Nghiên cứu và đề xuất công nghệ xử lý nước thải cá cơm hấp tại làng nghề cá cơm hấp Mỹ Tân, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận - Pdf 14

Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Chương 1
MỞ ĐẦU
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Báo cáo Môi trường Quốc gia 2008 về Môi trường Làng nghề Việt
Nam thì làng nghề Việt Nam được chia thành 06 nhóm ngành chính, cụ thể nhóm
chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ (chiếm 20%); nhóm dệt
nhuộm, ươm tơ, thuộc da (chiếm 17%); nhóm sản xuất vật liệu xây dựng và khai
thác đá (chiếm 5%); nhóm tái chế phế liệu (chiếm 4%); nhóm làng nghề thủ công
mỹ nghệ (chiếm 39%) và nhóm các ngành khác (chiếm 15%). Các làng nghề đã
đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, góp phần phát
triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, xóa đói giảm nghèo ở
nông thôn, giải quyết việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập và phát triển du lòch.
Bên cạnh đó sự phát triển của các làng nghề đang gia tăng vấn đề ô nhiễm môi
trường, các chất khí thải, nước thải và chất thải rắn chưa được xử lý đã thải thẳng
vào môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng không khí, các nguồn nước mặt, nước
dưới đất và gây tác hại lớn đến sức khỏe cộng đồng.
Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong
phạm vi một khu vực và mang đậm nét đặc thù của hoạt động sản xuất theo
ngành nghề và loại hình sản xuất.
Hiện nay, tại Ninh Thuận có 05 làng nghề thuộc các nhóm chế biến thực
phẩm, dệt nhuộm và thủ công mỹ nghệ, trong đó Làng nghề cá cơm hấp Mỹ Tân
thuộc nhóm chế biến thực phẩm đang gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân
và tác động xấu đến môi trường. Sản phẩm của Làng nghề cá cơm hấp Mỹ Tân là
cá cơm khô. Hàng ngày, lượng nước thải trong quá trình sản xuất có chứa hàm
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
lượng chất hữu cơ và độ mặn cao được thải bỏ trực tiếp, không qua xử lý gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng xấu đến đời sống và sức khỏe người dân xung
quanh.
Vì vậy, trong phạm vi hạn hẹp của Đồ án tốt nghiệp em xin chọn đề tài

trình xử lý hiệu quả nước thải cá cơm hấp.
- Ý nghóa thực tiễn: Giảm ô nhiễm môi trường, sức khỏe và đời sống của
người dân được đảm bảo tốt, khách du lòch thoải mái ngắm cảnh khi đi qua
Làng nghề cá cơm hấp Mỹ Tân.
1.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp điều tra, khảo sát.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích những tài liệu, số liệu thu thập được.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm Execl.
- Đề xuất công nghệ xử lý.
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 3
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Chương 2
GIỚI THIỆU LÀNG NGHỀ CÁ CƠM HẤP MỸ TÂN
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 4
Làng nghề cá cơm
hấp Mỹ Tân
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Hình 2.1. Bản đồ tỉnh Ninh Thuận năm 2004
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
- Làng nghề cá cơm hấp Mỹ Tân nằm tại thôn Mỹ Tân, xã Thanh Hải,
huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Diện tích: 30 ha
- Khí hậu: Nhiệt độ trung bình 27,5
o
C; hàng năm có khoảng 60 ngày mưa với
lượng mưa trung bình 700 mm/năm. Lượng bốc hơi 1.800 mm/năm.
- Đòa hình: Đây là vùng đồng bằng ven biển, đòa hình tương đối bằng phẳng,
có tầng đất dày, có khả năng sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản
và làm muối.

Hấp cá (luộc)
Làm nguội
Phơi (sấy)
Làm mát
Phân loại
Đóng gói
Thành phẩm
Nước, muối
Nước, muối, củi
Mùi tanh, hôi
Lá cây, đầu cá,…
Bòch nylon,
giấy
Nước thải, chất
thải rắn (đầu cá,
ruột cá)
Nước thải
Hình 2.2 Qui trình sản xuất cá cơm hấp
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
- Rửa và làm sạch nguyên liệu: Tiến hành như sau:
Cách 1: Dùng thau nhựa to. Cho nước sạch và muối hột vào thau nhựa to,
khuấy tan muối hột rồi múc cá từ thùng đựng cá ra thau nhựa to để rửa sạch
bẩn bám, máu bầm và cát trên cá. Thường áp dụng đối với cá nục, sử dụng 50
lít nước và 10 kg muối hột để rửa cho 1 giỏ cá 40 kg.
Cách 2: Dùng bể xi măng. Cho vó vào bể xi măng đã có nước sạch và muối
hột, rồi cho cá vào vó (1,5 kg cá/1 vó), dùng tay khỏa nước để cá được dàn đều
trên vó (nhằm mục đích tránh dập cá và trầy da, tróc phấn). Thường áp dụng
đối với cá cơm, sử dụng 40 lít nước và 08 kg muối hột để rửa cho 1 giỏ cá 40
kg.
- Hấp cá (luộc): Sau khi rửa sạch, cho 10 vó cá vào gióng rồi nhúng vào nồi

C. Trong trường hợp không có kho lạnh thì cá phải kòp thời
đưa đi tiêu thụ vì để cá lâu trong điều kiện thường thì cá bò giảm chất
lượng như biến màu hoặc đóng mốc.
Đònh mức thành phẩm và nước sạch:
- Cứ 3,5 kg cá tươi sẽ tạo ra 1 kg cá thành phẩm để nguyên đầu; 4,5 kg cá
tươi sẽ tạo ra 1 kg cá khô thành phẩm bỏ đầu.
- Xử lý nguyên liệu 90 lít nước/giỏ cá 40 kg.
- Trong công đoạn luộc thì đối với nồi 90x90x50 cm thì nước luộc khoảng
500 lít chứa 20 kg muối và nước luộc bổ sung 2lít/giỏ.
2.4. THÀNH PHẦN, TÍNH CHẤT NƯỚC THẢI:
Bảng 2.1. Kết quả phân tích thành phần, tính chất nước thải một số cơ sở chế biến
cá cơm hấp tại Làng nghề cá cơm hấp Mỹ Tân
Stt Ký hiệu
mẫu
pH SS (mg/l) DO
(mg0
2
/l)
Độ mặn
(‰)
COD
(mg/l)
BOD
5
(mg/l)
Tổng N
(mg/l
Tổng P
(mg/l)
SO

- Mẫu được lấy tại hố chứa nước thải
M3: Hộ bà Nguyễn Thò Nhẫn
M4: Hộ bà Lê Thò Tánh
Nhận xét:
- So với quy chuẩn loại B theo QCVN 24: 2009/BTNMT – Quy chuẩn Quốc
gia về nước thải công nghiệp thì nước thải của các hộ sản xuất đều có pH
và chỉ tiêu vi sinh nằm trong giới hạn cho phép nhưng các chỉ tiêu hóa lý
SS, BOD
5
, COD, N, P đều vượt quy chuẩn cho phép. Cụ thể: chỉ tiêu SS thì
vượt quy chuẩn gấp 16,8 – 21,4 lần, chỉ tiêu BOD
5
thì vượt quy chuẩn gấp
109,2 – 301 lần, chỉ tiêu COD thì vượt quy chuẩn gấp 85,84 – 233,45 lần,
chỉ tiêu N thì vượt quy chuẩn gấp 34,83 – 129,77 lần, chỉ tiêu P thì vượt
quy chuẩn gấp 51,12 – 142 lần. Do đó, nước thải này không được phép thải
ra môi trường xung quanh khi chưa xử lý vì nước thải bò ô nhiễm cao bởi
các chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng sẽ làm thay đổi thay phần, tính
chất môi trường sinh thái.
- Nước thải chứa hàm lượng N và P cao khi thải vào nguồn nước sẽ được các
động vật phù du nhất là tảo lam hấp thụ tạo nên sinh khối trong quá trình
quang hợp. Sự phát triển đột ngột của tảo lam trong nguồn nước giàu dinh
dưỡng làm cho nước có mùi và độ màu tăng lên, chế độ oxy trong nguồn
nước không ổn đònh. Sau quá trình phát triển, phù du thực vật bò chết. Xác
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 9
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
phù du thực vật sẽ làm tăng thêm một lượng chất hữu cơ, tạo nên sự nhiễm
bẩn lần hai trong nguồn nước.
- Với nguồn nước thải trên thì trước khi thải bỏ vào môi trường cần phải xử
lý để không gây ô nhiễm môi trường.

trình xử lý hoá lý và sinh học .
3.1.1. Song chắn rác:
Song chắn rác thường đặt trước hệ thống xử lý nước thải hoặc có thể đặt tại
các miệng xả trong phân xưởng sản xuất nhằm giữ lại các tạp chất có kích thước
lớn như: nhánh cây, gỗ, lá, giấy, nilông, vải vụn và các loại rác khác.
Dựa vào khoảng cách các thanh, song chắn được chia thành hai loại:
- Song chắn thô có khoảng cách giữa các thanh từ 60 - 100mm.
- Song chắn mòn có khoảng cách giữa các thanh từ 10 - 25mm.
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
(Tiêu chuẩn Xây Dựng TCXD-51-84)
3.1.2. Lưới lọc:
Lưới lọc dùng để khử các chất lơ lửng có kích thước nhỏ, thu hồi các thành
phần quý không tan hoặc khi cần phải loại bỏ rác có kích thước nhỏ. Kích thước
mắt lưới từ 0,5 - 1,0mm.
Lưới lọc thường được bao bọc xung quanh khung rỗng hình trụ quay tròn
(hay còn gọi là trống quay) hoặc đặt trên các khung hình dóa.
3.1.3. Bể lắng cát:
Bể lắng cát có nhiệm vụ loại bỏ cát, cuội, xỉ lò hoặc các loại tạp chất vô cơ
khác có kích thước từ 0,2 – 2 mm ra khỏi nước thải nhằm đảm bảo an toàn cho
bơm khỏi bò cát, sỏi bào mòn, tránh tắc đường ống dẫn và tránh ảnh hưởng đến
công trình sinh học phía sau.
Trong các loại bể lắng cát có một công trình phụ là sân phơi cát. Vì lượng
cát lấy ra nước thải có chứa nhiều nước nên cần sân phơi để tách nước.
3.1.4. Bể lắng:
Nước thải trước khi đi vào xử lý sinh học cần loại bỏ các cặn bẩn không tan
ra khỏi dòng bằng bể lắng (bể lắng I), cặn hình thành trong quá trình keo tụ tạo
bông hoặc cặn sinh ra trong quá trình xử lý sinh học (bể lắng đợt 2).
Bể lắng có cấu tạo mặt bằng là hình chữ nhật hay hình tròn, được thiết kế để
loại bỏ bằng trọng lực các hạt cặn có trong nước thải theo dòng liên tục ra vào bể.

các quá trình xử lý hóa lý và sinh học :
H
+
+ OH
-
→ H
2
O
Vôi (Ca(OH)
2
) thường được sử dụng rộng rãi như một Bazơ để xử lý các
nước thải có tính Axit, trong khi Axit Sulfuric (H
2
SO
4
) là một chất tương đối rẻ
tiền dùng trong xử lý nước thải có tính Bazơ.
3.2.2. Phương pháp oxy hóa – khử: dùng để
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
- Khử trùng nước.
- Chuyển một nguyên tố hòa tan sang kết tủa hoặc một nguyên tố hòa tan
sang thể khí.
- Biến đổi một chất không phân hủy sinh học thành nhiều chất đơn giản hơn,
có khả năng đồng hóa bằng vi khuẩn.
- Loại bỏ các kim loại nặng như Cu, Pb, Zn, Cr, Ni, As …và một số chất độc
như cyanua.
- Các chất oxy hóa thông dụng: Ozon, Chlorine, Hydro peroxide, Kali
permanganate
- Quá trình này thường phụ thuộc rõ rệt vào pH và sự hiện diện của chất xúc

O → HCO
3
-
+ OH
-
3.3. PHƯƠNG PHÁP HOÁ LÝ:
Dựa vào tính chất vật lí thành phần ô nhiễm để tách chúng ra khỏi nước thải
3.3.1. Keo tụ:
Các hạt cặn có kích thước nhỏ hơn 10 – 4 mm thường không thể tự lắng được
mà luôn tồn tại ở trạng thái lơ lửng. Muốn loại bỏ các hạt cặn lơ lửng phải dùng
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 14
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
biện pháp xử lý cơ học kết hợp với biện pháp hóa học, tức là cho vào nước cần xử
lý các chất phản ứng để tạo ra các hạt keo có khả năng kết dính lại với nhau và
dính kết các hạt cặn lơ lửng trong nước, tạo thành các bông cặn lớn hơn có trọng
lượng đáng kể. Quá trình thủy phân các chất đông tụ và tạo thành các bông keo
xảy ra theo các giai đoạn
Me
3
+ HOH  Me(OH)
2+
+ H
+
Me(OH)
2+
+ HOH  Me(OH)
+
+ H
+
Me(OH)

phèn này được đưa vào nước dưới dạng dung dòch hòa tan.
3.3.2. Tuyển nổi:
 Tuyển nổi khí tan(Dissolved Air Flotation):
Biện pháp này được sử dụng rộng rãi với nước thải chứa các chất bẩn nhỏ vì
nó cho phép tạo bọt khí rất nhỏ. Thực chất của biện pháp này là tạo ra một dung
dòch quá bão hòa không khí. Sau đó không khí được tách ra khỏi dung dòch ở dạng
các bọt cực nhỏ và lôi kéo các chất bẩn nổi lên trên mặt nước.
- Tuyển nổi chân không
- Tuyển nổi không áp lực
- Tuyển nổi áp lực.
 Tuyển nổi với cung cấp không khí nén qua tấm xốp, ống châm lỗ:
Quá trình tuyển nổi được thực hiện bằng cách sục các bọt khí nhỏ vào pha
lỏng. Các bọt khí này sẽ kết dính với các hạt cặn. Khi khối lượng riêng của tập
hợp bọt khí và cặn nhỏ hơn khối lượng riêng của nước, cặn sẽ theo bọt khí nổi lên
bề mặt. Khí chủ yếu cung cấp theo 2 cách sau:
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
- Tuyển nổi với thổi không khí nén qua các vòi
- Tuyển nổi với phân tán không khí qua tấm xốp.
3.3.3. Hấp phụ:
Phương pháp này được sử dụng để làm sạch nước thải khỏi các chất hữu cơ
hòa tan. Quá trình hấp phụ được thực hiện bằng cách cho tiếp xúc hai pha không
hòa tan là pha rắn (chất hấp phụ) với pha khí hoặc pha lỏng. Dung chất (chất bò
hấp thụ) sẽ đi từ pha lỏng (hoặc pha khí) đến pha rắn cho đến khi nồng độ dung
chất trong dung dòch đạt cân bằng. Ưu điểm của phương pháp này là hiệu quả cao
80-90%, có khả năng xử lý nhiều chất trong nước thải.
Chất hấp phụ thường được sử dụng là: Than hoạt tính, các chất tổng hợp và
chất thải của vài ngành sản xuất (tro, rỉ, mạt cưa), chất hấp phụ vô cơ (đất sét,
Silicagen, keo nhôm) và các chất Hydroxit kim loại (ít được sử dụng vì năng
lượng tương tác của chúng với các phân tử nước lớn).

một công trình.
- Tạo thành các loại bùn hạt có mật độ vi sinh vật rất cao và tốc độ lắng
vượt xa so với bùn hoạt tính hiếu khí dạng lơ lửng
Bên cạnh đó, quá trình xử lý sinh học kò khí UASB còn có những ưu điểm so
với quá trình bùn hoạt tính hiếu khí như :
- Ít tiêu tốn năng lượng vận hành.
- Ít bùn dư nên giảm chi phí xử lý bùn.
- Bùn sinh ra dễ tách nước.
- Nhu cầu dinh dưỡng thấp nên giảm chi phí bổ sung dinh dưỡng.
- Có khả năng thu hồi năng lượng từ khí Methane.
 Bể lọc kò khí(UAF):
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Bể lọc kò khí dòng hướng lên là một bể chứa vật liệu tiếp xúc để xử lý chất
hữu cơ chứa carbon trong nước thải. Nước thải được dẫn vào bể từ dưới lên hoặc
từ trên xuống, tiếp xúc với lớp vật liệu trên đó có vi sinh vật kò khí sinh trưởng và
phát triển. Vì vi sinh vật được giữ trên bề mặt vật liệu tiếp xúc và không bò rửa
trôi theo nước sau xử lý nên thời gian lưu của tế bào sinh vật rất cao (khoảng 100
ngày).
3.4.2. Quá trình hiếu khí:
 Quá trình xử lý hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng lơ lửng:
Trong quá trình bùn hoạt tính, các chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan
chuyển hóa thành bông bùn sinh học – quần thể vi sinh vật hiếu khí – có khả
năng lắng dưới tác dụng của trọng lực. Nước chảy liên tục vào bể Aeroten, trong
đó khí được đưa vào cùng xáo trộn với bùn hoạt tính cung cấp ôxy cho vi sinh vật
phân hủy chất hữu cơ. Dưới điều kiện như thế, vi sinh vật sinh trưởng tăng sinh
khối và kết thành bông bùn. Hỗn hợp bùn và nước thải chảy đến bể lắng đợt 2 và
tại đây bùn hoạt tính lắng xuống đáy. Một lượng lớn bùn hoạt tính (25 – 75% lưu
lượng) tuần hoàn về bể aeroten để giữ ổn đònh mật độ vi khuẩn, tạo điều kiện
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 18

SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
Thổi khí
Nước
thải
Thu nước
trong
Bùn
hoạt
tính
Hình 3.3. Các pha hoạt động bể SBR.
 Quá trình xử lý hiếu khí với vi sinh vật sinh trưởng dạng dính bám
 Bể lọc sinh học:
Bể lọc sinh học chứa đầy vật liệu tiếp xúc, là giá thể cho vi sinh vật sống
bám. Vật liệu tiếp xúc thường là đá có đường kính trung bình 25 – 100 mm, hoặc
vật liệu nhựa có hình dạng khác nhau, … có chiều cao từ 4 – 12 m. Nước thải được
phân bố đều trên mặt lớp vật liệu bằng hệ thống quay hoặc vòi phun. Quần thể vi
sinh vật sống bám trên giá thể tạo nên màng nhầy sinh học có khả năng hấp phụ
và phân hủy chất hữu cơ chứa trong nước thải. Quần thể vi sinh vật này có thể
bao gồm vi khuẩn hiếu khí, kò khí và tùy tiện, nấm, tảo, và các động vật nguyên
sinh, … trong đó vi khuẩn tùy tiện chiếm ưu thế.
Phần bên ngoài lớp màng nhầy (khoảng 0,1 – 0,2 mm) là loại vi sinh hiếu
khí. Khi vi sinh phát triển, chiều dày lớp màng ngày càng tăng, vi sinh lớp ngoài
tiêu thụ hết lượng ôxy khuếch tán trước khi ôxy thấm vào bên trong. Vì vậy, gần
sát bề mặt giá thể môi trường kò khí hình thành.
Khi lớp màng dày, chất hữu cơ bò phân hủy hoàn toàn ở lớp ngoài, vi sinh
sống gần bề mặt giá thể thiếu nguồn cơ chất, chất dinh dưỡng dẫn đến tình trạng
phân hủy nội bào và mất đi khả năng bám dính. Nước thải sau xử lý được thu qua
hệ thống thu nước đặt bên dưới. Sau khi ra khỏi bể, nước thải vào bể lắng đợt hai
để loại bỏ màng vi sinh tách khỏi giá thể. Nước sau xử lý có thể tuần hoàn để pha

Ở cánh đồng tưới không được trồng rau xanh và cây thực phẩm vì vi khuẩn,
virút gây bệnh và kim loại nặng trong nước thải chưa được loại bỏ sẽ gây tác hại
cho sức khỏe của người sử dụng các loại rau và cây thực phẩm này.
3.4.4. Xả nước thải vào ao, hồ, sông suối:
Nước thải được xả vào những nơi vận chuyển và chứa nước có sẵn trong tự
nhiên để pha loãng chúng và tận dụng khả năng tự làm sạch của các nguồn nước
tự nhiên.
Khi lưu lượng và tổng hàm lượng chất bẩn trong nước thải nhỏ so với lượng
nước của nguồn tiếp nhận, ôxy hòa tan có trong nước đủ để cấp cho quá trình làm
sạch hiếu khí các chất hữu cơ.
3.4.5. Hồ sinh học: có thể phân loại như sau: Hồ hiếu khí, hồ tùy tiện, hồ kò khí
 Hồ hiếu khí:
Có diện tích rộng, chiều sâu cạn. Chất hữu cơ trong nước thải được xử lý chủ
yếu nhờ sự cộng sinh giữa tảo và vi khuẩn sống ở dạng lơ lửng. Ôxy cung cấp cho
vi khuẩn nhờ sự khuếch tán qua bề mặt và quang hợp của tảo. Chất dinh dưỡng
và CO
2
sinh ra trong quá trình phân hũy chất hữu cơ được tảo sử dụng.
Hồ hiếu khí có hai dạng :
- Có mục đích là tối ưu sản lượng tảo, hồ này có chiều sâu cạn 0,15 – 0,45
m;
- Tối ưu lượng ôxy cung cấp cho vi khuẩn, chiều sâu hồ này khoảng 1,5 m.
Để đạt hiệu quả tốt có thể cung cấp ôxy bằng cách thổi khí nhân tạo.
 Hồ tùy tiện:
Trong hồ tùy tiện tồn tại 03 khu vực:
- Khu vực bề mặt, nơi đó chủ yếu vi khuẩn và tảo sống cộng sinh;
- Khu vực đáy, tích lũy cặn lắng và cặn này bò phân hủy nhờ vi khuẩn kò
khí;
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn

-
và các muối Ammonia trong nước thải sau
khi xử lý sinh học, thường sử dụng các phương pháp hóa – lý (trao đổi ion, hấp
phụ bằng than hoạt tính sau khi thực hiện chlorua hoá sơ bộ, thẩm thấu ngược…)
hoặc phương pháp sinh học (quá trình Nitrat hóa và khử Nitrat)
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 23
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Lâm Vónh Sơn
- Để loại các liên kết Photpho ra khỏi nước thải, thường áp dụng các phương
pháp hóa học (dùng vôi, sunfat Al, sunfat Fe).
3.6. KHỬ TRÙNG NƯỚC THẢI:
Khử trùng nước thải là giai đoạn cuối cùng của công nghệ xử lý nước thải
nhằm loại bỏ vi trùng và virus gây bệnh trước khi xả vào nguồn nước.
Để khử trùng có thể dùng clo và các hợp chất chứa clo, có thể tiến hành khử
trùng bằng Chlorine, Ozôn, tia hồng ngoại, ion bạc,…nhưng cần phải cân nhắc kỹ
về mặt kinh tế.
3.6.1. Khử trùng nước thải bằng Iod:
Là chất khó hòa tan nên Iod được dùng ở dạng dung dòch bảo hòa. Độ hòa
tan của Iod phụ thuộc vào nhiệt độ của nước. Khi độ pH = 7, Iod sử dụng lấy từ
0,3 - 1 mg/l, nếu sử dụng cao hơn 1,2 mg/l sẽ làm cho nước có mùi vò Iod.
3.6.2. Khử trùng nước bằng ozon:
Tác dụng diệt trùng xảy ra mạnh khi Ozon đã hòa tan đủ liều lượng, mạnh
và nhanh gấp 3100 lần so với Clo. thời gian khử trùng xảy ra trong khoảng từ 3 -
8 giây. Lượng Ozon cần để khử trùng nước thải từ 0,2 - 0,5 mg/lít, tùy thuộc vào
chất lượng nước, cường độ khuấy trộn và thời gian tiếp xúc (thường thời gian tiếp
xúc cần thiết 4 - 8 phút). Ưu điểm không có mùi, giảm nhu cầu oxy của nước,
giảm nồng độ chất hữu cơ, giảm nồng độ các chất hoạt tính bề mặt, khử màu,
chất rắn, Nitơ, Phốt pho, Phênol, Cianua Nhược điểm của phương pháp này là
tiêu tốn năng lượng lớn và chi phí đầu tư ban đầu cao.
3.6.3. Khử trùng nước bằng tia tử ngoại:
Dùng các đèn bức xạ tử ngoại, đặt trong dòng chảy của nước, các tia cực tím

nhưng không độc.
SVTH: Nguyễn Thò Tố Uyên Trang 25

Trích đoạn Giới thiệu: KẾT LUẬN VAØ KIẾN NGHỊ 7.1 KẾT LUẬN:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status