Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18
th
– 20
th
June 2010
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
140
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
SINH KẾ NÔNG HỘ TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI:
NGHIÊN CỨU TẠI MỘT CỘNG ĐỒNG VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA CÁT TIÊN
Hà Thúc Viên
1
và Ngô Minh Thụy
2
1
Khoa Môi trường và Tài nguyên,
2
Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản
ĐT: 08-37245694; 0946500198
Email:
[email protected]
, [email protected]
TÓM TẮT
Thể chế được xem như nền tảng cơ bản của phát triển kinh tế, sử dụng tài nguyên bền vững và
1
Khoa Môi trường và Tài nguyên
2
Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18
th
– 20
th
June 2010
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
141
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
này quyết định chiến lược sinh kế và sử dụng tài nguyên của nông hộ. Tuy nhiên, sự khác biệt
trong năng lực sản xuất giữa các nông hộ làm cho họ lựa chọn chiến lược sinh kế cũng khác
nhau. Nghiên cứu này chọn xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, thuộc khu vực vùng
đệm Vườn Quốc gia Cát Tiên có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội - văn hoá đa dạng làm địa
bàn nghiên cứu điểm vớ
i các mục tiêu chính như sau:
• Đánh giá sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi dưới sự tác động của đổi mới chính
sách kinh tế, đất đai, quản lý và bảo tồn tài nguyên, và các chính chính sách và dự án phát triển
liên quan.
• Đề xuất các giải pháp để tăng cường năng lực, phát triển sinh kế nông hộ bền vững và quản
lý sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
• Tìm hiểu tiến trình thực thi chính sách đấ
t đai, quản lý và bảo tồn tài nguyên, và các
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18
th
– 20
th
June 2010
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
142
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
Hình 1: Khung lý thuyết mối quan hệ giữa thể chế và sinh kế nông hộ (Nguồn: Viên 2007)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Phước Cát 2 là một xã thuộc vùng đệm, nằm về phía Tây Bắc của Vườn Quốc gia Cát Tiên
(VQGCT). Về mặt hành chính, Phước Cát 2 thuộc huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, là một xã
vùng sâu vùng xa của huyện. Nằm cách Trung tâm huyện khoảng 27 km về phía Tây Bắc với
diện tích tự nhiên 14.658,90 ha, phần lớn diện tích là đất lâm nghiệp thuộc vùng lõi VQGCT
(12.928 ha, chiếm 88,19%), diện tích đất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ nhỏ (11,81% hay 1.730,90
Nguồn lực sản xuất
Các chính sách phát triển:
• Bảo tồn và phát triển vùng đệm
• Hổ trợ sản xuất, khuyến nông, tín
dụng nông thôn, v.v.
• Điều kiện thị trường.
• Hoàn cảnh địa phương
Thu nhập và môi trường
Chiến lược sinh kế (phân
bố nguồn lực)
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18
th
– 20
th
June 2010
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
143
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
trung ở các cộng đồng dân tộc thiểu số và những hộ mới di cư do thiếu đất (gần 50% hộ nghèo)
và các nguồn lực sản xuất khác ngoại trừ lao động.
Phương pháp thu thập số liệu
• Số liệu thứ cấp: Thu thập các văn bản pháp lý và chính sách pháp luật, chính sách kinh tế
xã hội, đất đai, bảo tồn tài nguyên, số liệu thống kê điều kiện tư nhiên – kinh tế - xã hội, các tài
VQGCT. (2) Tranh chấp loại hình sử dụng đất do chậm điều chỉnh quy hoạch ranh giới phân định
đất nông – lâm theo hiện trạng sử dụng đất. Phần lớn diện tích đất trong cây lâu năm của xã hiện
nay thuộc khu vực quy hoạc đất lâm nghiệp do các lâm trường quản lý, nhưng trên thực tế người
dân đã khai thác để sản xuất nông nghiệp ổn định trên 10 năm. (3) Nhiều khu vực đất đai có
Hội thảo Môi trường và Phát triển bền vững, Vườn Quốc gia Côn Đảo, 18/06/2010 – 20/06/2010
Workshop on Environment and Sustainable Development, Con Dao National Park, 18
th
– 20
th
June 2010
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
144
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
nguồn gốc không rõ ràng do chuyển nhượng đất đai trái phép và quản lý lỏng lẻo trong quá trình
thực hiện chính sách kinh tế mới.
Các dự án phát triển nông thôn và vùng đệm
Bên cạnh các dự án phát triển vùng sâu vùng xa, Phước Cát 2 cũng tiếp nhận một số dự án
lồng ghép giữa bảo vệ rừng và nâng cao đời sống cư dân vùng đệm như: Tổ chức các lớp khuyến
nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật và xây dựng các mô hình trình diễn để nông dân học hỏi kỹ
thuật và kinh nghiệm sản xuất (kỹ thuật trồng và chăm sóc lúa nước, bắp giống CP, cây phân tán,
kỹ thuật canh tác trên đất dốc, kỹ thuật nuôi bò, nuôi heo hướng nạc, nuôi tôm càng xanh, trồng
tre lấy măng, sử dụng nước tiết kiệm). Ngoài ra, các chương trình giao đất giao rừng nghèo kiệt
cho cộng đồng quản lý và bảo vệ, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, khuyến khích phát triển tổ
kinh tế hợp tác tiến tới xây dựng hợp tác xã cũng được triển khai thực hiện. Tuy nhiên, hiệu quả
mang lại của các dự án không cao và có đời sống ngắn do hình thức tổ chức thực hiện chưa tốt,
thiếu sự hợp tác giữa địa phương, ban quản lý VQGCT và người dân, trình độ dân trí thấp, tiếp
cận khoa học kỹ thuật hạn chế, đặc biệt đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số.
th
June 2010
__________________________________________________________________________________________
Sinh kế nông hộ trong quá trình chuyển đổi: Nghiên cứu tại một cộng đồng vùng đệm VQG Cát Tiên
145
Hà Thúc Viên, Ngô Minh Thụy – Đại học Nông Lâm Tp. HCM
Bên cạnh nguồn lực con người, đất đai chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng quyết định đến
sinh kế của nông hộ. Năm 2009, mỗi nông hộ sở hữu trung bình 2,38 ha diện tích đất canh tác
3
,
trong đó phần lớn là diện tích trồng cây lâu năm 1,73 ha (72,69%), phần diện tích còn lại trồng
lúa nước và các loại cây hàng năm khác. Kết quả điều tra cũng cho thấy diện tích trung bình trên
nông hộ có sự khác biệt giữa các nhóm kinh tế và dân tộc. Các hộ thuộc dân tộc S’Tiêng có diện
tích đất nông nghiệp cao nhất (4,09 ha) và thấp nhất là các hộ thuộc cộng đồng người Dao (1,48
ha); Trung bình mỗi hộ giàu có diện tích đất nông nghiệp là 4,58 ha, các hộ trung bình 2,1 ha và
hộ nghèo là 1,58ha. Sự khác biệt diện tích canh tác giữa các nhóm hộ được quyết định bỡi thời
gian định cư tại địa phương, địa bàn định cư và điều kiện nguồn lực nông hộ. Đối với các hộ có
thời gian định cư lâu hơn và sống gần rừng hơn thường khai hoang mở rộng đất canh tác dễ dàng
nên sở hữu đất đai nhiều hơn. Diện tích đất canh tác của nông hộ có xu hướng tăng mạnh trong
10 năm qua (0,79ha), đặc biệt các hộ giàu và các hộ thuộc dân tộc S’Tiêng. Việc mở rộng diện
tích đất canh tác của nông hộ thường phần lớn thông quan việc lấn chiếm đất rừng thuộc vùng
giáp ranh giữa Vườn quốc gia Cát Tiên và địa phương. Mặc dù, trên lý thuyết đây là vùng bảo vệ
nghiêm ngặt và cấm mọi hành vi lấn chiếm. Ngoài ra, các hộ có năng lực sản xuất có xu hướng
tích lỹ đất đai nhằm mở rộng sản xuất nông nghiệp thông qua chuyển nhượng đất đai. Diện tích
đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chiếm 56% diện tích canh tác của nông hộ, chủ
yếu đất trồng cây hàng năm, nằm ngoài các khu quy hoạch phát triển lâm nghiệp và vùng bảo tồn
của Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Thực hiện chính sách giao đất và cấp GCNQSDĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi