BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI
TRƯỜNG NƯỚC BẰNG CHỈ THỊ ĐỘNG VẬT THỦY SINH KHÔNG XƯƠNG
SỐNG CỠ LỚN (AQUATIC MACRO INVERTEBRATES).
Nhóm sinh viên thực hiện:
Lê Minh Hải
Nguyễn Thế Đức Hạnh
Nguyễn Anh Phương
Nguyễn Thị Phương Thanh
Bùi Thị Thảo
Lớp: ĐH1KM
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Khắc Thành.
HÀ NỘI – 05/2013
Báo cáo đề tài nghiên cứu
2
LỜI CẢM ƠN!
Đề tài NCKH “Nghiên cứu áp dụng phương pháp đánh giá chất lượng môi
trường nước bằng chỉ thị động vật thủy sinh không xương sống cỡ lớn (Aquatic
Macro Invertebrates)” là một đề tài rất thú vị, độc đáo, nhóm đề tài NCKH chúng em
muốn nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này. Nhưng với sự hiểu biết còn hạn chế và chưa
Đặt vấn đề.................................................................................................7
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu.
1.1. Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước bằng chỉ thị sinh học.9
1.2. Tình hình nghiên cứu về giám sát sinh học trên thế giới và Việt Nam.12
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
2.1 Địa điểm, thời gian, vị trí nghiên cứu..................................................17
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ở 2 khu vực khảo sát....................18
2.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu...............................................19
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
3.1 Đánh giá chất lượng nước thông qua ĐVKXS cỡ lớn...........................26
3.1.1 Ghi chép kết quả về số lượng cá thể, các loài thu được................26
3.1.2 Chỉ tiêu PAMAG (Percent Abudance of the Major Abudant Groups) 29
3.1.3 Chỉ tiêu BMWP ( Biological Monitoring Working Party)................32
3.1.4 Chỉ số ASPT (Average score per taxon)........................................35
3.1.5 Chỉ tiêu Lincoln Quality................................................................38
3.2 Tổng kết..............................................................................................39
Chương 4: Kết luận và kiến nghị.
4.1 Kết luận................................................................................................54
4.2 Kiến nghị.............................................................................................55
Tài liệu tham khảo............................................................................................55
Báo cáo đề tài nghiên cứu
5
Danh mục hình: (sơ đồ, hình)
Trang
29. Hình 3.1.6: (j) Nhộng ruồi ........................................ .........................................51
30. Hình 3.1.6: (k) Không biết 1........................................ ........................................51
31. Hình 3.1.7: (a) Phân loại theo loài........................................ ...............................52
32. Hình 3.1.7: (b) Lấy mẫu tại Tam Đảo..............................................................53
Báo cáo đề tài nghiên cứu
6
33. Hình 3.1.7: (c) Lấy mẫu tại sông Nhuệ................................................................53
Danh mục bảng:
Trang
1. Bảng 2.3.1: Danh sách các họ ĐVKXS trong hệ thống BMWPVIET tại
các khu vực nghiên cứu...............................................................................................20
2. Bảng 2.3.2: Bảng phân loại và hệ thống điểm số dựa vào chỉ số BMWP.......21
3. Bảng 2.3.3: Rating standards based on BMWP and ASPT .............................23
4. Bảng 2.3.4 : Water quality classification based on BMWP biotic index,
ASPT and Licoln Quality index (Adapted)..............................................................24
5. Bảng 3.1.1: Số lượng cá thể mỗi loài ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực sông Nhuệ.27
6. Bảng 3.1.2: Số lượng cá thể mỗi loài ĐVKXS cỡ lớn tại khu vực vườn
quốc gia Tam Đảo. ........................................ ................................ ........................28
7. Bảng 3.1.3: Độ đa dạng của các động vật không xương sống cỡ lớn, tại
Khu vực sông Nhuệ nghiên cứu................................ ...............................................29
8. Bảng 3.1.4: Độ đa dạng của các động vật không xương sống cỡ lớn, tại
khu vực Thác Bạc (Tam Đảo) nghiên cứu. ..............................................................30
9. Bảng 3.1.5: Đánh giá tổng hợp theo chỉ số BMWP tại Tam Đảo.....................32
kết quả nhanh, trực tiếp về ảnh hưởng của nguồn nước bị ô nhiễm đến sự phát triển
của hệ thống thuỷ sinh vật. Do đó, phương pháp quan trắc sinh học ngày càng được
sử dụng phổ biến.
Phương pháp quan trắc sử dụng động vật không xương sống (ĐVKXS) cỡ lớn
được đưa ra ở Anh năm 1976 gọi tắt là BMWP. Nó dựa trên sự đa dạng về thành
phần loài của các loài ĐVKXS cỡ lớn với biến đổi của môi trường nước từ đó tính
điểm BMWP (Biological Monitoring Woring Party) và chỉ số ASPT (Average Score
Per Taxon) để đánh giá chất lượng nước. Phương pháp này được ứng dụng rộng rãi ở
nhiều nước Châu Âu như: Anh, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha,...
Ở Việt Nam, việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn để đánh giá mức độ ô nhiễm của các
thuỷ vực đã được biết đến từ năm 1995 nhưng ít được sử dụng. Đến năm 2000 khi
Nguyễn Xuân Quýnh cùng các cộng sự xây dựng hệ thống tính điểm BMWP VIET và
khoá định loại đến họ ĐVKXS cỡ lớn nước ngọt thường gặp thì phương pháp này
mới được ứng dụng vào quá trình đánh giá chất lượng nước mặt.
Tuy nhiên, hầu như phương pháp này chỉ được nghiên cứu và ứng dụng ở các
nước ôn đới nên khi đưa vào sử dụng ở các nước nhiệt đới thì gặp một số khó khăn
8
Báo cáo đề tài nghiên cứu
như xuất hiện nhiều họ mới không có trong hệ thống tính điểm của các nước ôn đới.
Vì vậy để áp dụng phương pháp này ở những vùng nhiệt đới thì cần cần phải có
những nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của vùng nhiệt đới. Đồng
thời hiện nay ở Việt Nam chưa có những tiêu chuẩn sinh học cụ thể để đánh giá chất
lượng nguồn nước mặt cho phù hợp với từng vùng vì vậy cần phải có những nghiên
cứu ở nhiều vùng khác nhau nhằm xây dựng một hệ thống chỉ thị sinh học thống
nhất.
Trên cơ sở lí luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu áp dụng
phương pháp đánh giá chất lượng môi trường nước bằng chỉ thị động vật thủy
với những thay đổi của môi trường và các sinh vật chỉ thị thường được sử dụng là
thực vật lớn, thực vật nổi, động vật nguyên sinh, động vật không xương sống, cá, vi
sinh vật,…
b. Ưu điểm:
Đánh giá chất lượng môi trường bằng chỉ thị sinh học được sử dụng rộng rãi
trong đánh giá chất lượng nước bởi các sinh vật chỉ thị có khả năng phản ánh chất
lượng nước trong một thời gian dài do đó không cần phải thu mẫu liên tục như
phương pháp lý hóa, ngoài ra nó còn phản ánh được chất lượng nước trong một phạm
vi rộng lớn.
c. Hạn chế:
Báo cáo đề tài nghiên cứu
10
Mặc dù phương pháp đánh giá chất lượng môi trường bằng chỉ thị sinh học có
thể phát hiện ra những biến đổi sinh thái nhưng lại không xác định được nguyên nhân
và giải thích rõ ràng nhữnng biến đổi đó. Do vậy, để giải thích nguyên nhân của
những biến đổi sinh thái này cần phải áp dụng thêm phương pháp lý hóa .
1.1.2. Cơ sở khoa học, ưu điểm, hạn chế của phương pháp đánh giá chất lượng
môi trường nước bằng chỉ thị ĐVKXS cỡ lớn:
a. Cơ sở khoa học:
Macro Invertebrates là từ để chỉ các ĐVKXS có thể quan sát được bằng mắt
thường. Ở các thủy vực nước ngọt chúng thường ở dạng côn trùng (hay ấu trùng của
chúng), giáp xác, nhuyễn thể, ốc, các loại trùng và các loại khác. Nhưng ở hầu hết các
dòng chảy, số lượng ấu trùng côn trùng chiếm đa số, và đây là các sinh vật hữu dụng
trong việc đánh giá chất lượng nguồn nước. Các loài Macro Invertebrates quan hệ rất
mật thiết với môi trường sống của chúng. Do đó, nếu chất lượng của một dòng chảy
thay đổi, chúng mất một thời gian rất lâu để hồi phục lại cấu trúc quần thể ban đầu.
đổi của chất lượng nước trong cả khu vực khảo sát.
b. Ưu điểm:
Đánh giá chất lượng nước bằng chỉ thị ĐVKXS cỡ lớn có các ưu điểm sau:
- Đa dạng về loài và về nơi ở, là dạng sinh vật phổ biến trong các thủy vực.
- Nhiều loài có thể chỉ ra được vị trí lấy mẫu hiệu quả.
- Những loài sống lâu năm có thể chỉ ra những ảnh hưởng tích lũy của sự ô
nhiễm.
- Dễ lấy mẫu.
- Thiết bị lấy mẫu đơn giản.
- Dễ phân loại dựa vào đặc điểm cơ thể.
c. Nhược điểm:
Đánh giá chất lượng nước bằng chỉ thị ĐVKXS cỡ lớn tuy có nhiều lợi thế hơn
bằng phương pháp lý hóa nhưng vẫn còn một số nhược điểm như:
- Khó định lượng mẫu.
- Khó lấy mẫu ở các thủy vực có thể nền phức tạp (độ dốc lớn, độ lồi lõm,...)
- Động vật không xương sống cỡ lớn dễ bị các yếu tố khác ngoài chất lượng
môi trường nước ảnh hưởng đến độ phong phú của nó. Chúng còn chịu ảnh hưởng
của mùa vụ nên rất phức tạp trong việc giải thích và so sánh.
- Các loài có thể bị cuốn theo dòng nước hoặc có một số loài trôi dạt nên có thể
xuất hiện một số họ không phải ở khu vực lấy mẫu.
- Kiến thức cần thiết về dặc điểm vòng đời của các loài để giải thích việc các
loài biến mất.
- Một số nhóm khó nhận biết (Các loài chưa được định loại rõ ràng, không có
tài liệu phân tích để so sánh với kết quả thu thập tại thực địa,...)
- Một số họ xuất hiện trong khu vực lấy mẫu nhưng chưa có trong hệ thống
phân loại.
Báo cáo đề tài nghiên cứu
Do việc sử dụng các chỉ số Trent và điểm số Chandler chỉ được xây dựng để
đánh giá chất lượng nước sông ở những vùng đặc biệt của nước Anh nên khi áp dụng
ở các con sông khác thì không thích hợp nữa. Vì vậy để có phương pháp chuẩn một
tổ chức nghiên cứu về quan trắc sinh học “Biological Monitoring Woring Party”
được thành lập ở Anh vào năm 1976 đã đưa ra hệ thống điểm số BMWP, đây là hệ
thống dựa vào số loài và phân bố của ĐVKXS cỡ lớn để phân loại mức độ ô nhiễm
nuớc. Hệ thống này sử dụng số liệu ở mức độ họ, mỗi họ quy cho một điểm số phù
13
Báo cáo đề tài nghiên cứu
hợp với tính nhạy cảm của nó với sự ô nhiễm hữu cơ của môi trường nuớc. Những
điểm số riêng được cộng lại để cho điểm số tổng của mẫu, có thể nhận được sự biến
thiên của điểm số BMWP bằng cách chia tổng số điểm cho số họ có mặt ta được một
điểm trung bình cho các đơn vị phân loại là ASPT.
Hệ thống điểm BMWP rất có hiệu lực trong thực tiễn và tương đối dễ dàng áp
dụng khi đòi hỏi của nó về mức độ kĩ năng phân loại tương đối bình thường. Vì vậy
nó không chỉ được áp dụng rộng rãi Anh mà còn được cải tiến để áp dụng ở nhiều
nước trên thế giới như Tây Ba Nha (Alba – Tercedor và Sanchoz – Ortega, 1988), Ấn
Độ (De Zwart và Trivedi, 1994), Úc (Chessman, 1995), Thái Lan (Mustow, 1997)
Nhờ có nhiều ưu điểm nên phương pháp quan trắc sử dụng hệ thống tính điểm
BMWP đã được phát triển và ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như:
Ở Tây Ba Nha, năm 1988 phương pháp sử dụng chỉ số BMWP đã được Alba Tercedor và Sanchoz - Ortega chuyển đổi để sử dụng ở Tây Ba Nha nhất là khu vực
bán đảo Iberia, trong hệ thống này ngoài việc xuất hiện một số họ mới thì các điểm số
của một số họ cũng có sự biến đổi. Sau đó Carmen Zamora cùng các cộng sự tiếp tục
thực hiện một nghiên cứu để giải thích sự biến thiên của chỉ số BMWP và chỉ số
ASPT theo nhiệt độ từ đó xác định sự phụ thuộc của các chỉ số này theo mùa. Nghiên
cứu được thực hiện ở sông Genii nằm phía Nam của Tây Ba Nha. Lưu vực sông có
26 nhánh dọc theo đó các nhà nghiên cứu thu mẫu ở 60 địa điểm trong vòng hai năm
phù hợp với Ấn Độ bằng cách loại ra một số họ không có ở Ấn Độ và thêm vào một
số họ khác có ở Ấn Độ. Một vài điểm số đã được phân phối trong điểm gốc cũng
được thay thế để phản ánh các mức độ khác nhau về sự chống chịu của các họ nhất
định đã được tìm thấy tại các sông của Ấn Độ.
Sau đó đã có thêm nhiều nghiên cứu sử dụng điểm số BMWP ở Ấn Độ như tác
giả Bihar nghiên cứu ở sông Ramjan đã nhận thấy các thông số hóa lý biến động theo
mùa và do đó nó sẽ ảnh hưởng đến độ phong phú của ĐVKXS cỡ lớn và nghiên cứu
này cũng cho thấy kích thước quần thể ĐVKXS cỡ lớn cũng tương quan nghịch với
thông số pH va DO.
Ở Thái Lan, năm 1997 Mustow đã nghiên cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở 23
điểm thuộc sông MaePing. Đồng thời với việc chấp nhận một số thay đổi như đề xuất
của De Zwart và Trivedi (1994), tác giả còn đưa ra một số thay đổi cho phù hợp với
điều kiện ở Bắc Thái Lan. Theo Mustow thì có những họ ở Thái Lan mà không có
trong bảng gốc của Anh, cũng có những họ vừa có ở cả Thái Lan và Anh nhưng cần
phải thay đổi lại điểm số của chúng cho phù hợp với điều kiện ở Thái Lan. Qua đó
tác giả đã đề nghị sửa đổi 10 họ cần điều chỉnh bổ xung. Hệ thống BMWP được sửa
đổi ở Thái Lan được gọi là hệ thống BMWPTHAI.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, mặc dù việc nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm các thuỷ vực
được quan tâm từ lâu nhưng tới năm 1995 hầu như vẫn chưa có hệ thống phân loại độ
nhiễm bẩn các thuỷ vực. Các hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn cùng với những chỉ
tiêu trong các thang bậc phân loại trước đó đều là những dẫn liệu được nghiên cứu ở
các thuỷ vực vùng ôn đới, hoàn toàn khác với điều kiện tự nhiên cũng như đặc tính
sinh học của các thuỷ vực ở nước ta. Trên cơ sở nghiên cứu trong 10 năm (19851995) cùng với dẫn liệu đã biết trước đây về các thuỷ vực có nước thải vùng Hà Nội,
Nguyễn Xuân Quýnh (1995) đã đề xuất một hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các
15
Báo cáo đề tài nghiên cứu
nguồn thải từ nhiều hoạt động của con người. Ở phía Nam, các địa điểm lấy mẫu
thuộc khu vực nằm trong và xung quanh thành phố Đà Lạt, các điểm thuộc suối Đac
Ta Jun và các điểm thuộc sông Đa Nhim.
16
Báo cáo đề tài nghiên cứu
Sau này nhiều nghiên cứu được tiếp tục thực hiện phần nào làm rõ tính hiệu
quả của phương pháp sử dụng ĐVKXS cỡ lớn trong đánh giá chất lượng nước như
trong hai năm (2001 – 2002), tác giả Nguyễn Vũ Thanh và Tạ Huy Thịnh thuộc Viện
Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã thực hiện nghiên cứu tại 28 điểm quan trắc thuộc
lưu vực sông Cầu tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Qua
nghiên cứu nước tại 28 điểm quan trắc đều thuộc loại ô nhiễm vừa đến ô nhiễm nặng,
những loài đại diện cho môi trường nước sạch như bộ cánh úp đã không được tìm
thấy ở đây càng khẳng định môi trường nước ở đây đang bị tác động nghiêm trọng.
Ngoài ra qua nghiên cứu này tác giả còn bổ xung thêm 7 họ mới vào bảng điểm
BMWPVIET bao gồm 5 họ côn trùng thủy sinh Ecdyonuridae, Polymitarcyidae,
Sciomyzidae, Empidiae, Muscidae và 2 họ thân mềm Stenothyridae và Hyalidae.
Năm 2003, tác giả Nguyễn Thị Mai thuộc bộ môn Sinh học, Khoa Khoa học,
Trường Đại học Nông Lâm, thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nghiên cứu nhằm
đánh giá sự đa dạng về thành phần loài động vật không xương sống cỡ lớn và sử
dụng chúng để chất lượng nước sông Sài Gòn đoạn thuộc quận 2, thành phố Hồ Chí
Minh. Nghiên cứu được thực hiện trên ba địa điểm và kết quả thu nhận được qua hai
đợt lấy mẫu là đợt 1 gồm 23 họ và đợt 2 gồm 25 họ, qua xác định chỉ số ASPT cho
thấy nước khúc sông này thuộc loại bẩn vừa α, cùng với đó kết quả này còn cho thấy
chất lượng nước và thành phần loài có liên quan đến nhau. Điều này càng khẳng định
việc sử dụng động vật không xương sống cỡ lớn để đánh giá chất lượng nước là có cơ
sở.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu chủ yếu tập trung ở khu vực phía Bắc và
18
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013
Vị trí nghiên cứu:
+ Vườn quốc gia Tam Đảo: lấy mẫu ở một đoạn suối (khoảng 100m) gần Thác
Bạc tại vườn quốc gia Tam Đảo.
-
+ Sông Nhuệ : lấy mẫu ở một đoạn sông ở khu vực xã Tân Mỹ ( khoảng 100m)
– Từ Liêm – Hà Nội.
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội ở hai khu vực khảo sát:
2.2.1 Khu vực đoạn suối gần Thác Bạc tại vườn quốc gia Tam Đảo:
a. Điều kiện tự nhiên:
Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây rõ rệt , lượng mưa hàng năm khác
nhau góp phần tạo các tiểu vùng khí hậu đặc biệt, chia thành 2 đai khí hậu : nhiệt đới
và á nhiệt đới.Vườn quốc gia Tam Đảo được che phủ bởi 1 lớp thực vật dày đặc ,
nhiều tầng, đa dạng về loài và quần xã sinh vật. Được chia thành 3 khu hệ, là nơi có
khí hậu mát mẻ, trong lành.
Đoạn suối khảo sát bắt nguồn từ Thác Bạc.
b.Đặc điểm xã hội:
Vườn quốc gia Tam Đảo đã chính thức được thành lập ngày 15/6/1996 với tổng
diện tích là 36.883ha, ranh giới từ độ cao 100m trở lên vòng quanh núi Tam Đảo và
trụ sở văn phòng vườn đặt tại km13 (trên quốc lộ 2B từ thị xã Vĩnh Yên đi khu nghỉ
Báo cáo đề tài nghiên cứu
19
mát Tam Đảo) thuộc xã Hồ Sơn - Tam Đảo - Vĩnh Phúc. Khu rừng cấm Tam Đảo
đến chất lượng nguồn nước và mục đích sử dụng của con sông và chính các hộ dân
xung quang đây là người chịu ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người , phải
Báo cáo đề tài nghiên cứu
20
thường xuyên ngửi mùi hôi thối . Đã có nhiều vụ lập biên bản, cưỡng chế do các cơ
quan chức năng tiến hành nhưng các vi phạm vẫn phát sinh.
Ở lưu vực Sông Nhuệ đoạn chạy qua thị trấn Cầu Diễn có nhiều dân cư sinh
sống , nhiều các xưởng sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ. Sông Nhuệ đoạn chảy qua
thị trấn Cầu Diễn (huyện Từ Liêm) cũng bị người dân lấn chiếm hàng loạt để xây
dựng lều lán, nhà tạm, phòng trọ cho thuê. Dọc khúc sông hơn 1km, nhiều đoạn co
hẹp lại do bị lấn chiếm, nhiều đoạn rác và bùn thải, xà bần lấp kín hai bên sông.
2.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Đối tượng:
Chỉ thị ĐVKXS cỡ lớn và môi trường nước mặt ở 2 khu vực nghiên cứu.
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: phỏng vấn những chuyên gia có những
hiểu biết nhất định tại 2 địa điểm nghiên cứu để có thể tìm hiểu, đánh giá khách quan
được về điều kiện tự nhiên, xã hội, môi trường ở khu vực nghiên cứu, và những
chuyên gia về lĩnh vực đánh giá chất lượng nước bằng ĐVKXS cỡ lớn nhằm tìm hiểu
về xu hướng biến đổi của chất lượng nước của 2 khu vực nghiên cứu trong những
năm sắp tới.
- Phương pháp phân tích số liệu: đếm số lượng cá thể và phân loại các nhóm
loài khác nhau của các chỉ thị ĐVKXS thu được.
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp diễn giải, quy nạp: dựa vào việc xử lý kết
quả, tính toán phân tích số liệu cùng với phương pháp phân tích logic, sử dụng những
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
BỘ
Odonata
Heteroptera
Coleoptera
Coleoptera
Coleoptera
Coleoptera
Heteroptera
Heteroptera
Odonata
Architaenioglossa
Basommatophora
Basommatophora
Decapoda
Decapoda
5
5
4
4
3
3
3
3
3
2
1
+ Chỉ số ASPT (Average Score Per taxon)
ASPT = BMWP / Tổng số loài được phát hiện.
+ Chỉ số Lincoln Quality = (Tỷ lệ BMWP + Tỷ lệ ASPT) / 2.
Thông qua các chỉ số để đánh giá chất lượng nước sông:
BẢNG 2.3.2 : BẢNG PHÂN LOẠI VÀ HỆ THỐNG ĐIỂM SỐ DỰA VÀO
CHỈ SỐ BMWP
Báo cáo đề tài nghiên cứu
22
Tolerance
Class
I
Group index
8
Dragonflies
II
Facultative
Decapoda
Freshwater crabs
Coleoptera
Water beetles
Megaloptera
Dobsonflies
&
Alderflies
Water
Strider,
Water
Boatfman
&
Backswimmer
Hemiptera
X Rating
60+
7
50 – 59
6
40 – 49
5
30 – 39
4
20 – 29
3
10 – 19
2
0–9
1
2
0 – 2.5
1
BẢNG 2.3.4 : WATER QUALITY CLASSIFICATION BASED ON BMWP
BIOTIC INDEX, ASPT AND LICOLN QUALITY INDEX (ADAPTED).
Biological indice
BMWP
ASPT
Score
Water Quality
>66
Very good
49 – 65
Good
33 – 49
Moderately good
6,0 – 7,9
Clean
8,0 – 10,0
Very clean
6+
A++ very good
5,5
A+ very good
5
A very good
4,5
B good
4
C Good
3,5