Nghiên cứu xử lý nước thải nhiễm dầu bằng thực vật nổi lục bình, bèo - Pdf 14

Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 1
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, dầu khí đã được phát hiện vào ngày 26/6/1986, tấn dầu đầu
tiên đã khai thác được từ mỏ dầu Bạch Hổ. Tiếp theo nhiều mỏ dầu khí ở thềm lục
đòa phía Nam, đã đi vào khai thác như mỏ Đại Hùng, mỏ Rồng, mỏ Rạng Đông,
các mỏ khí như Lan Tây Lan Đỏ…
Nhà nước ta bắt đầu tiến hành xây dựng nhà máy chế biến dầu đầu tiên với
công suất 6 triệu tấn năm. Đồng thời hàng loạt các dự án về sử dụng và chế biến
khí ra đời. Như vậy ngành công nghiệp chế biến dầu khí nước ta đang bước vào
thời kỳ mới, thời kỳ mà cả nước ta đang thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Chắc chắn sự đóng góp của ngành dầu khí trong công cuộc công nghiệp
hóa đất nước sẽ rất có ý nghóa, góp phần xây dựng đất nước để sau vài thập niên
tới có thể sánh ngang các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Cùng với sự phát triển của ngành chế biến dầu, một trong những vấn đề
được mọi ngưới rất quan tâm hiện nay, đó là tình trạng ô nhiễm môi trường của
các chất thải có nhiễm dầu. Các hiện tượng tràn dầu, rò ró khí dầu gây nên tình
trạng ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường, như làm hủy hoại hệ sinh thái động
thực vật, và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người. Vì vậy vấn đề
bảo vệ môi trường khỏi các chất ô nhiễm dầu đã trở thành một trong những vấn đề
được xã hội quan tâm.
Với mục tiêu góp phần bảo vệ môi trường. Ngoài việc tránh các hiện tượng
rò ró khí dầu ra bên ngoài thì việc xử lý nước thải trong nhà máy lọc dầu được đặc
biệt quan tâm chú ý, đầu tư phát triển.
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 2
Và để đảm bảo sức khỏe cộng đồng và trả lại cho môi trường sự trong sạch

tình hình kinh tế hiện nay là điều cần thiết. Việc ứng dụng khả năng xử lý nước
thải của thực vật nổi phần nào đáp ứng được những nhu cầu đó.
1.4.2. Phương pháp cụ thể
1.4.2.1. Tổng hợp các số liệu
Xử lý, phân tích, tổng hợp các tài liệu, số liệu, thu thập theo mục tiêu đề ra.
1.4.2.2. Phương pháp chuyên gia
Các ý kiến tư vấn, đóng góp xây dựng được sử dụng trong việc lựa chọn các
vấn đề chính, xây dựng khung chiến lược, lựa chọn chiến lược và vạch ra chiến
lược chi tiết.
1.4.2.3. Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thực hiện khảo sát thực đòa lấy mẫu, thí nghiệm, khảo sát, đo đạc
và quan trắc.
1.4.2.4. Phương pháp thống kê
Hệ thống hóa các chỉ tiêu cần thống kê, tiến hành điều tra thống kê, tổng
hợp thống kê, phân tích và dự đoán.
1.4.2.5. Phương pháp phân tích hóa, lý của nước
Phân tích các chỉ tiêu về BOD
5
, COD, SS, pH trong nước
1.5. Giới hạn của đề tài
Kết quả thu được từ mô hình tương đối khả quan, tuy nhiên quá trình được
thực hiện còn nhiều hạn chế:
- Thời gian thực hiện gần 3 tháng từ ngày 1/04/2010 đến ngày 28/06/2010
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 4
- Số chỉ tiêu khảo sát chất lượng nước thải không nhiều (BOD
5
, COD, SS,
pH). Do đó, phần nào ảnh hưởng đến đánh giá của thí nghiệm.

sinh. Các loài thủy sinh thuộc loài thảo mộc, thân mềm.
Quá trình quang hợp của các loài thủy sinh hoàn toàn giống các thực vật
trên cạn. Các chất dinh dưỡng được hấp thụ qua rễ và qua lá. Ở lá của các loài
thực vật (kể cả thực vật thủy sinh) đều có nhiều khí khổng. Mỗi một cm² bề mặt lá
có khoảng 100 lổ khí khổng. Qua lổ khí khổng này, ngoài sự trao đổi khí còn có sự
trao đổi các chất dinh dưỡng. Do đó, lượng vật chất đi qua lổ khí khổng để tham
gia quá trình quang hợp không nhỏ. Ở rễ, các chất dinh dưỡng vô cơ được lông rễ
hút và chuyển hoá lên lá để tham gia quá trình quang hợp. Như vậy vật chất có
trong nước sẽ được chuyển qua hệ rễ của thực vật thủy sinh và đi lên lá. Lá nhận
ánh sáng mặt trời để tổng hợp thành vật chất hữu cơ. Các chất hữu cơ này cùng với
các chất khác xây dựng nên tế bào và tạo ra sinh khối. Thực vật chỉ tiêu thụ các
chất hữu cơ hoà tan. Các chất vô cơ không được thưc vật tiêu thụ trực tiếp mà phải
qua quá trình vô cơ hoá nhờ hoạt động của vi sinh vật. Vi sinh vật sẽ phân hủy các
hợp chất hữu cơ và chuyển chúng thành các chất và hợp chất vô cơ hoàn tan. Lúc
đó thực vật mới có thể sử dụng chúng để tiến hành trao đổi chất.
Chính vì thế, thực vật không thể tồn tại và phát triển trong môi trường chỉ
chứa các chất hữu cơ mà không có mặt của vi sinh vật. Quá trình vô cơ hoá bởi vi
sinh vật và quá trình hấp thụ các chất vô cơ hoà tan bởi thực vật thủy sinh tạo ra
hiện tượng giảm vật chất có trong nước. Nếu đó là nước thải thì quá trình này được
gọi là quá trình tự làm sạch sinh học.
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 6

vô cơ hoá quang hợp
Các chất hữu cơ Các chất vô cơ hoà tan Sinh khối thực vật sinh khối vi sinh vật
Hình 2.1 Quá trình chuyển hoá các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật và thực vật

ánh sáng mặt trời đi qua một lớp nước. Một phần năng lượng của ánh sáng mất đi
do sự hấp thụ của các chất hữu cơ có trong nước. Chính vì thế, phần lớn các thực
vật thủy sinh sống ngập trong nước bắt buộc phải thích nghi với ánh sáng kiểu
này. Mặt khác ánh sáng mặt trời chỉ có thể đâm xuyên vào nước với mức chiều
sâu nhất đònh. Quá mức độ đó, tác động của ánh sáng sẽ yếu dần đến lúc bò triệt
tiêu. Điều đó cho thấy một thực tế là các loài thực vật ngập nước chỉ có thể sống ở
một khoảng chiều sâu nhất đònh của nước, hay nói cách khác là chúng chỉ có thể
phát triển ở vùng nước sâu. Không có ánh sáng mặt trời xuyên qua thì không có
thực vật pháp triển. Như vậy, ánh sáng mặt trời đâm xuyên qua vào nước phụ
thuộc vào 2 yếu tố:
+ Độ đục của nước;
+ Chiều sâu của nước.
Ánh sáng mặt trời có tác dụng tốt nhất ở chiều sâu của nước là 50 cm trở
lại. Chính vì thế, chúng ta thấy phần lớn các thực vật ngập nước phát triển nhiều ở
chiều sâu này (tính từ bề mặt nước)

Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 8
2.2.1.2. Thứ hai
Khí CO
2
trong nước không nhiều như CO
2
có trong không khí. Khả năng
CO
2
có trong nước thường những nguồn sau:
- Từ quá trình hô hấp của vi sinh vật
- Từ quá trình phản ứng hóa học

Các loài thực vật này phát triển trên bề mặt nước, bao gồm hai phần, phần lá và
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 9
thân mềm nổi trên bề mặt nước. Đây là phần nhận ánh sáng mặt trời trực tiếp.
Phần dưới nước là rễ, rễ các loài thực vật này là rễ chùm. Chúng phát triển trong
lòng môi trường nước, nhận các chất dinh dưỡng trong nước và chuyển lên lá, thực
hiện các quá trình quang hợp. Các loài thực vật trôi nổi phát triển và sinh sản rất
mạnh, nhiều khi chúng gây ra những vấn nạn sinh khối.
Nhóm thực vật này bao gồm ba loài sau: lục bình (water hyacinth), bèo tấm
(duck week), rau diếp nước (water lettuce). Những loài thực vật này nổi trên mặt
nước và chúng thường chuyển động trên mặt nước theo gió thổi, sóng nước hay
theo dòng nước chảy của nước. Ở những khu vực nước không chuyển động , các
loài thực vật này sẽ bò dồn về một phía theo chiều gió.
Khi thực vật chuyển động sẽ kéo theo rễ của chúng quét trong lòng nước,
các chất dinh dưỡng sẽ thường xuyên tiếp xúc với rễ và được hấp thụ qua rễ.Mặt
khác, rễ của các loài thực vật này như những giá thể rất tuyệt vời để vi sinh vật
bám vào đó, phân hủy hay tiến hành quá trình vô cơ hóa các chất hữu cơ có trong
nước thải. So với thực vật gập nước, thực vật trôi nổi có khả năng xử lý các chất ô
nhiễm rất cao.
Ở nhiều nước nhiệt đới, các loài thực vật trôi nổi này, đặc biệt là loài
lục bình phát triển rất nhanh ở các dòng sông. Một mặt, lục bình làm giảm khả
năng gây ô nhễm của nước, mặt khác chúng làm tắc nghẽn dòng chảy và gây ra
hiện tượng ùn tắc lưu thông.
2.2.3. Thực vật nửa ngập nước (emergent plant)
Đây là loài thực vật có rễ bám vào đất và một phần thân ngập trong nước.
Một phần thân và toàn bộ lá của chúng lại nhô hẳn trên bề mặt nước. Phần rễ bám
vào trong đất ngập trong nước, nhận các chất dinh dưỡng có trong đất, chuyển
chúng lên lá trên mặt nước để tiến hành quá trình quang hợp. Thuộc các nhóm này
là các loài cỏ nước và các loài lúa nước. Việc làm sạch môi trường nước đối với

Tên tiếng việt: Lục bình, bèo tây hay bèo Nhật Bản.
Tên khoa học: Eichhornia crassipes
Giới: Plantae
Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Liliopsida
Bộ: Liliales
Họ: Pontederiaceae
Chi: Eichhornia
b. Nguồn gốc
Cây lục bình Nam Bộ có nguồn gốc ở Brazil, nhập vào Việt Nam từ năm
1905.
c. Đặc điểm
Lục bình là loài cỏ thủy sinh, thân ngắn có chùm lông ở giữa, với dạng lá
hình tròn, màu xanh lục, láng và nhẵn mặt. Lá cuống vào nhau như những cánh
hoa, gân hình cung, mòn, đa sắc. Cuống lá rất xốp thường phù to tạo thành phao,
hình lọ lục bình ngắn và to ở cây non, hay kéo dài đến 30 cm ở cây già. Rễ lục
bình trông như lông vũ sắc đen buông rủ xuống nước, dài đến 1m. Hoa lục bình
màu xanh nhạt hoặc xanh tím tạo thành chùm đứng, đài và tràn hoa cùng đính ở
gốc, cánh hoa trên có đốm vàng, 3 tâm bì nhưng chỉ có 1 tâm bì thụ, 6 tiếu nhò với
3 dài và 3 ngắn. Trái lục bình là nang có 3 buồng, bì mỏng nhiều hột. Thường mọc
nổi trên mặc nước hay bám vào đất bùn của các vùng nước ngọt có nhiệt độ từ 10
– 40
0
C, nhưng sinh trưởng mạnh nhất ở nhiệt độ 20 - 30
0
C. Lục bình sinh sản rất
mạnh, 1 cây mẹ có thể đẻ con, tăng số gấp đôi sau mỗi 2 tuần. Ở Việt Nam lục
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 12

Các loài thực vật này rất đơn giản, chúng thiếu thân hoặc lá, nhưng bao
gồm cấu trúc nhỏ giống như lưỡi lam trôi nổi trên hay chỉ ngay dưới bề mặt nước,
có hoặc không có rễ con đơn giản. Sự sinh sản của chúng diễn ra chủ yếu là vô
tính, nhờ nảy chồi, nhưng thỉnh thoảng thì hoa, bao gồm 2 nhò hoa và một nhụy
hoa (đôi khi gọi nó là cụm hoa gồm 3 hoa đơn tính) cũng được sinh ra. Quả là một
loại túi nhỏ, một cái túi chứa không khí và hạt, nhằm mục đích có thể nổi được.
Hoa của chi Wolffia là nhỏ nhất trong thế giới các loài hoa, nó chỉ dài 0,3 mm
Bèo tấm là nguồn thức ăn quan trọng cho các loại chim nước, cũng như
được sử dụng. Một số loài bèo tấm được nuôi trồng trong các bể cá cảnh nước ngọt
và ao hồ, chúng phát triển khá nhanh, mặc dù trong các ao hồ lớn có thể là rất khó
loại trừ một khi chúng đã có mặt. Bèo tấm có vai trò quan trọng trong việc khắc
phục tình trạng dư thừa các chất dinh dưỡng dạng khoáng chất trong các ao hồ
bằng biện pháp sinh học do chúng phát triển nhanh và hấp thụ phần lớn các chất
này, cụ thể là các nitrat và photphat. Nó cũng làm giảm tỷ lệ bay hơi của nước.
2.2.4.3. Một số loài thực vật xử lý nước thải khác
a. Cỏ vetiver
Họ: Gramanae
Tộc: Andropogoneae
Tên khoa học: Vetiver zizanioides
Tên thường gọi: Vetiver grass, cỏ hương bài
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 14



Hình 2.7 Cây rau mác (Nguồn: www.ctu.edu.vn)
e. Cây kèo nèo
Tên khoa hoc: Laminocharis flava Buch
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 16
Họ: Limnocharitaceae

Hình 2.8 Cây kèo nèo ( Nguồn: www. forum.zing.vn)
f. Bèo tai chuột
Tên khoa học: Salvinia cucullata
Họ: Salviaceae
Bộ: Dương xỉ


Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 18
2.3. Quan hệ của thực vật thủy sinh và quá trình tự làm sạch của nước
Trong các hồ sinh vật (là các thủy vực tự nhiên hoặc nhân tạo) sẽ diễn ra
quá trình chuyển hoá các chất bẩn. Quá trình này diễn ra với vai trò chủ yếu là
các sinh vật và tảo.
Cơ chế chung của quá trình xử lý nước thải trong hồ sinh vật được biểu diễn
qua hình 2.12. Khi vào hồ, do vận tốc dòng chảy nhỏ, các loại cặn được lắng
xuống đáy. Các chất bẩn hữu cơ còn lại trong nước sẽ được vi khuẩn hấp thụ và
ôxy hoá mà tạo ra sinh khối: CO
2
, các muối nitrat, nitrit Khí cacbonic và các hợp
chất nitơ, phốt pho được rong tảo, thực vật nổi sử dụng trong quá trình quang hợp,
giải phóng O
2
cung cấp cho quá trình ôxy hoá các chất hữu cơ của các vi khuẩn.
Sự hoạt động của rong tảo, thực vật nổi tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình trao
đổi chất của vi khuẩn. Trong trường hợp nước thải đậm đặc chất hữu cơ, tảo có thể
chuyển từ hình thức tự dưỡng sang hình thức dò dưỡng, tham gia vào quá trình ôxy
hoá các chất hữu cơ. Nấm nước, xạ khuẩn có trong nước thải cũng thực hiện vai
trò tương tự.
Trong hồ sinh vật, các loại thực vật bậc cao đóng vai trò quan trọng trong
việc ổn đònh chất lượng nước. Chúng lấy các muối dinh dưỡng (chủ yếu là nitơ và
photpho) và các kim loại nặng (như Cd, Cu, Hg và Zn) cho sự đồng hóa và phát
triển sinh khối. Các loại thực vật bậc cao trong hồ chia ra làm hai loại: thực vật
nổi và thực vật ngập nước.
Thực vật nổi thu nhận các chất dinh dưỡng và các nguyên tố cần thiết qua
bộ rễ. Loại này bao gồm các loại bèo như: Eichhonia crassipes, valvina,
Spirodella, Lama, Postia stratiotes và Eichhornia, các loại này phát triển sinh khối

H2S3 CH4
Vi khuẩn

Tế bào
mới
Chất lỏng
Tảo
Gió
Mặt trời
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 20
oxy hòa tan giảm tạo nên điều kiện thiếu khí hoặc yếm khí, vi khuẩn phải sử dụng
oxy liên kết từ: NO
2
, NO
3
hoặc SO
2
2-
để oxy hóa chất hữu cơ. Trong lớp cặn đáy,
các chất hữu cơ thường phân hủy bằng cách lên men sản phẩm tạo ra ở lớp nước
đáy hồ thường là metan CH
4
, sunfuahydro H
2
S và một số chất khí khác. Như vậy
trong hồ sinh vật, có thể tồn tại và phát triển các loại vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn
tùy tiện và vi khuẩn kỵ khí tại các tầng nước khác nhau. Hiệu quả phân hủy chất
hữu cơ ở tầng hiếu khí là cao nhất. Vì vậy, để tăng cường quá trình xử lý nước

-m): Đây là vùng ổn đònh với hàm lượng BOD
không cao. Hàm lượng NO
3
, PO
4
3
lớn là nguyên nhân tạo nên sự phi dưỡng tiếp
theo. Trong vùng này xuất hiện nhiều tảo lục đơn bào, các loại động vật nguyên
sinh và thảo trùng khác.
Trong hồ sinh vật, các loại tảo và vi khuẩn dò dưỡng, phân huỷ hiếu khí
chất hữu cơ đóng vai trò đối thủ, kình đòch của các loại vi khuẩn gây bệnh. Ngoài
ra với thời gian nước lưu lại trong hồ lớn (trên 5 ngày đêm), phần lớn các loại vi
khuẩn gây bệnh còn lại sẽ bò tiêu diệt bởi các tia cực tím của ánh sáng mặt trời.
Hiệu quả xử lý nước thải trong hồ có thể tăng lên bằng cách cung cấp ôxy
cưỡng bức nuôi trồng tảo, bèo và các thực vật bậc cao hoặc kết hợp nuôi cá và
thuỷ sinh vật khác trong hồ.
2.4. Khả năng chuyển hóa làm giảm các cơ chất, các chỉ tiêu của nước thải bởi
thực vật thủy sinh
2.4.1. Khả năng chuyển hóa chất hữu cơ trong nước
Các loài thực vật thủy sinh thường rất nhạy cảm với pH, chất độc, nồng độ
các chất hữu cơ cao. Do đó, trong nước thải chứa nhiều độc tố pH quá kiềm hay
quá acid đều ảnh hưởng rất xấu đến sự phát triển của chúng.
Ngoài ra sự phát triển của các loài thực vật thủy sinh tuy nhanh hơn các loài
thực vật khác nhưng lại chậm hơn các loài vi sinh vật. Do đó nếu so sánh khả năng
chuyển hóa vật chất hóa học có trong nước thải giữa thực vật và vi sinh vật thì
thực vật thường chậm hơn rất nhiều. Sở dó có hiện tượng này, ngoài tốc độ sinh
trưởng và sinh sản của vi sinh vật cao hơn thực vật ra, còn một đặc điểm rất quan
trọng khác là tốc độ chuyển hóa vật chất trong một ngày/ đêm của vi sinh vật rất
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH

Hàm lượng đồng trước
thí nghiệm (ppm)
1,0
2,0
4,0
8,0
Hàm lượng đồng sau thí
nghiệm (ppm)
0,1 – 0,51
0,18 – 1,13
0,47 – 2,01
1,19 – 4,32
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V
GVHD: TH.S LÂM VĨNH SƠN SVTH: TRẦN NHẬT LINH
Trang 23
Bảng 2.3 Khả năng làm giảm sắt của bèo hoa dâu (Azolla pinata) (Nguồn: theo
S.K. Jain, P. Vasudevan và N.K. Jha, 1987)
Hàm lượng sắt trước thí
nghiệm (ppm)
1,0
2,0
4,0
8,0
Hàm lượng đồng sau thí
nghiệm (ppm)
0,05 – 0,11
0,1 – 0,17
0,15 – 0,28
1,20 – 2,75
Bảng 2.4 Khả năng làm giảm đồng của bèo hoa dâu (Azolla pinata) (Nguồn: theo

axcocbinocydase, lactase. Đây là những enzyme tham gia vào những phản ứng
không có ánh sáng của thực vật và những phản ứng khác. Trong nước ô nhiễm,
lượng đồng vượt quá 0,4 mg/l sẽ gây độc cho thực vật thủy sinh.
Kẽm: Kẽm tham gia vào thành phần của enzyme cacboanhydrase,
photphotase, anolase, và một số enzyme protease.
Mangan: Các loài thực vật thủysinh hấp thụ mangan ở dạng oxyt mangan
hóa trò hai. Mangan tác động rất mạnh vào của một loạt enzyme peptidase, ferase,
photphatase, carbocylase và một số desmolase khác. Chúng tham gia vào sự hình
thành H
2
O
2
và tham gia vào tổng hợp diệp lục và tăng sự đồng hóa nitơ. Chúng
đóng vai trò rất quan trọng trong sự điều chỉnh quá trình oxy hóa và khử sắt.
Trong môi trường nước, tỷ lệ mangan/sắt từ 1/2 – 1/3, cây hấp thụ tốt nhất. Một số
kim loại nặng thường gây độc cho thực vật thủy sinh. Trong đó đáng chú ý nhất là
chì, cadmi, thủy ngân…
Những nghiên cứu của Lê Huy Bá và các cộng sự cho thấy, Cd có ảnh
hưởng đến sự phát triển của cây lúa nước nhiều hơn ảnh hưởng của Pb trên cây lúa
nước. Nồng độ Hg thấp, thấy xuất hiện khả năng kích thích sinh trưởng. Nồng độ
càng cao, Hg càng có tác động xấu đối với thực vật thủy sinh. Tương tự như vậy
khi nghiên cứu tác động của kim loại nặng 0,1 ppm, rau muống vẫn phát triển tốt.
Nhưng nồng độ kim loại nặng đến 0,5 ppm, sự phát triển của rau muống bò ảnh
hưởng rất nghiêm trọng. Kim loại nặng được tách ra khỏi môi trường nước theo
những hướng sau:
- Thực vật nhận kim loại nặng từ môi trường nước, đưa chúng vào sinh khối
thực vật, sinh khối thực vật được thu hoạch và đưa ra khỏi môi trường nước. Do đó,
kim loại nặng đã được chuyển từ môi trường nước vào sinh khối thực vật, kết quả
là giảm lượng kim loại nặng. Tuy nhiên, nếu sinh khối này chứa quá nhiều kim
Nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của thực vật nổi: lục bình, bèo CHƯƠNG V

trực tiếp rất khó diễn ra. Sự tạo ra BOD
5

trong hệ thống thực vật thủy sinh có thể là kết quả của:
- Các thành phần hữu cơ được tách ra từ các tế bào thực vật trong quá trình
sinh trưởng của chúng.
- Các thành phần hữu cơ được tách ra từ quá trình mục nát. Lượng BOD
5

được tạo ra 3 – 10 mg/l trong thời gian thực vật phát triển và 5 – 20 mg/l trong quá
trình chúng bò thối rữa. Trong rất nhiều trường hợp, lượng BOD
5
có thể đạt tới 30
mg/l.

Trích đoạn Xử lý tách dầu sơ bộ Hệ thống ống dẫn nước Trong hồ keo tụ CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN VAØ KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status