Kết quả nghiên cứu vai trò của giới trong việc thu hái và sử dụng gỗ củi ở xã
khang ninh – vùng đệm vườn quốc gia ba bể
Lê Thu Hiền, Võ Đại Hải
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Giới và bình đẳng giới là một vấn đề ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan
tâm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay. Ngày 21/01/2002Thủ tướng Chính phủ
đã ký Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ
của phụ nữ Việt Namđến năm 2010. Tiếp đó ngày 18/3/2002 Uỷ ban quốc gia vì
sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của
phụ nữ Việt Nam đến năm 2005, trong đó mục tiêu 1 nêu rõ: “Thực hiện các
quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm”. Trong chiến lược
toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo của Chính phủ năm 2003 có đoạn
viết: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ; nâng cao
trình độ chuyên môn của phụ nữ, tạo điều kiện để phụ nữ tham gia và hưởng lợi
một cách đầy đủ và bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
văn hoá và xã hội, giúp phụ nữ giảm gánh nặng trong gia đình”.
Giới đối với lâm nghiệp nói chung và với vấn đề gỗ củi nói riêng cũng đã được
một số tác giả nghiên cứu nhưng cho tới nay ở nước ta chưa có công trình nghiên
cứu nào sâu về lĩnh vực này, vì vậy các số liệu và kết quả nghiên cứu công bố còn
rất ít. Trong giai đoạn 2001-2003, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam được tổ
chức International Foundation for Science tài trợ kinh phí cho thực hiện dự án:
“Điều tra, đánh giá nhu cầu và khả năng cung cấp gỗ củi ở xã Khang Ninh – vùng
đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể”, trong đó giới với vấn đề gỗ củi là một trong
những nội dung nghiên cứu quan trọng. Vì hiện nay trong khu vực nghiên cứu,
việc trồng rừng mới chỉ ở giai đoạn đầu, chưa phát triển trồng rừng cung cấp gỗ
củi nên dự án chỉ đánh giá vai trò của giới với vấn đề gỗ củi trên 2 khía cạnh: thu
hái gỗ củi và sử dụng gỗ củi.
1. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu:
- ápdụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), trong đó
sử dụng nhiều công cụ khác nhau để đánh giá như phỏng vấn hộ, họp nhóm,…
Việc điều tra được tiến hành theo mẫu phiếu đã được soạn sẵn.
là những gia đình đã có con lớn hoặc những gia đình mà người chồng đã ý thức
được công việc kiếm củi là công việc nặng nhọc. Như vậy, có thể thấy rằng công
việc thu hái gỗ củi trong gia đình ở xã Khang Ninh hiện nay người phụ nữ giữ vai
trò rất quan trọng.
Phân tích số liệu bảng 1 còn cho thấy có sự khác biệt đáng kể về vai trò của giới
trong việc thu hái gỗ củi giữa vùng thấp với vùng cao. Có thể tóm tắt một số nét
chính như sau:
- Số hộ có vợ đảm đương hoàn toàn việc thu hái củi ở vùng cao cao hơn vùng thấp
(27,7% so với 19,9%).
- ởvùng cao không có hộ nào có chồng đảm đương việc thu hái củi, trong khi đó ở
vùng thấp có 4,5 % số hộ.
2.2. Thời gian đi thu hái củi:
Đa số các hộ dân được phỏng vấn đều trả lời tính trung bình hàng ngày họ phải
mất từ 1-3 giờ dành cho việc thu hái gỗ củi, gỗ củi được thu gom sau giờ làm
nương hay bất kể lúc nào nhàn rỗi (xem số liệu bảng 2).
Bảng 2: Thời điểm đi lấy củi
Vùng thấp Vùng cao Toàn xã
Thời gian đi lấy củi
Số hộ % Số hộ % Số hộ
%
Khi đi làm nương 255 81,7 87 54,7 342 72,6
Lúc nhàn rỗi 57 18,3 72 45,3 129 27,4
Tổng số 312 100 159 100 471 100
Số liệu bảng 2 cho thấy ở vùng thấp người dân thường đi thu hái củi kết hợp khi đi
làm nương: có tới 255 hộ (chiếm 81,7% tổng số hộ điều tra) đi lấy củi kết hợp với
đi làm nương; chỉ có 57 hộ (chiếm 18,3 % số hộ điều tra) đi lấy củi lúc có thời
gian nhàn rỗi, thông thường các hộ này là những hộ có nhân lực, đặc biệt là trẻ em.
Đối với vùng cao bức tranh lại hoàn toàn khác. Do người dân sống gần rừng hơn,
Số hộ
% Số hộ
% Số hộ
% Số hộ
%
Vợ 293 62,2 217 46,1 152 32,3 241 51,2
Chồng - - - - 1 0.2 4 0,8
Con 11 2,3 37 7,9 7 1,5 23 4,9
Vợ, chồng và con
73 15,5 42 8,9 143 30,3 58 12,3
Vợ và chồng 38 8,1 83 17,6 105 22,3 121 25,7
Vợ và con 56 11,9 92 19,5 63 13,4 24 5,1
Tổng số 471 100 471 100 471 100 471 100
· Nấu ăn : Trong toàn xã có 293 hộ, chiếm 62% số hộ mà công việc nấu ăn hoàn
toàn do phụ nữ đảm đương; 165 hộ, chiếm 35% số hộ người phụ nữ được chồng
con giúp đỡ trong công việc nấu ăn; 11 hộ, chiếm 2% số hộ có con dâu hoặc con
gái lớn đảm nhận trách nhiệm nấu ăn. Trong đó có sự khác nhau giữa vùng thấp và
vùng cao (xem biểu đồ 1).
Biểu đồ 1: Người tham gia nấu ăn ở vùng thấp và vùng cao
Như vậy, tỷ lệ gia đình mà người vợ phải đảm đương hoàn toàn công việc nấu ăn
ở vùng cao (126 hộ, chiếm 79,2%), cao hơn rất nhiều so với vùng thấp (167 hộ,
chiếm 53,5%).
· Nấm cám : Đối với công việc nấu cám, có 217 hộ (chiếm 46,1%) phụ nữ đảm
nhiệm công việc nấu cám; có 217 hộ (chiếm 46,1%) chồng và con cùng chia sẻ
trách nhiệm nấu cám với người vợ; có 37 hộ (chiếm 7,8%) có con gái nhận công
Biểu đồ 4: Người tham gia nấu rượu ở vùng thấp và vùng cao
ở vùng thấp tỷ lệ hộ mà người phụ nữ phải gánh vác hoàn toàn công việc này là
47,1% (147 hộ) và đã có 3 hộ (1%) là người chồng nhận trách nhiệm này. ở vùng
cao có 94 hộ (59,1%) người phụ nữ không được chồng con trợ giúp trong việc
chăm sóc đống lửa sưởi và chỉ có 1 hộ (0,6%) được người chồng đảm đương công
việc này.
Kết luận : Người phụ nữ có vai trò rất quan trọng đối với việc thu hái và sử dụng
gỗ củi. Đa số phụ nữ trong khu vực nghiên cứu, đặc biệt là người vợ phải lo toan
chất đốt cho gia đình, từ khâu thu hái, bảo quản, hong phơi, cất trữ đến sử dụng gỗ
củi. Người phụ nữ vùng cao được sự trợ giúp của chồng và con trong những công
việc có liên quan đến gỗ củi thấp hơn rất nhiều so với phụ nữ vùng thấp. Vì vậy,
khi nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hoặc bất cứ sự can thiệp nào từ bên ngoài
vào giải quyết vấn đề gỗ củi cần phải tính đến vai trò đặc biệt quan trọng của giới
và sự khác nhau giữa các vùng.
Summary
The International Foundation for Science granted a financial support to the
Forest Science Institute of Vietnam for implementation of the project:” Survey and
assessment of the fire wood demand and possible firewood supply in Khang Ninh
commune-The buffer zone of Ba Be National Park” with gender and the firewood
problem as one of the main research subjects. Through the study it is found that
the females in the study area, especially the wives, must see to the fuel for the
family from collection, preservation, drying, storage and use of firewood. Thus in
research, recommendation of measures or any intervention from outside for
solution of the firewood problem, the specially important role of gender must be
taken into consideration together with the difference among various regions.