B GIO DC V O TO
TRNG I HC NễNG NGHIP H NI
------------------
Phùng trung hiếu
Nghiên cứu các cây nguồn mật và thực trạng
nuôI ong nội Apis cerana F. tại x sa pả
thuộc vùng đệm vờn quốc gia Hoàng Liên luận văn thạc sĩ NôNG NGHIệP
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số : 60.62.01Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Phùng Hữu Chính
Hà Nội, 2009
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
i
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
iiLời cảm ơn !
Để hoàn thành bản luận văn này, ngoài sự hỗ trợ của bản thân, tôi còn
nhận đợc sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, đồng nghiệp, bạn bè và gia
đình.
Trớc hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Phùng Hữu Chính
đ dành nhiều thời gian chỉ dẫn tận tình, tỷ mỷ trong quá trình thực hiện đề
tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm nghiên cứu và phát triển ong, Sự
giúp đỡ nhiệt tình của UBND x Sa Pả, Sở Lâm nghiệp tỉnh Lào cai, Viện Sinh
thái học thuộc trờng ĐH Lâm nghiệp, cảm ơn các đồng nghiệp đ đóng góp cho
tôi nhiều ý kiến và giúp đỡ tôi trong quá trình thu mẫu
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các đồng nghiệp ở Vờn quốc gia Hoàng
Liên và các gia đình nuôi ong.
Xin chân thành cảm ơn tới các bạn bè, gia đình đ động viên và tạo điều
kiện cho tôi để hoàn thành bản luận văn.
Hà nội, Tháng 10/2009
Tác giả Phùng Trung Hiếu
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
iii
2.2.3. Nghiên cứu về tạo chúa ong Apis cerana 8
2.2.4. Nghiên cứu về bệnh ong Apis cerana 9
2.3. Một số đặc điểm về sinh học ong mật Apis cerana 10
2.4.1. Quá trình phát triển cá thể của ong mật 14
2.4.2. Cơ chế điều hoà hoạt động của đàn ong 18
2.5. Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật phấn trên thế giới và Việt Nam 18
2.5.1. Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật, phấn trên Thế giới 18
2.5.1.1. ảnh hởng của mật và phấn hoa đến sự phát triển cá thể 18
2.5.1.2. Sự dự trữ phấn hoa trong đàn ong 20
2.5.1.3. Sự lựa chọn nguồn phấn hoa của ong 20
2.5.2. Tình hình nghiên cứu cây nguồn mật, phấn ở Việt Nam 21
2.5.2.1. Vai trò của cây nguồn mật và phấn đối với ong 21
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
iv2.5.2.2. Sự tiết mật hoa của thực vật 22
2.5.2.3. Các cây nguồn mật chính ở Việt Nam 23
3. Địa điểm, đối tợng và phơng pháp nghiên cứu 26
3.1. Địa điểm nghiên cứu 26
3.2. Vật liệu nghiên cứu 26
3.3. Phơng pháp nghiên cứu 26
3.4. Phơng pháp khảo sát 29
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 30
4.6.2. Hình thức nuôi ong ở x Sa Pả 62
4.7. Đánh giá mô hình nuôi ong hiện tại, thành công, thất bại
và nguyên nhân 63
4.7.1. Tình hình nuôi ong tại x Sa Pả 63
4.7.2. Đánh giá các mô hình nuôi ong thành công và không
thành công,nguyên nhân. 64
4. 7.2.1. Các mô hình nuôi ong thành công 64
4.7.2.2. Các mô hình nuôi ong không thành công 66
4.8. ảnh hởng của các loại bệnh ấu trùng đến sự phát triển
của đàn ong ở x Sa Pả 66
4.8.1. Bệnh ấu trùng túi (Sacbrood) 67
4.8.2. Bệnh thối ấu trùng châu âu (European Foulbrood) 69
4.9. Đề xuất một số giải pháp phát triển đàn ong ở vùng đệm VQGHL 71
5. Kết luận và đề nghị 74
5.1. Kết luận 74
5.2. Đề nghị 75
Tài liệu tham khảo 77
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
vidanh mục bảng
STT Tên bảng Trang2. 1.
danh mục hình
STT Tên hình Trang
1: Hoa cỏ lào 37
2: Hoa nhn 37
3: Cây keo tai tợng 37
4: Hoa Chân chim 37
5: Hoa sòi đất 37
6: Hoa cỏ 3 lá 37
7: Hoa nhân rừng 37
8: Hoa hu đay 37
9 : Ong nội Apis cerana 60
10: Ong ruồi Apis florea 61
11: Ong không ngòi đốt Melipona sp. 60
12: Ong khoái (Apis dorsata) 60
13 : Nuôi ong Apis cerana trong hốc đá 62
14: Nuôi ong Apis cerana trong thùng có bánh tổ cố định 62
15: Nuôi ong Apis cerana trong thùng có thanh ngang 62
16: Nuôi ong Apis cerana trong đõ cổ truyền 62
danh mục các từ viết tắt
ATT ấu trùng túi
CNMP Cây nguồn mật phấn
TATCA Thối ấu trùng châu Âu
VQGHL Vờn quốc gia hoàng liên
đi lại và giao lu với bên ngoài rất khó khăn. Mặt khác nhiều ngời trong số họ
cha học hết cấp 1, đặc biệt là phụ nữ nên việc giao tiếp và tiếp thu các kiến thức
từ bên ngoài bị hạn chế rất nhiều; 2) Năng lực tiếp cận và chất lợng dịch vụ của
các cơ quan cung cấp dịch vụ công đến ngời dân còn nghèo nàn, cha thực sự
thích nghi với bối cảnh văn hóa x hội và kinh tế của từng nhóm dân tộc cụ thể.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
2Hiện trạng, ngời dân còn phải đối mặt với cái đói, nguồn thu nhập chủ
yếu dựa vào rừng và sản xuất nông nghiệp ở quy mô nhỏ và rải rác, một số
các hoạt động tạo thu nhập từ du lịch cũng đang đợc triển khai, tuy nhiên
còn rất khiêm tốn và chỉ ở những đối tợng thanh niên. Nguồn lao động nhàn
rỗi d
thừa lớn.
Sa Pả là một x có tiềm năng nuôi ong vì thuộc vùng đệm vờn quốc gia
Hoàng Liên, có diện tích rừng phòng hộ khá lớn và đặc biệt là sẵn có nghề nuôi
ong cổ truyền nên có thể phát triển nghề nuôi ong. Nuôi ong là một hoạt động có
thu nhập ngắn ngày, dễ làm, mật ong có thể bảo quản lâu, bán đợc giá cao nên
có thu nhập tốt. Hoạt động nuôi ong khá phù hợp với ngời dân tộc HMông và
Dao vì đây là nghề cổ truyền. Để giúp ngời nghèo, ngời dân tộc tận dụng tối
đa cơ hội trên, việc khảo sát nghiên cứu khả năng nuôi ong lấy mật và xác định
lịch nở hoa của các cây nguồn mật của x Sa Pả thuộc huyện Sa Pa. Từ đó cung
cấp số lợng cây nguồn mật, phấn nở hoa trong các tháng và đa ra các giải pháp
thực tế phù hợp với trình độ và điều kiện kinh tế địa phơng, giúp nhân dân ở
đây phát triển nghề nuôi ong góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống v
cung cấp nguồn dinh dỡng cho gia đình, đặc biệt là chị em phụ nữ.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, từ điều kiện tự nhiên, x hội của x Sa
- Xác định các tháng có nhiều nguồn hoa và các tháng không có nguồn
hoa. Trên cơ sở đó giúp bà con nông dân biết cách quản lý đàn ong và nhân rộng
quy mô nuôi ong tại các hộ
- Xác định các loại bệnh ấu trùng gây hại cho ong và nguyên nhân gây
bệnh giúp bà con biết cách phòng chống có hiệu quả cao
- Đánh giá thực trạng các loài ong hiện có, tình hình nuôi ong tại địa phơng.
Từ đó làm cơ sở giúp cho ngời dân quản lý đàn ong đợc hiệu quả cao nhất
- Hớng cho ngời nông dân tại địa phơng có thêm một nghề mới, đem
lại hiệu quả kinh tế cao. Dần đen lại cho địa phơng một thơng hiệu Mật ong
rừng Sa pả để cung cấp cho thị trờng.
1.4. Giới hạn của đề tài
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các cây nguồn mật, phấn trong một năm
tại x Sa pả
- Đề tài giới hạn nghiên cứu ảnh hởng thời vụ có nhiều nguồn hoa, ít
nguồn hoa và một số bệnh đến phát triển của đàn ong.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
42. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.1. Sơ lợc về lịch sử nghề nuôi ong trên thế giới và ở Việt nam
2.1.1.Sơ lợc về lịch sử nghề nuôi ong trên thế giới
Từ mật ong đ xuất hiện rất sớm trong ngôn ngữ loài ngời, rất nhiều
tài liệu, công trình nghiên cứu khảo cổ, ngôn ngữ đ nói lên rằng con ngời đ
biết sử dụng mật ong từ lâu đời nhng không nói đó là mật ong do săn ong hay
nuôi ong. Trong suất quá trình lịch sử, con ngời đ săn ong lấy mật. Việc sử
dụng đõ để nuôi ong lấy mật bắt đầu ít nhất đ 4500 năm nay (Crane, 1990) [3].
Vào khoảng 2500 năm trớc công nguyên, ở Ai Cập cổ đại đ thực sự hình
và thờng là gắn thêm mép bánh tổ với sờn đõ. Ngời nuôi ong phải dùng
dao cắt mới lấy đợc bánh tổ ra. Về sau con ngời cải tiến cho ra đời những
đõ ong có cầu di động rồi kiểu thùng nuôi ong cải tiến ra đời.
Năm 1853, giáo s L.L. Langstroth (Philadelphia, Mỹ) để ong xây bánh
tổ vào và cầu có thể lấy ra đặt vào tuỳ theo ý muốn ngời nuôi ong. Kiểu
thùng này cho phép ngời nuôi ong kiểm tra tình hình đàn ong, tác động các
biện pháp kỹ thuật một cách dễ dàng và cho phép giao lu giữa các đàn ong
với nhau và với ngời nuôi ong khác. Ngày nay kiểu thùng này đợc áp dụng
phổ biến ở khắp nơi và đợc cải tiến tuỳ theo yêu cầu sử dụng.
Năm 1980 Borchert [1] đ xuất bản về việc áp dụng và cải tiến của ông.
Theo đó, nhiều sáng kiến cải tiến khác đợc sản sinh ra từ nớc Mỹ trong đó
quan trọng nhất là sáng kiến làm những tấm sáp in hình lỗ tổ và các khung cầu
có gắn tầng chân, có thể chịu đợc sức văng khi quay mật ở thùng ly tâm.
2.1.2. Sơ lợc về lịch sử nghề nuôi ong ở Việt nam
ở Việt Nam, nghề nuôi ong đ khai thác và nuôi từ lâu đời. Ngay từ thế
kỷ thứ 8, thợng th phụ trách về nông nghiệp Phạm Lê đ viết tài liệu bằng
chữ Hán về kỹ thuật nuôi ong (Faraut, A 1909) (Theo Phùng Hữu Chính, Vũ
Văn Luyện, 1996) [13]. Trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm, cải tiến kỹ
thuật, nghề nuôi ong Việt Nam đ đợc cải tiến từ đơn giản đến hoàn thiện
dần nh ngày nay.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
6 Từ lâu ngời Việt Nam đ có thói quen đi tìm tổ ong lấy mật. Nhiều khi
đi rừng vô tình họ trông thấy các tổ ong rừng đợc làm ở trong các hốc cây,
hốc đất, hang đá hoặc trên cành cây. Họ dùng lửa hoặc khói đuổi ong đi và cắt
lấy các bánh tổ ong để lấy mật. Nhiều ngời có kinh nghiệm có thể tìm tổ ong
qua việc quan sát ong đi làm. Trải qua một thời gian con ngời tự quy định với
nhau rằng hễ ai phát hiện ra tổ ong lần đầu tiên và đánh dấu vào thì lỗ tổ đó
phát triển tới dy Himalaya và ở miền Đông châu á, tới vùng ôn đới thuộc
phía Bắc Trung Quốc, Triều Tiên, Liên Xô (cũ) (ven Thái Bình Dơng), Nhật
Bản. Sang phía Đông, ong A. cerana phát triển ở toàn bộ miền nhiệt đới châu
á, tới phía đông Philippin, Borneo, Indonesia, năm 1987 đ phát triển tới
Papua New Guinea (Crane, 1990) [3].
Nói chung càng lên vĩ tuyến và độ cao so với mặt nớc biển cao hơn thì cơ
thể ong Apis cerana càng lớn hơn: ở vùng Kashmir và một số vùng thuộc
Himachal Pradesh, ong Apis cerana có nhiều đặc điểm gần giống ong A. mellifera
. Theo Ruttner, F. (1988) [30], có thể tổng hợp sự phân bố các phân loài
ong Apis cerana nh sau:
A. c. indica; Phân bố ở Bali, Java, Sumata, Malaysia, Thailand, Srilanca,
miền Nam ấn Độ.
A. c. japonica: Nhật Bản (kể cả vùng Tsushima ở giữa Honshuu và
Triều Tiên).
A. c. cerana: ở miền Bắc ấn độ, Bắc Pakistan, Afghanistan, Trung
Quốc, Viễn Đông Liên Xô, Việt Nam.
A. c. himalaya: Phân bố ở phía đông dy núi Himalaya từ Nepal đến
bác Thailand và có thể cả Tây Nam Trung Quốc.
2.2.2 Nghiên cứu về chọn lọc giống ong Apis cerana
Với ong A. cerana, việc chọn lọc giống đợc tiến hành từ những năm
1950 và chỉ giới hạn ở Trung Quốc và ấn Độ. Vào cuối những năm 1950 ở
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
8tỉnh Quảng Đông Trung Quốc ngời ta thí nghiệm so sánh giữa hai loài ong A.
cerana và A. mellifera. Sau vài năm theo dõi ngời ta kết luận ong A.
mellifera không thích hợp với điều kiện tự nhiên ở tỉnh Quảng Đông. Từ đó về
sau những ngời nuôi ong đ tập trung vào việc chọn lọc giống ong nội A.
1980 Woyke đ khái quát việc tạo chúa rằng mỗi ong chúa cần phải trải qua một
số hoặc cả 5 môi trờng sau trong quá trình tạo ra chúng: đàn ong cung cấp trứng
thụ tinh, đàn tiếp thu, đ nuôi dỡng, tủ ấp, đàn giao phối (Crane, 1990) [3].
ấn độ đ có nhiều nghiên cứu về nhân tố ảnh hởng đến kỹ thuật tạo
chúa ong Apis cerana nh kích cỡ chén sáp, vật liệu làm chén sáp, tuổi ấu
trùng, số ấu trùng di trùng/lợt và mùa vụ làm chúa. Kết quả cho thấy chén
sáp có đờng kính 6,4 mm đáy và 8,8 mm miệng và chiều sâu là 8,9 mm là phù
hợp hơn cả (tỷ lệ tiếp thu 62,5%). Về chất liệu, chén sáp đợc làm từ sáp ong
nguyên chất có tỷ lệ tiếp thu cao hơn cả (80,95%) so với làm bằng Parafin. ấu
trùng di trùng ở tuổi 12 24 gìơ là phù hợp so với nớc có tỷ lệ tiếp thu cao hơn
di khô. Nghiên cứu về số lợng ấu trùng di trùng cho thấy di trùng một lợt 6
12 chén sáp thì có hiệu quả hơn di trùng 18 24 chén sáp. Về mùa vụ làm chúa
tốt nhất là vào mùa xuân (tháng 3- 4), mùa hè và mùa thu phù hợp tạo chúa nhân
tạo tại khu vực Shimla (Partap,U. 1998) [28].
2.2.4. Nghiên cứu về bệnh ong Apis cerana
Ong Apis cerana thờng bị một số dịch bệnh thối ấu trùng trong đó
nguy hiểm nhất là bệnh thối ấu trùng châu Âu (Faurbrood) và bệnh thối ấu
trùng túi (Sacbrood), ngoài ra còn bị một số kẻ thù gây hại nh sâu ăn sáp,
ong rừng, kiến, cóc, thằn lằn. Các loại sâu bệnh ảnh hởng trực tiếp đến sự
phát triển của đàn ong, làm năng suất mật giảm xuống. Do vậy con ngời đ
nghiên cứu các loại bệnh nhằm tìm ra các biện pháp phòng trị có hiệu quả.
Bệnh thối ấu trùng Châu Âu (TATCA): Bệnh thối ấu trùng Châu Âu do
Cheshire và Cheyne công bố lần đầu tiên vào năm 1885. Hiện nay bệnh có
mặt ở khắp nơi nuôi ong Apis mellifera và một số nơi nuôi ong Apis cerana
.Bailey(1981) tác nhân chính gây bệnh TATCA là liên cầu khuẩn
Melissococcus pluton và một số vi khuẩn thứ phát nh: alvei, Streptococcus
apis (Phùng Hữu Chính, 1990) [10].
địa ở miền Bắc nh Bắc Giang, Hoà Bình, Tuyên Quang trong đó qua theo dõi
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
11đ nhận thấy giống ong Tuyên Quang có nhiều u điểm hơn các vùng khác.
Năm 1970 đ tiến hành thu thập các giống ong nội từ các tỉnh rừng núi để bổ
xung nguồn gen cho ong ở khu vực đồng bằng (Phạm Xuân Dũng, 1994) [08].
Theo F. Ruttner 1988 [30], ở Việt Nam có hai phân loài ong Apis
cerana cerana ở Miền Bắc và Apis cerana indica ở Miền Nam. Ong nội Apis
cerana ở Miền Nam có kích thớc nhỏ hơn ở Miền Bắc, các chỉ tiêu tơng
ứng là; Chiều dài vòi 4,75 và 5,02 mm, chiều dài cánh 7,85 và 8,39 mm, chiều
rộng cánh là 2,80 và 2,94 mm, ngang tấm lng 3 là 7,84 và 8,53 mm dọc tấm
lng 3 là 1,73 và 1,87 mm (Phạm Xuân Dũng, 1996) [09].
Trung tâm nghiên cứu ong đ tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm
sinh học của ong nội. Một số kết quả nh: Khối lợng ong chúa tơ 140 153
mg, khối lợng ong chúa đẻ trung bình 190 210 mg, số lợng ống trứng
trong một buồng trứng 85 98 ống, sức đẻ trứng trung bình của ong chúa 400
600 trứng/ngày đêm. Tỷ lệ trứng chết trung bình 8,28%. Ong thợ có chiều
dài vòi trung bình 4,81 4,88 mm, khối lợng cơ thể 81mg, tích tụ đàn của
ong nội đạt đợc từ 4 8 cầu quân, có thể cho 10 15 kg mật/đàn/năm hoặc
cao hơn (Phạm Xuân Dũng) [08].
Đề tài Chọn lọc giống ong nội theo phơng pháp quần thể khép kín
của Page & Laidlaw (1982) [27] đ thực hiện tại trung tâm nghiên cứu ong từ
1990 1993 và đ thu đợc một số kết quả: Năng suất mật tăng 22%, tỷ lệ
nhiễm bệnh Sacbrood 7,67% (so với đối chứng 11,02%), tỷ lệ bệnh thối ấu
trùng châu Âu 17,59% (đối chứng 23,05%), tỷ lệ ong bốc bay 3,35% (đối
chứng 6,25%), tỷ lệ chia đàn tự nhiên 6,50% (đối chứng 10,95%). Kết quả cụ
thể đợc trình bày qua bảng 2.1.
406
(218713)
425
(1541290)
382,3
(152945)
403,05
(172945)
Tỷ lệ bệnh
ấu trùng túi
%
23,1
(0,085,7)
11,79
(0,026,7)
4,8
(0,016,7)
2,3
(0,013,3)
Tỷ lệ bệnh thối
ấu trùng châu âu
%
45,4
(0,085,7)
chúa hoặc chúa tơ đều cho kết quả tốt, hiệu quả điều trị cao 80 90 %.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
13* Bệnh ấu trùng túi (Sacbrood)
Bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu, ấu trùng tuổi lớn) do virus gây nên,
ở Việt Nam virus gây bệnh ấu trùng túi đ đợc xác định thuộc chủng Thai -
sacbrood (Bren. Ball, 1989) (Theo Phùng Hữu Chính và cộng sự, 1996)[10].
Đây là bệnh nguy hiểm nhất đối với ong Apis cerana, gây thiệt hại đáng kể
cho các nhà nuôi ong. Khả năng lây nhiễm của bệnh Thai - sacbrood rất lớn,
theo Bailey, Gibbs & Woods, 1964 [20], một ấu trùng chết bởi bệnh này có
chứa đủ virus để giết khoảng 1 triệu ấu trùng khác, nếu lấy lợng chất lỏng
này trong 1 xác ấu trùng chết rồi pha vào mật thì có thể lây nhiễm 3000 ấu
trùng lành, ấu trùng càng nhiều tuổi thì động lực của chất lỏng này càng giảm,
xác khô không còn độc lực sau 7 tuần.
Trong đàn ong, bệnh lan truyền là do ong thợ khi dọn vệ sinh tổ,
chúng ăn hay gắp bỏ các ấu trùng bị bệnh ra khỏi tổ, sau đó lại nuôi dỡng
các ấu trùng khoẻ và mầm bệnh đợc truyền từ đó. Bệnh truyền từ đàn này
sang đàn khác do ong ăn cớp mật, nhầm tổ, lây truyền qua sử dụng các
dụng cụ nuôi ong..
Khi bị bệnh, bánh tổ vít nắp nhộng không đều, xen kẽ giữa những lỗ tổ
vít nắp là những lỗ tổ bị mở nắp, ấu trùng chết ở giai đoạn nhọn đầu, quan sát
kỹ thấy nhiều lỗ tổ khác đang bị ong thợ mở nắp ở các mức độ khác nhau. ở
đàn ong bị bệnh nặng cả ấu trùng ong đực cũng bị chết. Màu sắc ấu trùng
bệnh chuyển từ trắng ngà sang trắng bệch, vạch phân đốt không rõ. Triệu
chứng điển hình nhất của bệnh ấu trùng túi là khi gắp ấu trùng lên phía đuôi
ấu trùng hình thành túi nhỏ có dịch trong suốt hoặc vàng nhạt. Thân ấu trùng
chuyển sang vàng nhạt rồi nâu nhạt hay xám nâu, chóp đầu nghiêng về phía
bụng. ấu trùng chết không mùi, khi khô thành vẩy cứng dễ lấy ra khỏi lỗ tổ.
triển nòi giống. Ngoài ra ong chúa còn tiết ra các pheromone để điều hoà hoạt
động của đàn ong. Bình thờng ong chúa đẻ trứng đợc thụ tinh và các trứng
này nở ra ong thợ nhng khi già thì nó đẻ ít và đẻ nhiều trứng không thụ tinh,
các trứng này nở ra ong đực.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
15 Trong đàn ong, ong chúa dễ đợc phát hiện và phân biệt với đàn ong
đực và ong thợ bởi kích thớc cở thể và trọng lợng nó lớn hơn đàn. Theo
Phùng Hữu Chính (1996) [12], trọng lợng cơ thể ong chúa đẻ trung bình là
200 mg, ong thợ là 75 80 mg, ong đực là 115 130 mg. Ngoài kích thớc và
trọng lợng, ong chúa còn dễ đợc phân biệt bởi nó có mầu đen và đi đến đâu
nó cũng đợc ong thợ bao quanh cho ăn liến mình. Ngời nuôi ong có thể phát
hiện sự có mặt của ong chúa trong đàn ong qua quan sát cách thức đẻ trứng
của ong chúa và vị trí đẻ của ong chúa và vị trí của trứng lỗ tổ. Nếu đàn ong
mới bị mất chúa, ngời nuôi ong cũng có thể biết đợc chúa đ bị mất vào
hôm nào qua việc quan sát vị trí của trứng trong lỗ tổ. Khi mất chúa ong thợ
lập tức xây mũ chúa cấp tạo, số lợng từ vài cái tới 20 cái. Nếu đàn ong bị mất
chúa và trong đàn không có trứng, không có ấu trùng tuổi nhỏ (ấu trùng có
khả năng phát triển thành ong chúa) thì buồng trứng của một số ong thợ sẽ
phát triển và chúng sẽ để trứng. Ong thợ đẻ trứng vào lỗ tổ ong thợ nhng
không đều đặn mỗi quả một lỗ tổ và xuôi theo hớng nh trứng do ong chúa
đẻ mà có tới mấy con cùng đẻ vào lỗ tổ.
Quá trình phát triển: Ong chúa đợc ra đời từ các lỗ tổ đặc biệt gọi là
mũ chúa. Mũ chúa đợc ong xây bằng sáp nằm ở rìa bên hoặc mép dới bánh
tổ. Từ các nền mũ chúa theo sự lớn lên của ấu trùng, ong thợ xây thành lỗ tổ
chúa có hình hạt dẻ.
Trứng ong có hình dạng hơi cong, mặt lồi của trứng tơng ứng với mặt
lng của phôi. Chiều dài và rộng của trứng tơng ứng với mặt lng của phôi.
thờng từ 5000 25000 con. Ong thợ có cấu tạo thích nghi với việc hoàn
thành tất cả các chức năng của đàn nh dọn vệ sinh, nuôi dỡng ấu trùng, tiết
sữa nuôi chúa, tiết sáp xây tổ, thu hoạch mật, phấn hoa, lấy nớc, điều hoà
nhiệt độ trong tổ, bảo vệ đàn,.... Tuổi thọ trung bình của ong thợ là 2 tháng
phụ thuộc vào cờng độ làm việc; Mùa đông ong thợ ít đi làm và sống lâu
hơn, vào vụ mật ong thợ phải đi làm việc nhiều, tuổi thọ giảm có khi chỉ sống
đợc 2 3 tuần.
Quá trình phát triển: ấu trùng ong thợ mới nở có màu trắng xanh, cơ
thở bao gồm phần đầu và 13 đốt phân biệt rõ. Trong quá trình lớn lên ấu trùng
Trng i hc Nụng nghip H Ni Lun vn thc s khoa hc nụng nghip
17có lột xác khoảng ngày một lần. Trong 2,5 3 ngày đầu ấu trùng đợc ong
nuôi dỡng cho ăn rất nhiều lần bằng thức ăn ấu trùng (sữa ong thợ) giàu
protein, vitamin. Sau 2,5 - 3 ngày ấu trùng đợc ăn bằng thức ăn có thêm mật
ong và phấn hoa (Crane, 1990) [3]. Vào ngày thứ 3 4 chúng đợc nuôi bằng
thức ăn có 47% đờng. Giai đoạn ấu trùng kéo dài gần 5 ngày, lột xác 4 lần,
sau đó ong nuôi dỡng ngừng cho ăn và vít nắp lỗ tổ lại. ấu trùng lúc này đ
tăng 1600 lần về trọng lợng so với khi mới nở. Trong lỗ tổ vít nắp ấu trùng
thải phân và kéo kén. Khi kéo kén ấu trùng phải xoay đầu tới trên 30 lần. Giai
đoạn nhộng ong thợ kéo dài 11 ngày trong đó giai đoạn tiền nhộng là 2 ngày,
ấu trùng biến đổi thành nhộng một cách chậm chạp. Nhìn bề ngoài tiền nhộng
giống nh ấu trùng nhng bên trong lớp da các phần của nhộng phát triển
đang hình thành rõ dần (chân và phần phụ của đầu). Mầu sắc cũng dần dần
đợc phủ ở mắt và các phần khác của cơ thể. Các biến đổi bổ xung cũng xuất
hiện để biến nhộng thành con trởng thành. Thời gian phát triển từ trứng đến
con trởng thành là 18,5 ngày.
- Ong Đực
Đặc điểm cơ thể: Khác với ong chúa và ong thợ, ong đực đợc nở ra từ