NGHIÊN cứu cải TIẾN LỒNG bẫy để NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH bắt và bảo vệ NGUỒN lợi THỦY sản tại TỈNH NINH THUẬN - Pdf 30

NGHIÊN CỨU CẢI TIẾN LỒNG BẪY ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH BẮT VÀ
BẢO VỆ NGUỒN LỢI THỦY SẢN TẠI TỈNH NINH THUẬN
Trần Đức Phú. Nguyễn Trọng Lương
Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản
Trường Đại học Nha Trang
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỉnh Ninh Thuận thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hoà,
Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông [5].
Ninh Thuận có bờ biển dài 105 km, ngư trường nằm trong vùng nước trồi, có NLTS phong phú
và đa dạng với trên 500 loài thủy sản các loại. Ngoài ra, còn có hệ sinh thái san hô phong phú, đa
dạng với trên 120 loài, trong đó có một số loài rùa biển đặc biệt quý hiếm. Vùng ven biển có diện
tích mặt nước lớn, nhiều đầm vịnh, có vườn quốc gia Núi Chúa phù hợp cho phát triển kinh tế
thủy sản, du lịch có tầm cỡ trong nước và quốc tế [4].
Mặc dù được thiên nhiên ưu đãi về nguồn lợi sinh vật biển, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản
(NLTS). Tuy nhiên, tỉnh Ninh Thuận có 2.546 tàu thuyền, các phương tiện khai thác thủy sản có
công suất nhỏ (<90 CV) chiếm khoảng trên 75%, hoạt động trong vùng nước ven bờ. Trong số
đó, các tàu thuyền nghề lưới kéo hoạt động quanh năm, kích thước mắt lưới nhỏ, đánh bắt không
có chọn lọc đã tàn phá ngư trường và NLTS, thậm chí còn phá hủy môi trường sinh thái rạn san
hô, thảm cỏ biển, rong biển, làm mất nơi sinh cư của các loài thủy sản [2]. Chính vì thế, NLTS
đã suy giảm một cách nghiêm trọng trong những năm vừa qua. Theo số liệu thống kê của Chi
cục Khai thác và Bảo vệ NLTS Ninh Thuận cho thấy, sản lượng khai thác thủy sản hàng năm
tăng, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, năng suất đánh bắt trên một đơn vị cường lực lại
giảm, nếu năm 1995 năng suất đạt 0,71 tấn/CV thì năm 2001 chỉ đạt 0,46 tấn/CV và con số này
chỉ đạt 0,31 tấn/CV vào năm 2010 [2].
Các loài ghẹ là đối tượng thủy sản quý, có giá trị thương mại cao và là mặt hàng xuất
khẩu quan trọng của Việt Nam nói chung và Ninh Thuận nói riêng. Ghẹ được phân bố ở khắp
các vùng biển tới độ sâu 100m, vùng cửa sông, ven các đảo từ Bắc vào Nam, nguồn lợi khá
phong phú [3]. Nghề đánh bắt ghẹ ở Ninh Thuận đã phát triển khá mạnh trong thời gian vừa qua
như nghề lưới kéo, nghề lưới rê (lưới rê 3 lớp và lưới rê ghẹ), nghề lồng bẫy. Tuy nhiên, các
nghề khác thác hiện có đang đứng trước thách thức lớn đó là năng suất giảm và giá trị sản phẩm
thấp nên hiệu quả kinh kế mang lại không cao.

- Khai thác thử nghiệm trên tàu của ngư dân tại 3 địa phương là Phước Diêm, Đông Hải và
Thanh Hải.
- Thực hiện 9 đợt khai thác thử nghiệm, mỗi đợt 5 ngày phân bố đều cho 3 địa phương,
mỗi địa phương 15 ngày.
b. Bố trí thử nghiệm
- Nguyên tắc bố trí thử nghiệm
+ Thử nghiệm đối chứng các kiểu lồng cải tiến và các kiểu lồng truyền thống hiện có tại địa
phương.
+ Bố trí xen kẽ lồng bẫy truyền thống và lồng bẫy cải tiến đánh bắt trên cùng ngư trường, thời
gian.
+ Đánh bắt thử nghiệm trong cả mùa chính và mùa phụ.
- Phương tiện đánh bắt thử nghiệm
Chúng tôi đã sử dụng 3 tàu của ngư dân tại Phước Diêm, Đông Hải và Thanh Hải để đánh bắt
thử nghiệm:
- Ngư trường đánh bắt thử nghiệm
Ngư trường đánh bắt thử nghiệm bằng nghề lồng bẫy cải tiến được thực hiện ở vùng biển tỉnh
Ninh Thuận, được chia thành 3 khu vực tương ứng với 3 tàu đánh bắt thử nghiệm.
Hình 1: Phân vùng đánh bắt thử nghiệm
- Sắp xếp lồng bẫy thử nghiệm
Để có cơ sở khoa học lựa chọn kiểu lồng phù hợp cho đối tượng và ngư trường ở vùng biển Ninh
Thuận, các kiểu lồng bẫy đưa vào đánh bắt thử nghiệm được ráp xen kẽ nhau.
Hình 2: Sơ đồ bố trí lồng thử nghiệm
2.2.4. Đánh giá kết quả đánh bắt thử nghiệm
a. Đánh giá hiệu quả năng suất khai thác
Năng suất trung bình của 01 mẻ khai thác tương ứng với mỗi kiểu lồng bẫy được tính toán theo
công thức:
N
SL
A =
(1)

Trong đó: Ni: Tổng sản lượng của sản phấm thứ i
Pi: Giá bán của sản phẩm thứ i
n: Số lượng loài thủy sản mà nghề lồng bẫy đánh bắt trong chuyến biển.
- Lợi nhuận chung (LN
c
) hay còn gọi là lợi nhuận trước lương: Chỉ số lợi nhuận chung được xác
định theo công thức sau:
LN
c
= DT - CP

(4)
Tuy nhiên, trong quá trình đánh bắt thử nghiệm lồng bẫy cải tiến và truyền thống được sử
dụng đồng thời nên lợi nhuận chung theo các loại lồng bẫy được xác định như sau:
LN
C
= (DT
CT
– CP
CT
) + (DT
TT
– CP
TT
) (5)
Trong đó: DT
CT
: Doanh thu của lồng bẫy cải tiến
DT
TT

3.1.1. Ngư trường khai thác thủy sản bằng nghề lồng bẫy
Qua quá trình khảo sát ngư trường, cho thấy các vùng biển có sản lượng và năng suất
đánh bắt khá cao, phù hợp với nghề lồng bẫy bao gồm [3]:
Vùng 1: Giới hạn trong: Độ sâu 5m tính từ bờ biển
Giới hạn ngoài: Vĩ độ 11
0
30’N – kinh độ 109
0
14’E
Vĩ độ 11
0
40’N – kinh độ 109
0
16’E
Vùng 2: Giới hạn trong: Độ sâu 5m tính từ bờ biển
Giới hạn ngoài: Vĩ độ 11
0
40’N – kinh độ 109
0
16’E
Vĩ độ 11
0
43’N – kinh độ 109
0
16’E
Vùng 3: Giới hạn trong: Độ sâu 5m tính từ bờ biển
Giới hạn ngoài: Vĩ độ 11
0
15’N – kinh độ 108
0

Mùa vụ khai thác: Từ tháng 7 đến tháng 3 năm sau.
Kích thước khai thác thường gặp: Chiều rộng vỏ đầu ngực 70÷ 40 mm.
Năng suất khai thác trung bình: 1,2 kg/100 lồng bẫy, 1,95 kg/ 100 mét lưới rê 3 lớp.
Ngư trường: Thường sống ở vùng biển ven bờ, độ sâu 5 ÷ 35m, gần các rạn đá, đáy cát đá, vỏ
sinh vật.
Mực Lá
Mùa vụ khai thác: quanh năm, chính vụ vào các tháng 1-3 và tháng 6-9
Năng suất khai thác trung bình: 5,5 kg/100 lồng bẫy và 2,8 kg/ 100 mét lưới rê 3 lớp.
Ngư trường: Sinh sống trên phạm vi rộng độ sâu từ 3 – 50 mét
3.1.3. Mùa vụ khai thác
Hoạt động khai thác thủy sản bằng nghề lồng bẫy có thể diễn ra quanh năm. Tuy nhiên, trong mùa vụ
chính năng suất đánh bắt được cao hơn mùa phụ.
Mùa vụ chính diễn ra từ tháng 3 – 9 hàng năm và tùy theo điều kiện thời tiết của từng năm mà
đến sớm hay muộn.
Mùa vụ phụ từ tháng 10 – 2 năm sau.
3.2. Lựa chọn lồng mẫu
3.2.1. Lồng bẫy hình chữ nhật khai thác ghẹ
a. Ưu điểm:
- Dễ chế tạo, giá thành rẽ phù hợp với điều kiện kinh tế của ngư dân.
- Chế tạo bằng phương thức thủ công, không sử dụng máy móc – phù hợp với điều kiện sản xuất
nhỏ lẻ của ngư dân
b. Nhược điểm:
- Kích thước lồng nhỏ, trọng lượng nhẹ nên không ổn định khi khai thác trong môi trường nước
biển.
- Kích thước mắt lưới của lưới bao nhỏ, khai thác tận thu các đối tượng thủy sản, làm ảnh hưởng
đến nguồn lợi thủy sản, có tới 64,73 % ghẹ chưa trưởng thành bị đánh bắt [3].
- Màu sắc hom lồng tối, không hấp dẫn được đối tượng đánh bắt, nên sản lượng thấp và hiệu quả
không cao.
3.2.2. Lồng bẫy dạng hình trụ tròn khai thác ghẹ
a. Ưu điểm:

(chiếc)
Sản lượng
(kg)
Số lồng
(chiếc)
Sản lượng
(kg)
Cải tiến 300 174,0 600 345,4 600 288,0
Truyền thống 300 100,7 300 105,4 300 92,4
Từ bảng trên cho thấy:
- Sản lượng đánh bắt trung bình của các loại lồng cải tiến cao gấp 1,64 lần so với lồng
bẫy truyền thống.
- Sản lượng đánh bắt vào đầu mùa chính (thử nghiệm lần 1) của lồng bẫy cải tiến cao gấp
1,73 lần so với lồng bẫy truyền thống, tương ứng vào chính vụ (thử nghiệm lần 2) là 1,64 lần và
mùa phụ (thử nghiệm lần 3) là 1,5 lần.
3.4.2. Năng suất đánh bắt
a. Năng suất đánh bắt theo loại lồng bẫy
Hình 6: Năng suất đánh bắt của các kiểu lồng bẫy
Chú thích: TTCT: Trụ tròn cải tiến; CNCT: Chữ nhật cải tiến; BNCT: Bán nguyệt cải tiến;
VGCT: Vỉ ghẹ cải tiến; TTTT: Trụ tròn truyền thống; CNTT: Chữ nhật truyền thống)
Từ biểu đồ trên cho thấy:
- Năng suất đánh bắt trung bình của lồng bẫy cải tiến cao hơn so với lồng bẫy truyền
thống.
- Năng suất của lồng bẫy TTCT cao nhất, gấp 2,26 lần so với lồng bẫy TTTT, tiếp đến là
lồng bẫy CNCT, gấp 1,5 lần so với lồng bẫy CNTT.
- Mặc dù năng suất đánh bắt của lồng bẫy BNCT và VGCT thấp hơn so với TTCT và
CNCT nhưng vẫn cao hơn so với 2 kiểu lồng bẫy truyền thống đưa vào đánh bắt đối chứng.
b. Năng suất đánh bắt theo màu sắc lưới hom
Hình 7: Năng suất đánh bắt của các loại lồng theo màu sắc hom lồng bẫy
Từ biểu đồ trên cho thấy:

- Tính chọn lọc của các kiểu lồng bẫy cải tiến cao hơn lồng bẫy truyền thống khi sử dụng
mắt lưới của lưới bao 2a = 25 mm (ngư dân hiện đang sử dụng).
- Nếu sử dụng kích thước mắt lưới như nhau, khả năng chọn lọc của các loại lồng bẫy
khác nhau là không giống nhau. Cụ thể, lồng bẫy CNCT có khả năng chọn lọc cao nhất, lồng
TTCT và BNCT có khả năng chọn lọc tương đương nhau.
3.4.4. Hiệu quả kinh tế
Bảng 2: So sánh giữa lồng bẫy cải tiến và lồng bẫy truyền thống
TT Các chỉ số kinh tế Ký hiệu Lồng bẫy cải tiến
Lồng bẫy truyền
thống
1 Chi phí mua lồng bẫy 250,7 197,0
2 Doanh thu DT 55.774,5 13.705,0
3 Chi phí biến đổi CP

20.170,0 10.085,0
4 Lợi nhuận chung LNc 35.604,5 3.620,0
5 Lợi nhuận của chủ tàu LN
CT
14.241,8 1.448,0
6 Khấu hao tài sản 3.560,5 362,0
7 Thu nhập của thuyền viên 4.450,6 452,5
Từ bảng trên cho thấy:
- Qua 45 ngày đánh bắt thử nghiệm đối chứng thì lồng bẫy cải tiến khai thác có hiệu quả cao hơn 9,8
lần so với lồng bẫy truyền thống.
- Mặc dù chi phí đầu tư vào nghề lồng bẫy cải tiến cao hơn 1,27 lần nhưng lợi nhuận và thu thập của
thuyền viên ở nghề lồng bẫy cải tiến cải tiến cao hơn 9,8 lần so với lồng bẫy truyền thống. Điều này
nói lên rằng, lồng bẫy cải tiến hiệu quả cao so với lồng bẫy truyền thống. Chính vì vậy, nếu ngư dân
đầu tư mua sắm hoặc chế tạo theo các kiểu lồng bẫy cải tiến sẽ đạt hiệu quả kinh tế cao.
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận

nghề lồng bẫy, giảm sự xung đột trong hoạt động sản xuất, tỉnh cần có chính sách đầu tư nghiên
cứu, quy hoạch nghề, thiết lập ngư trường khai thác cho từng nghề phù hợp với tập quán sản xuất
của địa phương phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Thủy sản, 2006. Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy
sản - Hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm
2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thuỷ sản)
2. Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Ninh Thuận, 2010. Báo cáo thường niên ngành
khai thác thủy Ninh Thuận.
3. Trần Đức Phú và ctv, 2011. Báo cáo tổng hợp đề tài “Nghiên cứu cải tiến lồng bẫy tại Ninh
Thuận để nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản”.
4. Vườn Quốc gia Núi Chúa, 2003. Khái quát tài nguyên biển vườn quốc gia Núi Chúa.
5. http://www.ninhthuan.gov.vn/Pages/Dieu-kien-tu-nhien1.aspx
ABSTRACT
The paper presents the result of research on traditional fishing traps in Ninh Thuan province for improving
the productivity and marine resources protection. Base of traditional fishing traps in Ninh Thuan province, we
designed and manufactured 04 types of fishing trap.
The reserch used 03 fishing boats of local fishermen to control experiment with new fishing traps and
traditional fishing traps. The experiments were organised 45 days in main season and sub-season with the following
results:
- The new fishing traps save the area of deck from 5 to 6 times tobe compared the traditional fishing traps.
- The productivity of the new fishing traps is higher than the traditional traps.
- The selectivity of the new fishing traps is higher thanh the traditional traps with the same mesh size.
- The result also shows that, the yellow funnel has higher productivity than grey funnel.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status