Nghiên cứu khoa học " NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN ĐÈN BẪY BƯỚM PHÒNG TRỪ SÂU RÓM THÔNG " potx - Pdf 14

NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN ĐÈN BẪY BƯỚM
PHÒNG TRỪ SÂU RÓM THÔNG Phạm Đăng Quốc
Trung tâm Nghiên cứu và CGCN Công nghiệp rừng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu róm thông (Dendrolimus punctatus Walker) là một loài sâu hại nguy hiểm cho rừng thông của nhiều
quốc gia. Sâu róm thông (SRT) chủ yếu gây hại các loài thông, trong đó một số loài gây thành dịch, khả
năng sinh sản nhanh, chỉ trong một thời gian ngắn tăng lên thành một quần thể gây hại vô cùng lớn. Ở Nghệ
An năm 2003, SRT phát sinh và đã phát triển thành dịch, gây hại cho 4.133ha rừng thông. Một đặc tính
quan trọng là bướm SRT có tính xu quang cao, hoạt động mạnh vào ban đêm. Việc sử dụng đèn bẫy bướm
là một biện pháp nằm trong hệ thống quản lý tổng hợp phòng trừ SRT. Biện pháp sử dụng bẫy đèn để dự
báo dịch, diệt bướm hiệu quả và không gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo tính bền vững đối với hệ sinh thái
rừng thông.
Các chủng loại đèn bẫy bướm hiện đang sử dụng hầu hết được nhập từ nước ngoài có những tính năng
kỹ thuật không phù hợp với điều kiện sử dụng của Việt Nam như: Tính cơ động kém, giá thành cao… Đề tài
nghiên cứu cải tiến đèn bẫy bướm phòng trừ SRT nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, đáp ứng yêu cầu cấp
thiết của thực tiễn.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1- Sử dụng phương pháp chọn mẫu điển hình trong các công đoạn :
- Khảo sát, thu thập số liệu về một số loại bẫy đèn nhập ngoại đang sử dụng .
- Thu thập thông tin về khả năng diệt bướm SRT của những loại đèn nói trên.
- Lựa chọn mẫu đèn.
2 - Sử dụng phương pháp chép hình trong việc thiết kế cải tiến, tính toán xác định các thông số cơ bản
của đèn.

( Italy )
2 bóng dài
Actic Lamp
20w B2
220V; 0,5A, 50Hz
Đầu ra 2500V
13mA
680 x 200 x
380mm
(7.5kg )
TT Bảovệ
Rừng tỉnh
Nghệ an
Rất hiệu quả
năm 2003
2
Insect-O-
Cutor M25
( Anh )
2 bóng tròn
FCL22BL /21
220V; 0,5A; 50Hz.
Đầu ra 2 x 2200V
13mA
450 x 200
x 620mm
(08kg )
Phòng
BVTV
FSIV

220V; .05A, 50Hz;
2500V;
14mA
650 x 200
X 380mm
(7,8kg)

Truờng
ĐHLN
Tốt, ít sử
dụng Hình1. Một số đèn bẫy bướm SRT nhập ngoại đang được sử dụng
Tại phòng thí nghiệm của Viện Vật Lý, các trị số được kiểm định trên các máy đo chuyên dùng. Bước sóng
ánh sáng được đo bằng thiết bị Phổ kế CPYD 8, điện áp và cường độ dòng điện được đo bằng thiết bị
Sauwa Digitali MultimeterPM3. Các trị số trung bình 3 lần đo của một số đèn được ghi trong bảng 2.

Bảng 2. Giá trị các thông số kiểm định của một số loại đèn
TT

Loại đèn Bước sóng
ánh sáng
Điện áp giữa 02
bản cực
Cường độ dòng
điện thứ cấp

hoặc mua bóng đèn này tại thị trường với số lượng nhỏ.
- Đèn đã có khả năng dẫn dụ và diệt bướm SRT tại một số lâm trường tỉnh Nghệ An, đặc biệt là ở Lâm tr-
ường Nghi Lộc trong đại dịch SRT năm 2003.
- Có khả năng chế tạo trong nước với giá thành thấp.
4.3. Thiết kế cải tiến
- Chọn vật liệu phù hợp để chế tạo trong nước, không phải nhập ngoại.
- Dùng Inox thay thế cho các chi tiết chế tạo bằng kim loại đen ở bản cực cao áp, lưới kim loại nhằm tăng
độ bền sử dụng .
- Thay đổi khoảng cách ngang giữa 2 thanh liên tiếp ở lưới chắn từ 20mm lên 25mm, nhằm tạo khe hở
cần thiết cho bướm SRT dễ bay vào nguồn sáng và bị diệt bởi 2 bản cực cao áp (bướm SRT có sải cánh
20 - 25mm ).
- Dùng ăc qui thay cho việc sử dụng máy phát điện để đèn bẫy bướm SRT có thể vào sâu trong rừng,
mở rộng phạm vi sử dụng trong điều kiện không có điện lưới và máy phát.
4.4. Chế tạo và khảo nghiệm
4.4.1 Chế tạo và khảo nghiệm đèn chạy nguồn điện lưới:
Đèn bẫy bướm SRT chạy nguồn điện lưới được chế tạo với các thông số kỹ thuật ghi trong
bảng 3.
Bảng 3. Các trị số đo trong phòng thí nghiệm của đèn chạy nguồn điện lưới
TT Các thông số đo Thứ
nguyên
Trị số trung
bình 3 lần
đo liên tiếp
Máy đo
1 Điện áp giữa 2 bản cực Vol 5000 Sauwa Digitali
MultimeterPM3
2 Cường độ dòng thứ cấp A 13 nt


Hình 3. Đèn bẫy bướm SRT sử dụng nguồn điện
lưới

Hình 4. Đồ thị phổ ánh sáng bóng đèn Syvanya

- Khảo nghiệm tại hiện trường
Năm 2006, 2 đèn đã được khảo nghiệm tai lâm trường Nam Đàn (tháng 8/2006) và Nghi Lộc (02 đợt
trong các tháng 6, 7, 8, 9 năm 2006 và tháng 2/2007).
Năm 2007, tại lâm trường Nghi Lộc, tiến hành khảo nghiệm đối chứng với đèn nhập ngoại PCL307. Hai
đợt khảo nghiệm đối chứng tiến hành trong tháng 5/2007.
Điều kiện hiện trường khảo nghiệm
1- Thời gian khảo nghiệm giữa 2 mẫu đèn là đồng nhất, từ 21h hôm trước đến 04h sáng hôm sau.
2- Cùng một lâm phần.
3- Hai đèn đặt liền nhau ở cùng một độ cao 2m.
Kết quả khảo nghiệm đèn chạy điện lưới có đối chứng tại lâm trường Nghi Lộc ghi trong bảng 4.

Bảng 4. Kết quả khảo nghiệm đối chứng
TT Ngày tháng Nhiệt độ TB Bướm SRT chết ở đèn
của đề tài
Bướm SRT chết ở đèn

4 Cường độ dòng điện mA 13
5 Trọng lượng Kg 20

Bảng 6. Các thông số kỹ thuật của đèn chạy ác qui đo tại phòng thí nghiệm
Đèn số
Điện áp
(Vol)
Cường độ
(mA)
Thời gian chiếu
sáng (h)

Thời gian
nạp điện (h)
Trọng lượng
( Kg)
1 2500 13 09 10 20
2 2500 13 09 10 20
3 2500 13 08 10h10" 20
4 2500 13 09 10 20
5 2500 13 09 10h30 20
6 2500 13 9h30 10 20
7 2500 13 9h30 10 20
Hình 3. Đèn bẫy bướm SRT chạy ác qui a) Modun cao áp


Bảng 8. Kết quả khảo nghiệm tại Lâm trường Nghi Lộc tỉnh Nghệ An
Đêm Số lượng
bướm bị
diệt
Thời gian
đèn chiếu
sáng
Điều kiện
khí hậu
Độ ổn định
làm việc
Thời gian
nạp điện
Ghi chú
02/10/2007 12 8h 28độC Đèn ổn định 10h
Nhiều mối
vào đèn
03/10/2007 22
29 04/10/2007 15
28

11-
05/10/2007 20
29

10 -

ưu thế vượt trội so với các loại đèn hiện có. Khả năng hoạt động liên tục 9 giờ trong một đêm đảm bảo tốt
cho việc dẫn dụ và diệt bướm.
- Hai mẫu đèn dễ dàng sử dụng và an toàn khi tác nghiệp.
- Giá thành để chế tạo 1 đèn sử dụng nguồn điện lưới là 3.500.000Đ (bằng 2/3 so với đèn PCL307); Với
1 đèn sử dụng điện ắc qui là 4.500.000 đồng. Nếu chế tạo đèn với số lượng lớn giá thành sẽ giảm hơn.
IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
- Sử dụng bẫy đèn để dự báo dịch hại và diệt trừ bướm SRT là biện pháp rất có hiệu quả, 2 mẫu đèn cải
tiến khắc phục được những bất cập của các đèn nhập ngoại hiện đang sử dụng.
- Mẫu đèn sử dụng nguồn điện lưới đã được khẳng định về độ bền và công năng sử dụng. Mẫu đèn này
sử dụng rất hiệu quả ở những nơi gần nguồn điện lưới hoặc có điều kiện trang bị máy phát điện.
- Đèn sử dụng nguồn điện ắc qui có tính cơ động cao, có thể đặt tại mọi địa điểm trong rừng mà không
phụ thuộc vào nguồn điện lưới và máy phát điện.
- Hai mẫu đèn nêu trên hoạt động an toàn, dễ sử dụng, hoàn toàn chế tạo được ở trong nước với giá
thành hạ so với đèn nhập ngoại có các trị số kỹ thuật tương đương.
Khuyến nghị
- Cần nghiên cứu thêm về ánh sáng dẫn dụ bướm, sử dụng đèn left có cường độ và bước sóng thích
hợp nhưng tiết kiệm điện và mở rộng phạm vi sử dụng của đèn đối với sâu hại trong nông nghiệp và cây ăn
quả.
- Nghiên cứu về chất dẫn dụ bướm SRT, kết hợp với ánh sáng để nâng cao hơn hiệu quả diệt bướm của
đèn.
- Nghiên cứu hoàn thiện đèn bẫy bướm sử dụng điện ắc qui nhằm tăng độ ổn định của modun cao áp và
kéo dài thời gian chiếu sáng của bóng đèn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
1. Phạm Ngọc Anh,1967. Côn trùng Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông thôn, Hà Nội.
2. Đặng Vũ Cẩn,1973. Sâu hại rừng, Nhà xuất bản Nông thôn, Hà Nội.
3. Chen Shangjie, Trần Văn Mão, 1998. Phòng trừ tổng hợp sâu róm thông Trường Đại học Lâm
nghiệp 1998.
4. Lê Nam Hùng, Hoàng Đức Nhuận, 1980. Phương pháp dự tính sâu ăn lá cây rừng. Nhà xuất bản
Khoa học Kỹ thuật. Hà Nội.
5. Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã,1997. Côn trùng lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Hà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status