanh, gián đoạn . . . Ứng dụng để tính toán đối với các môi chất
được chế biến và sử dụng ở nhiệt độ trên nhiệt độ sôi bình thường của môi chất.
• Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện tài liệu trong giảng dạy, đào tạo, nghiên
cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực an toàn, đánh giá rủi ro, đánh giá tác động môi
trường.
Ý nghĩa thực tiễn
• Nêu và phân tích nguyên nhân một số bất cập, đề ra giải pháp đồng bộ, mang tính hệ thống, góp phần

trong những sự cố đó. Trong thực tế đã xảy ra nhiều sự cố nổ thiết bị chứa LPG trên thế giới, gây thiệt hại
nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường do không lường hết mức độ nguy hại của các rủi ro tiềm ẩn
trong chế biến và sử dụng LPG. Do vậy, cần có những nghiên cứu dự báo định lượng đầy đủ hơn về các tác
5
động tiêu cực khi đánh giá rủi ro, đánh giá tác động môi trường trong quy họach, xây dựng cơ sở sử dụng
LPG; đề ra giải pháp QTRR, phòng ngừa SCMT trong sử dụng LPG ở Việt Nam, góp phần ổn định trật tự
xã hội, phát triển đất nước bền vững.
TÍNH MỚI CỦA LUẬN ÁN
1. Đóng góp khoa học quan trọng và đầu tiên của luận án về lý thuyết là đã xây dựng được cơ sở khoa
học để đánh giá SCMT khi nổ thiết bị chứa LPG, gồm các vấn đề: xây dựng công thức tính lượng hơi
LPG tạo thành, công dãn nở khi nổ thiết bị chứa LPG được tồn trữ ở trạng thái bão hòa, tồn tại cả
hai pha trong thiết bị; xây dựng hệ số tiêu thụ oxy, hệ số tiêu thụ không khí lý thuyết, hệ số phát
thải CO
2
, hệ số phát thải khói khi cháy 1 m
3
LPG ở trạng thái hơi . . .; nghiên cứu ứng dụng mô hình
nguồn phát thải gián đoạn, phát tán dạng đám mây hơi vào trường hợp LPG.
2. Một trong những đóng góp nữa về lý thuyết của luận án là đã xây dựng cơ sở khoa học quản trị rủi
ro kỹ thuật (TERM) trong sử dụng LPG, góp phần bổ sung cơ sở lý luận quản trị rủi ro công nghiệp.
3. Cùng với những đóng góp quan trọng trên đây, luận án đã đề xuất khái niệm “an toàn môi trường
thiết bị” là khái niệm mới trên cơ sở tích hợp các vấn đề về an toàn thiết bị, an toàn con người, an
toàn môi trường. Từ đó, đề xuất quan điểm về ATMT là lấy an tòan thiết bị làm trung tâm để phòng
ngừa SCMT. Luận án cũng đã đề xuất tiêu chí phân loại và thực hiện phân loại thiết bị chứa LPG
theo mức độ an toàn; từ đó đề xuất phương pháp dự báo sự thay đổi về chất và lượng của thiết bị
chứa LPG theo thời gian để dự báo khả năng xảy ra SCMT một cách định lượng.
4. Bên cạnh những đóng góp về lý thuyết, luận án có những đóng góp mang tính thực tiễn như: xác định
tiêu chí xây dựng kịch bản sự cố, tổng hợp các kịch bản sự cố có thể xảy ra và lựa chọn kịch bản sự
cố nổ hoàn toàn thiết bị chứa LPG là sự cố có nguy cơ xảy ra rất cao và có thể gây thiệt hại nghiêm
trọng về người, tài sản và môi trường trong điều kiện sử dụng LPG ở Việt Nam; xây dựng hoàn thiện

với các loại tác nhân gây rủi ro và các đối tượng bị rủi ro. Nhiều tác nhân có thể gây rủi ro cho một đối
tượng, đồng thời nhiều đối tượng có thể bị tác động bởi một tác nhân gây rủi ro. Rủi ro thường phụ thuộc
vào mức độ tiếp xúc hay phơi nhiễm của đối tượng đối với tác nhân gây rủi ro và mức độ gây hại tiềm tàng
của các tác nhân lên đối tượng.
Như vậy, rủi ro môi trường là xác suất các thiệt hại sẽ xảy ra do sự phơi nhiễm với các nguy hại môi
trường hay xác suất của một tác động bất lợi lên con người hay môi trường do phơi nhiễm với một chất. Nó
thường biểu diễn xác suất xảy ra tác động có hại, tức là tỷ số giữa số lượng cá thể bị ảnh hưởng và tổng số
cá thể phơi nhiễm với tác nhân gây rủi ro. Về mặt toán học, sự cố R được xem là tích của xác suất xảy ra
sự cố P và hậu quả do sự cố gây ra D [35]:
R(x) = P(x).D(x) (1.1)
Đối với một nhóm sự cố:
1
Phiên bản trực tuyện của nội dung này có ở < />7
8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
R(x) = [U+F0E5]P(x).D(x) (1.2)
Rủi ro tập hợp các hiện tượng có quan hệ với nhau và bằng xác suất xảy ra nhân với mức độ hậu quả.
Vì vậy cần kết hợp chặt chẽ việc đánh giá rủi ro với quản lý môi trường [95].
1.1.2 Phân loại
Tùy thuộc tiêu chí phân loại sẽ có các cách phân loại SCMT khác nhau.
• Phân loại theo lĩnh vực xảy ra sự cố [47]: rủi ro sinh thái, rủi ro sức khỏe, rủi ro công nghiệp.
• Phân loại theo tiến trình xảy ra sự cố [35]:
• Loại cấp diễn: xảy ra nhanh, mạnh và đột ngột. Ví dụ: động đất, cháy nổ . . .
• Loại trường diễn: xảy ra chậm, trường kỳ. Ví dụ: nhiễm mặn, sa mạc hoá . . .
1.2 Đánh giá sự cố môi trường
2
1.2.1 Khái niệm
Đánh giá sự cố môi trường (ĐSM) là kỹ thuật đánh giá một hệ thống có tác động có hại thực tế hay tiềm
tàng của các chất ô nhiễm lên sức khỏe của thực vật, động vật hay hệ sinh thái. Các kỹ thuật đánh giá rủi
ro dựa trên mô hình nhân quả, áp lực – đáp ứng, trong đó chất ô nhiễm được vận chuyển từ nguồn theo

• cấp 2-đánh giá bán định lượng;
• cấp 3-đánh giá định lượng.
Ở mỗi cấp độ, các nhiệm vụ được thực hiện để cung cấp thông tin gồm: xác định mối nguy hại, đánh giá
phơi nhiễm, đánh giá liều–phản ứng, mô tả đặc tính rủi ro. Các thông tin này được sử dụng để ra quyết
định có cần phải tiếp tục thực hiện đánh giá cấp độ cao hơn hay không?
1.2.3 Nguyên nhân gây sự cố môi trường
Có 3 nguyên nhân gây SCMT: SCMT do thiên nhiên gây ra, SCMT do con người gây ra, SCMT do cả thiên
nhiên và con người kết hợp gây ra [98].
1.2.3.1 Sự cố môi trường do thiên nhiên gây ra
Là các tai biến tự nhiên như: động đất, bão, sóng thần, cháy rừng Thiên tai là SCMT gây ra bởi quá trình
tự nhiên, thường được coi là bất khả kháng, con người cần sống hoà hợp với chúng. Việc lựa chọn phương
án phòng chống thiên tai tập trung vào lựa chọn cách sống và né tránh những ảnh hưởng không mong đợi.
1.2.3.2 Sự cố môi trường do con người gây ra
Là những hoạt động của con người như xả thải chất ô nhiễm hoặc sự cố kỹ thuật như cháy, nổ nhà máy lọc
dầu, vỡ ống dẫn khí, rò rỉ hoá chất nguy hại . . .
1.2.3.3 Sự cố môi trường do cả con người và thiên nhiên gây ra
Là hậu quả do các hoạt động của con người và quá trình tự nhiên như hiện tượng mưa acid. Hiện tượng này
có nguyên nhân là do con người đã thải ra các khí Cl
2
, SO
2
. . . phát tán lên bầu khí quyển và tạo ra mưa a
xít HCl hay H
2
SO
4
. . .
Phân biệt nguyên nhân gây ra SCMT có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm pháp lý đối với cá
nhân hoặc tổ chức có liên quan.
10

thiết [76]. Vì thế cần thực hiện đánh giá SCMT để giúp các nhà quản lý môi trường đưa ra các quyết định
hợp lý nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và loại trừ các tác động có hại gây ra đối với con người, môi trường và
xã hội; đồng thời đảm bảo mức sản xuất hợp lý. Vai trò của đánh giá rủi ro trong chu trình quản lý rủi ro
được giới thiệu trong hình 3
Hình 1.3: Chu trình đánh giá rủi ro môi trường
1.2.7 Lịch sử đánh giá rủi ro môi trường
Nghiên cứu về đánh giá SCMT trong sản xuất và đời sống được quan tâm nhiều trên thế giới. ĐGRRMT đã
và đang được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở Mỹ, Canađa và các nước khối cộng đồng châu
ˆ
Au. Phương pháp
giải quyết vấn đề dựa vào việc xem xét những rủi ro trở nên nổi bật trong công nghiệp hạt nhân và được
tiến hành rộng rãi trong công nghiệp không gian, là ngành có nhiều hệ thống phức tạp và cần thiết phải có
độ tin cậy rõ ràng. Trong những năm 1960, phương pháp đánh giá xác xuất của rủi ro – Probabilistic Risk
Assessement (PRA) đã phát triển trong ngành công nghiệp này. Sau những sự cố công nghiệp vào những
năm giữa thập niên 70 (đáng chú ý nhất là vụ nổ cyclohexane ở Flixborough (Anh) năm 1974 và vụ rò rỉ
hơi dioxin tại Seveso (Italia) năm 1976, khung phương pháp luận của công nghiệp hạt nhân được áp dụng
trong công nghiệp hóa chất và công nghiệp dầu mỏ ở châu
ˆ
Au những năm 1980. Có nhiều quy định đối với
những chất nguy hại được hình thành như hướng dẫn Seveso ở châu
ˆ
Au . . . Vào những năm 1970, phương
pháp đánh giá định lượng rủi ro – Quantitative Risk Assessment (QRA) và hướng dẫn Seveso đã được sử
dụng trong công nghiệp hóa chất. Từ những năm 1990, trong công nghiệp tàu biển đã áp dụng phương pháp
đánh giá độ an toàn – Formal Safety Assessement (FSA). Gần đây nhiều nghiên cứu tại các nước phát triển
đã đưa ra nhiều phương pháp đánh giá rủi ro liên quan đến môi trường, bao gồm đánh giá rủi ro sức khỏe
(HRA), đánh giá rủi ro sinh thái (ERA) và đánh giá rủi ro công nghiệp (IRA) [47]. Joseph F và B. Diane
Louvar [138] nghiên cứu về đánh giá SCMT do hóa chất với phương pháp đánh gía quan hệ liều lượng-phản
ứng. ĐGRRMT sơ bộ và chi tiết được áp dụng cho eo biển Malacca (chung của ba nước Singapo, Malaixia
12

Hình 1.4: Quy trình đánh giá rủi ro môi trường tổng quát
13
1.2.8.1 Xác định mối nguy hại
1.2.8.1.1 Khái niệm
Xác định mối nguy hại là phân tích khoa học nhằm xác định mối quan hệ nhân – quả giữa tác nhân – hóa
chất gây nguy hại hoặc có tác động xấu đến sức khỏe con người và môi trường hay không? Bước này nhằm
trả lời câu hỏi: “Có tồn tại hay không các tác nhân gây nguy hại trong khu vực quan tâm?”.
Xác định mối nguy hại giúp đưa ra nhận định tính ban đầu về rủi ro về mặt tác động đến sức khỏe. Mục
đích là thu thập tất cả các thông tin phù hợp nhằm xác định sự hiện diện các mối nguy hại đối với sức khỏe
con người trong môi trường.
Các bước tiếp theo của đánh giá rủi ro tùy thuộc vào các phát hiện trong giai đoạn xác định mối nguy
hại.
1.2.8.1.2 Nội dung xác định mối nguy hại
Những nội dung chính của công việc nhận diện mối nguy hại bao gồm:
• Nhận diện các nguy hại: các tác nhân cơ học, vật lý, hóa học . . . hay là sự kết hợp các tác nhân trên.
• Liệt kê các hóa chất đưa vào đánh giá rủi ro và lý do lựa chọn.
• Đánh giá các đặc trưng vật lý, hóa học, độc học của các hóa chất.
• Chất lượng dữ liệu được xem xét và thống kê được đánh giá.
• Xác định các quần thể phụ như địa điểm phục hồi hóa chất – công nhân, khách tham quan, dân cư
xung quanh, nhân viên văn phòng.
• Lựa chọn các chủ điểm nhạy cảm nhất.
Để thuận tiện cho công việc mô tả địa điểm, có thể tiến hành phân tích thành phần cấu trúc của địa điểm
được đánh giá và lập ra khung làm việc như bảng 1.1
Thành phần Mối nguy hại
Cháy Nổ Hóa chất Vật rơi
Thành phần 1
Thành phần 2
. . . . . .
Thành phần n
Bảng 1.1: Ma trận địa điểm – nguy hại [47]

nhiều điểm phơi nhiễm. Đối với phơi nhiễm tức thời: sử dụng nồng độ lớn nhất để tính toán sẽ hiệu quả hơn.
• Tính toán rủi ro từ chất gây ung thư: R = CDI x SF (1.3).
Trong đó:
• R: Rủi ro từ chất gây ung thư
• CDI: Liều lượng hóa chất vào cơ thể liên tục mỗi ngày (mg/kg.ngày).
15
• SF: Hệ số dốc đường cong liều lượng – phản ứng (kg.ngày/mg).
Đặc tính rủi ro ung thư cần phải tính toán cho riêng từng hóa chất phù hợp với tuyến và con đường phơi
nhiễm. Việc tính toán lặp lại cho mỗi hoàn cảnh và mỗi cộng đồng phơi nhiễm. Mỗi tuyến phơi nhiễm có
giá trị SF riêng. Để tính tổng rủi ro từ các chất gây ung thư ta cộng dồn tất cả các rủi ro ung thư của mỗi
chất ứng với mỗi tuyến phơi nhiễm.
• Tính toán rủi ro từ chất không gây ung thư:
(1.4)
Trong đó:
• CDI: Liều lượng hóa chất vào cơ thể liên tục mỗi ngày (mg/(kg.ngày)).
• RfD: Liều lượng tham chiếu (mg/(kg.ngày))
• HI: Chỉ số độc hại. Nếu HI<1: không có ảnh hưởng; nếu HI>1: chất không gây ung thư đang xét có
khả năng ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe khi phơi nhiễm.
Chỉ số độc được tính riêng cho từng hóa chất. Trong trường hợp phơi nhiễm với nhiều chất thì chỉ số độc
của tuyến phơi nhiễm đó bằng tổng các chỉ số độc của mỗi chất. Nhưng nếu các chất đó không gây ra cùng
một loại tác động thì việc xét chỉ số độc tổng cộng là không có tác dụng.
1.2.8.4.2 Mô tả các rủi ro bán định lượng (rủi ro yếu, trung bình hoặc cao)
Phương pháp hệ số rủi ro là phương pháp phổ biến để mô tả đặc tính rủi ro bán định lượng. Hệ số rủi ro
(RQ) được tính toán bằng tỷ số giữa nồng độ môi trường xác định bằng đo đạc (MEC) hoặc tính toán dự
báo (PEC) với nồng độ dự báo ngưỡng là nồng độ không gây tác động (PNEC) lên đối tượng. PNEC được
xác định từ các tiêu chuẩn, quy định liên quan.
• Đối với đánh giá rủi ro môi trường và sinh thái:
(1.5)
• Đối với đánh giá rủi ro sức khỏe:
(1.6)

Khí dầu mỏ hóa lỏng (Liquefied Petroleum Gas-LPG), gọi tắt là khí hoá lỏng, thường được gọi là gas, là khí
hoặc hỗn hợp khí có thành phần hóa học chủ yếu là hydrocarbon no dạng parafin, công thức tổng quát là:
C
n
H
2n+2
như: propane (C
3
H
8
), butane (C
4
H
10
) Ngoài ra, có khả năng xuất hiện vết của ethane (C
2
H
6
),
pentane (C
5
H
12
) ethylene (C
2
H
4
), butadiene 1,3 (C
4
H

KLR của lỏng ở 15
oC (kg/m3)
KLR của hơi ở 15
oC (kg/m3)
Propane (C
3
H
8
) CH
3
-CH
2
-CH
3
44,09 510 1,86
n-Butane (C
4
H
10
) CH
3
-CH
2
- CH
2
-
CH
3
58,12 575 2,6
Bảng 1.3: Công thức hoá học và ký hiệu của propane – butane [36]

C)
Nhiệt độ tự
cháy (
0
C)
Giới hạn cháy(% thể tích)
dưới trên
Nhiệt
trị(kcal/kg)
Nhiệt độ
ngọn lửa khi
cháy trong
không khí
(
0
C)
Propane - 42 400[U+F0B8]5802,2 10 11.900 1.930
Butane - 0,5 410[U+F0B8]5501,8 9 11.800 1.900
Bảng 1.4: Bảng thông số cháy, nổ của LPG [36]
Quan hệ giữa áp suất tương đối, nhiệt độ bão hòa và thành phần của LPG được giới thiệu trên hình 2
[157].
18
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
Hình 1.6: Đồ thị biểu diễn quan hệ giữa áp suất tương đối, nhiệt độ bão hòa và thành phần LPG
1.3.1.1.4 Tính dãn nở
LPG có hệ số dãn nở thể tích rất lớn, 1 đơn vị thể tích LPG lỏng tạo ra khoảng 250 đơn vị thể tích LPG
hơi [89]. Bảng tính chất nhiệt-vật lý và đồ thị lg p-h của propane, butane được giới thiệu trong phần phụ
lục [39]. Hệ số dãn nở thể tích của LPG lớn là thuận lợi để sử dụng nhưng cũng làm gia tăng tác hại nếu
xảy ra sự cố vì phạm vi ảnh hưởng của sự cố sẽ tăng cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status