Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Lời Cảm Ơn
Với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục và
đào tạo của đất nước. Thực sự góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay. Tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài Nghiên cứu tâm lí học sinh để nâng cao hiệu quả giảng dạy bằng
giáo án điện tử. Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này, tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ của đông đảo các bạn sinh viên , các thầy cô giáo
trong khoa vật lí- tổ vật lí kỹ thuật và các thầy cô giáo trong tổ tâm lí học. Đặc
biệt là ThS Nguyễn Mẫu Lâm- GV khoa Vật Lí, người đã trực tiếp hướng dẫn,
dìu dắt, chỉ bảo tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Qua đây, tôi xin trân trọng cảm ơn các quý thầy cô cùng các bạn sinh viên
khoa Vật Lí. Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc
nhất tới thầy Nguyễn Mẫu Lâm.
Xuân Hoà, ngày 07 tháng 05 năm 2007
Nguyễn Thị Toàn
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
1
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
củ đường tiếp thu bằng thị giác khoảng 3.000000 bit/s, của đường tiếp thu bằng
thính gíc khoảng 30.000 50.000 bit/s, của đường khứu giác khoảng 10 100
bit/s. Như vậy năng lực dẫn thông của đường tiếp thu thông tin bằng thị giác lớn
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
2
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
gập 100 lần đường thính giác. điều này chứng tỏ ưu điểm của phương pháp dạy
học trực quan, giảng dạy bằng giáo án điện tử hơn rất nhiều so với phương pháp
dạy học dùng ngôn ngữ trước đây. Mặt khác thông tin truyền đạt theo đường
thính giác chỉ có thể tiếp thu được sau khi nghe truyền đạt hết một thông báo
hay một mệnh đề nào đó về mặt logic. Thông tin truyền đạt theo đường thị giác
cùng một lúc cho hình ảnh trọn vẹn với tất cả các chi tiết của nó. Nghệ thuật
của giáo viên là phải kết hợp, sử dụng khả năng truyền đạt thông tin theo các
đường tiếp nhận thông tin khác nhau của học sinh. Để qua bài giảng học sinh
lĩnh hội được lượng thông tin lớn nhất mà giáo viên muốn truyền đạt.
Chính vì những lý do trên, và với ý nghĩa nghiên cứu thực tiễn để thực sự
nâng cao hiệu quả giảng dạy bằng giáo án điện tử, phục vụ tốt nhất cho việc
dạy và học mà tôi chọn đề tài này.
1. Mục đích đề tài:
Nhằm tìm ra cách thiết kế và xây dựng bài giảng bằng giáo án điện tử sao
cho tối ưu nhất. Đảm bảo phù hợp với đặc điểm tâm lí học sinh ở từng lứa tuổi.
Giúp học sinh dễ dàng tiếp thu và nắm vững các thông tin do người dạy truyền
đạt.
2. Nhiệm vụ đề tài:
+ Tìm hiểu về đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh và tâm lí học sư phạm.
Mối liên hệ giữa hai chuyên nghành tâm lí này.
4
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Chương 1
Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh và tâm lí học sư phạm
1-Khái quát về tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm.
1.1-Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm.
Tâm lí học và tâm lí học sư phạm là 2 chuyên nghành tâm lí cùng nghiên cứu
tâm lí người.Nhưng không phải là con người đả trưởng thành mà là con người ở
các giai đoạn phát triển về tư duy, trí tuệ.
a-Đối tượng
Tâm lí học lứa tuổi nghiên cứu đặc điểm của các quá trình, và các phẩm chất
tâm lí riêng lẻ, của các cá nhân, ở các lứa tuổi khác nhau và sư khác biệt của
chúng trong phạm vi cung một lứa tuổi.Nghiên cứa những khả năng lứa tuổi
của linh hội các tri thức , phương thức hành động.
Tâm lí học lứa tuổi nghiên cứu đặc điểm của tri giác nhìn, tri giác nghe, và sư
tác động qua lại giữa chúng ở từng lứa tuổi
Tâm lí học lứa tuổi nghiên cứu các dang hoạt động khác nhau của các cá nhân
đang được phát triển. Mỗi dạng hoat động có vai trò tác dụng khác nhau đối với
sự phát triểnnhân cách ơ từng lứa tuổi. Mỗi một giai đoạn phát triển có một
dạng hoạt động vừa sức và đặc trưng của nó.
Tâm lí học sư pham nghiên cứu những vấn đề tâm lí học của việc điều khiển
các quá trình dạy học. Nghiên cứu sự hình thành các quá trình nhận thức, tìm
tòi những tri thức mới của học sinh.
Tiêu chuẩn đáng tin cậy của sự phát triển trí tuệ và xác định những điều kiện để
đảm bảo phát triển trí tuệ có hiệu quả trong quá trình dạy học. Xem xét mối
Trong quá trình phát sinh cá thể, trong những khoảng thời gian như nhau thì
tâm lí con người đã trải qua nhiều chặng đường phát triển khác nhau. Những
biến đổi về chất diễn ra trong 3 năm đầu tiên rất đáng kể. Vì vậy nhiều nhà tâm
lí học khi nghĩ về trung tâm của con đường phát triển trí tuệ tư lúc lọt lòng cho
đến khi tưởng thành là khi nào? - đó là khi 3 tuổi.
Sự biết đi có ảnh hưởng lớn đến sự phat triển tâm lí trẻ. Đứa trẻ thường xuyên
bị mất cân bằng và ngã. Cái gì buộc đứa trẻ khắc phục sư sợ hãi và cố găng để
đi tiếp, đó là khả năng đạt được mục đích của chính đứa trẻ và sự khuyến khích
của một lời nói, một nụ cườikích thích ý muốn đạt được mục đích của nó.
Sau khi đã đạt được mục đích của mình, làm chủ được bước đi. Chúng ta cần
phat triển khả năng định hướng trong không gian cho trẻ. Khi trẻ đi gần đến đồ
vật mà nó đang nhìn, đứa trẻ hiểu được phương hướng và khoảng cách của vật
đó 1 cách thực tế. Để kich thích trẻ cần cho chúng nhìn thấy những hình ảnh
động hấp dẫn. Buộc đứa trẻ cố gắng bước tới những hình ảnh mà nó nhìn thấy.
Tuổi vườn trẻ thời kì nhạy cảm đối với sự phát triển ngôn ngữ. Chính trong
thời gian này sự lĩnh hội ngôn ngữ diễn ra có hiệu quả nhất. Đứa trẻ bắt đầu
thích thú nghe bất kỳ một lời nói nào từ người lớn kể cả những lời nói không
nhằm vào nó.
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
6
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Trước 1 tuổi rưỡi trẻ lĩnh hội được 40-100 từ, vào khoảng 1 tuổi rưỡi trẻ bắt
đầu có sáng kiến hơn . Nó bắt đầu thường xuyên đòi hỏi người ta gọi tên những
đồ vật cho nó biết. Nhịp độ phát triển ngôn ngữ tăng lên. Đến cuối lên 2 trẻ sử
dụng 300 từ, cuối tuổi lên 3 là 1500 từ.
Sự phát triển ngôn ngữ đòi hỏi sự lĩnh hội của các khía cạnh âm thanh và cấu
7
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
đối với các trung tâm dưới vỏ. Bộ xương được cốt hoá, cơ to ra, cơ quan hô hấp
và tuần hoàn phát triển tốc độ hình thành những phản xạ có điều kiện tăng
nhanh, các bộ máy nhạy cảm phát triển mạnh. những sự phát triển như vậy của
hệ thần kinh và cơ thể là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những chức năng
tâm lí cao.
Trong tuổi mẫu giáo trò chơi là dang hoạt động chủ đạo. Trò chơi tạo nên
những thay đổi về chất trong tâm lí trẻ. Trong trò chơi đã có những cơ sở của
hoạt động học tập .
Khát vọng của trẻ tham gia cuộc sống chung của người lớn không thể thoả
mãn trên cơ sở hoạt động chung. Trẻ đầu thoả mãn nhu cầu này trong trò chơi ,
trẻ học ở người lớn cách thay thế vật thật . Hoạt động vui chơi góp phần phát
triển chú ý có chủ định và trí nhớ có chủ định. Trong điều kiện vui chơi trẻ tập
trung chú ý tốt hơn và ghi nhớ nhiều hơn.
Trong trò chơi mục đích tri giác tập trung chú ý, ghi nhớ và nhớ lại đối với
trẻ được tách ra sớm hơn và dễ dàng hơn. Chính những điều kiện của trò chơi
đòi hỏi những người tham gia phải tập trung vào các đối tượng được đưa vào
hoàn cành trò chơi. Nếu đứa trẻ không nhớ những điều kiện của trò chơi thì rứt
khoát là bạn bè sẽ đuổi nó ra. Nhu cầu giao tiếp và nhu cầu được động viên về
mặt tình cảm buôc trẻ phải tâp trung chú ý và ghi nhớ có mục đích.
Trò chơi có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ . Hoàn cảnh vui chơi
đòi hỏi mỗi đứa trẽ tham gia vào trò chơi phải có năng luạc giao tiếp nhất định
.Nếu đứa trẻ không nói lên được ý muốn của mình về tiến trinh của trò chơi. Nó
không hiểu được lời chỉ dẫn của ban bè thì nó sẽ không được tham gia trò chơi.
trong trương hơp nay sư bất lơi sẽ là động lực để phát triển ngôn ngữ.
Trò chơi ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ. Trong trò chơi trẻ học được cách
cô giáo giúp trẻ hình dung dễ dàng: cần phải phân biệt đươc cái gì nhỏ hơn cái
gì, giúp trẻ tư duy tương tượng dễ hơn.
Day học có vai trò quyết định trong sư hình thành tư duy. Những công trình
nghiên cứu trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng, nhiều đặc điểm tư duy của
trẻ em mẫu giáo mà trước đây người ta đã coi là những dấu hiệu không thể
tranh khỏi lứa tuổi nhưng thực ra chúng lại do những điều kiện của cuộc sống
và hoạt động của trẻ tạo ra và có thể bị thay đổi khi thay đổi nội dung và các
phương pháp dạy học ở mẫu giáo.Trẻ em từ 5-6 tuổi dễ dàng lĩnh hội được
những tri thức về một vài tính chất vật lí chung và trạng thái của vật thể ..Với
những hình thức dạy học phù hợp
(hình thành hành động trí tuệ theo theo giai đoạn) trẻ em mẫu giáo sẽ nắm vững
được những khái niệm có giá trị và những phương pháp tư duy logic.
Tuổi mẫu giáo là lứa tuổi mà chú ý và ghi nhớ không chủ định chiếm ưu thế.
Trẻ chú ý đến những cái nó có hứng trhú trực tiếp trực tiếp. Những cái kích
thích cảm xúc cảm xúc và trẻ ghi nhớ, những cái lôi cuốn sự kích thích của nó
và tự ghi nhớ được. Những hình ảnh trực quan được trẻ ghi nhớ dễ dàng hơn
nhiều những hình ảnh bằng lời. Thậm trí khi ghi nhớ một đoạn văn thì âm điệu
và âm vận thường có ý nghĩa lớn hơn so với nội dung. Bước ngoặt trong sự phát
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
9
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
triển trí nhớ là sự nảy sinh hành động trí nhớ đặc biệt. Khi có những hành động
đó trẻ có thể đặt cho mình mục đích ghi nhớ và bắt đầu cho mình những
phương thức để ghi nhớ .
4- Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học
Mỗi giai đoạn phát triển tâm lí của trẻ được đặc trưng bởi một dạng hoạt động
10
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Tri giác của học sinh tiểu học còn gắn liền với tổng thể của sự vật mà không đi
sâu vào các chi tiết, các thành phần của sự vật đối tượng.
Tri giác của học sinh còn gắn liền với hoạt động vật chất nghĩa là tri giác sự
vật, phải làm gì với sự vật đó.
Tính cảm xúc cao thể hiện khi tri giác nghĩa là những sự vật, hiện tượng gây ra
cảm xúc thì học sinh tri giác nhanh hơn. Do vậy khi thiết kế bài giảng cho học
sinh cần đảm bảo tính mỹ thuật, trình bày khoa học là một trong những điều
kiện để học sinh tri giác nội dung bài tốt hơn.
Các loại tri giác được hình thành và phát triển từ lớp 1- 5 . Học sinh ở các cấp
học này khó tri giác những vật có kích thước quá lớn hoặc quá bé, khó phân
biệt được thời điểm và thời gian.
4.3- trí nhớ của học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học ghi nhớ máy móc rất tốt. Đặc điểm này thấy rõ ở học sinh
lớp 1 lớp 2. Nghĩa là học sinh lập đi lập lại tài liệu để ghi nhớ nhưng không hiểu
được nội dung của bài. Nguyên nhân là do:
+ học sinh chưa ý thức được ghi nhớ tài liệu để làm gì
+ ngôn ngữ còn hạn chế nên nhớ chính xác từng câu, từng chữ trong sgk dễ hơn
bằng ngôn ngữ của mình.
Một biện pháp để khắc phục hạn chế nêu trên là hình thành cho học sinh tiểu
học ghi nhớ logic. Học sinh không chỉ ghi nhớ được tài liệu mà còn hiểu được
nội dung của tài liệu. Trí nhớ trực quan của hình ảnh phát triển hưn trí nhớ từ
ngữ rất nhiều .
Các hình ảnh động được xây dựng trên giáo án điện tử nếu vừa đảm bảo được
nội dung của tài liệu vừa hình thành cho hoc sinh cách ghi nhớ logic sẽ giúp
học sinh dễ tiếp thu tài liệu và ghi nhớ lâu hơn.
lực tư duy.
ở học sinh tiểu học có 2 loại tư duy:
+tư duy kinh nghiệm, tư duy cụ thể: đó là loại tư duy hướng vào giải quyết
các nhiệm vụ cụ thể bằng các thao tác bằng tay hoặc phản ánh các thuộc tính
trung bề ngoài của các đối tượng
+ tư duy trừu tượng, tư duy lí luận: đó là loại tư duy hướng vào giải quyết các
nhiệm vụ lí luận, bằng cách sử dụng các khái niệm các kết cấu lôgic, được thay
thế bằng các ngôn ngữ kí hiệu.
Giai đoạn này thì tư duy kinh nghiệm, tư duy cụ thể vẫn chiếm ưu thế.Còn tư
duy trừu tượng, tư duy lí luận mới bắt đầu được hình thành. Do vậy giáo viên
có nhiệm vụ hình thành và phát triển tư duy trừu tượng nhưng phải dựa vào tư
duy cụ thể và được tiến hành như sau:
- Giáo viên nêu nhiệm vụ nhân thức và sử dụng các phương tiện trực quan vật
thật hoặc các hình ảnh của vật thật trên máy tính
- Tổ chức cho học sinh các hoạt động với vật thật hoặc các hình ảnh về vật
thật như thao tác trên que tính, quan sát các mô hình được trình chiếu.
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
12
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
- Giáo viên thay thế vật thật hoặc hình ảnh thật ằng sơ đồ kí hiệu. Tổ chức
cho hóc sinh bằng hình ảnh động với sơ đồ kí hiệu để tiếp thu khái niệm.
Đó cũng chính là quá trình hình thành và phat triển tư duy tưởng tượng .
*Đặc điểm các thao tác tư duy:
+ Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể bằng tính thuận
nghịch. Nhờ đó học sinh nhân thức được cái không thay đổi khi biến đổi xuôi
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
định. Những khó khăn liên quan đến việc giảm sút hứng thú học tập của học
sinh vào khoảng tháng3,4 của năm học.
Biểu hiện của nó là một số học sinh đầu năm học rất hứng thú học tập, rất chăm
chỉ gương mẫu tực hiện đầy đủ những yêu cầu của giáo viên. Nhưng sau vài
tháng học tập hứng thú của trẻ giảm sút, trẻ thờ ơ với những bài học, uể oải và
chểnh mảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập. Nguyên nhân chủ yếu
là do quá trình dạy của giáo viên không khơi gợi, kích thích trí tò mò, sự ham
học hỏi, hiểu biết củ học sinh. Phần nhiều nguyên nhân này nằm trong chính
nội dung phương thức giảng dạy của giáo viên. Nhiều công trình nghiên cứu
tâm lí dạy học đã cho thấy cách dạy học áp đặt, truyền thụ những tri thức đã có
sẵn quá dễ so với những năng lực phát triển của học sinh, cũng như cách giao
tiếp thiếu nhân ái căng thẳng đã gây nên tình trạng trên.
5- Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
ở thời kỳ đầu của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở chưa có kỹ năng cơ bản để
tổ chức tự học. Các em chỉ tự học khi được giao bài tập, sau khi chuyển sang
mức độ cao hơn các em bắt đầu hình thành mức độ họ tập cao nhất.
thái độ học tập của học sinh THCS cũng rất khác nhau được biểu hiện như sau:
+ trong phương thức lĩnh hội tài liệu học tập :từ chỗ có kỹ năng học tập độc lập
có nhiều cách học đến mức hoàn toàn chưa có kỹ năng học tập độc lập. Chỉ biết
học thuộc lòng từng câu từng chữ.
+trong hứng thú học tập : từ hứng thú biểu hiệm rõ rệt đối với một lĩnh vực tri
thức nào đó cho đến mức độ hoàn toàn không có hứng thú nhận thức học tập.
+ trong thái độ học tập : từ thái độ tích cực đến thái độ thờ ơ lười biếng
+ trong sự hiểu biết trung : từ mức độ phát triẻn cao và sự ham hiểu biét nhiều
lĩnh vực tri thức khác nhau ở một số em. Nhưng ở một số em khác thì mức độ
phát triển rất yếu, tầm hiểu biết còn hạn chế.
Nếu trước đây các em học sinh tiểu học thường cố gắng ghi nhớ từng chữ,
từng bài thì bây giờ các em HSTHCS thường phản đối yêu cầy của giáo viên là
bắt thuộc lòng và có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình. Do
vậy người giáo viên phải:
+Dạy cho học sinh phươnh pháp pháp đúng đắn của việc ghi nhớ logic kỹ năng
biết phân đoạn theo ý nghĩa. Biết tách ra các ý làm điểm tựa để nhớ, biết ôn tập
lập dàn bài để ghi nhớ.
+Cần giải thích cho các em sự cần thiết phải ghi nhớ chính xác những định
nghĩa, những qui luật. Phải làm cho các em thấy nếu ghi nhớ thiếu một từ nào
đó thì ý nghĩa của nó không còn chính xác nữa.
+Rèn luyện cho các em kỹ năng trình bày chính xac nội dung bài học theo cách
diễn đạt của mình.
+Khi tổ chức quá trình ghi nhớ, học sinh THCS thường kiểm tra hiệu quả ghi
nhớ bằng sự nhận lại. Nhưng hiệu quả ghi nhớ không phảiđo bằng sự nhận lại
mà bằng sự tái hiện. Vì vậy kiểm tra ghi nhớ phải bằng sự tái hiện thì mới biết
hiệu quả của ghi nhớ.
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
15
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
+ Một đặc điểm quan trọng của ghi nhớ học sinh THCS là sự thiết lập các mối
liên tưởng phức tạp hơn. Gắn tài liệu mới với tài liệu cũ, đưa tài liệu cũ vào hệ
thống. Được phát triển từ mức độ hình thành mối liên tưởng bên trong bộ môn
sang mối liên tưởng giữa các môn học. Giúp học sinh thấy được mối liên hệ
giữa các tri thức
của các môn học khác nhau. Hiểu biết về cái chung, sự thống nhất tri thức của
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
điểm của tư duy trực quan hình tượng của lứa tuổi này sẽ dẫn đến tình trạng khi
phân tích những dấu hiệu bản chất của đối tượng mà không có biểu tượng trực
quan về đối tượng, làm cho việc hiểu các dấu hiệu bản chất trừu tượng này một
cách hình thức.
ý nghĩa của thành phần hình tượng cụ thể là ở chổtong nhiều trường hợp tác
động của những ấn tượng trực tiếp cảm tính mạnh mẽ hơn tác động của từ ngữ.
Kết quả là sẽ thu hẹp hay mở rộng không đúng một khái niệm nào đó. Vì vậy
nếu chỉ dừng ở mức độ tư duy trực quan- hình tượng mà không quan tâm đến sự
phát triển tư duy trừu tượng cho các em là một sai lầm nghiêm trọng. Bởi vì nếu
các em không phát triển tư duy trừu tượng thì không thể nào lĩnh hội được các
khái niệm khoa học trong chương trình học tập của các em. Do vậy giáo án điện
tử phải đáp ứng được nhu cầu trên, phải đảm bảo phát triển tư duy trừu tượng
cho các em.
6- Tâm lý lứa tuổi học sinh THPT
Khi xét nhiều yếu tố tác động hình thành các đặc điểm phát triển ở lứa tuổi
này, xuất phát từ những trường phái khác nhau, có nhiều lý luận khác nhau về
lứa tuổi thanh niên.
- Quan niệm sinh vật học coi yếu tố đầu tiên xác định tuổi thanh niên là sự
tiến hoá của cơ thể, các quá trình sinh vật của sự trưởng thành quyết định tất
cả mọi cái khác.
- Các lý luận tâm lý học tập trung xem xét những qui luật tiến hoá của tâm
lý, của ý thức là cái cơ bản quyết định sự phát triển.
- Các nhà phân tâm học quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của tính dục
và sự chi phối của nó đối với sự phát triển của lứa tuổi này.
- Các nhà xã hội học lại chú ý trước hết đến tinh xã hội hoá của giai đoạn
phát triển này và coi mức độ xã hội hoá của mỗi cá thể là tiêu chí chủ yếu
khi thiết kế giáo án điện tử chúng ta cần tạo cảm hứng học tập các môn học
này.Giúp các em hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo dục phổ thông đối
với mỗi môn giáo dục chuyên ngành.
6.2. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Do sự hoàn thiện về cấu tạo vá chức năng của hệ thần kinh trung ương và các
giác quan, do sự tích lũy phong phú kinh nghiệm sống và tri thức, do yêu cầu
ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động xã hội, nhận thức cảm tính của
học sinhTHPT có những nét mới về chất.
a.Tri giác của học sinh THPT.
Tri giác có mục đích đã đạt được mức độ rất cao, quan sát trở nên có mục
đích, có hệ thống và hoàn thiện hơn. Ngưỡng tuyệt đối và ngưỡng sai biệt của
những cảm giác nghe, nhìn, vận độngphát triển cao, năng lực cảm thụ hội
họa, âm nhạc thể thaophát triển mạnh.
Đặc điểm nổi bật cuă sự phát triển cảm giác, tri giác của học sinh THPT là
tính có ý thức, có mục đích, có hệ thống biểu hiện rõ rệt trong quá trình học
tập cũng như trong mọi hoạt động khác.
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
18
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Do sự nhạy cảm của óc quan sát, học sinh THPT dễ phát hiện những đặc điểm
của sự vật, hiện tượng cũng như con người(cố tật của ai đó, cái riềng cá nhân
vật và bắt trước rất giống ). Điều này làm cho sắc thái của lứa tuổi thể hiện rất
rõ ở tính dí dỏm tinh nghịch, hài hước.
b. Ghi nhớ của học sinh THPT.
Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Ghi nhớ ý
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
quyết định trực tiếp là do nội dung, phương thức, phương pháp dạy học nhằm
phát triển tối đa năng lực trí tuệ của học sinh.
Tóm lại, sự phát triển trí tuệ của học sinh THPT đã đạt ở mức cao và đang
được hoàn thiện dần trong quá trình học tập. Càng lên các lớp cuối cấp năng lực
trí tuệ càng phát triển. Chính vì vậy, khi soạn giáo án điện tử chúng ta phải hết
sức chú ý để tạo cơ hội cho học sinh phát triển tư duy độc lập, tư duy khái quát
hoá, tư duy sáng tạo chuẩn bị cho việc học lên cao, học nghề và vào đời của các
em.
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
20
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Chương 2
Nâng cao chất lượng giảng dạy bằng giáo án điện tử
1. Xu thế đổi mới phương pháp dạy học:
Hiện nay trong điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật mạnh mẽ, bên
cạnh phương pháp dạy học truyền thống. Người ta đã nghiên cứu tìm tòi các
phương pháp dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Các
phương pháp dạy học mới được xây dựng theo ba hướng chủ yếu sau:
1) Các phương pháp dựa trên những thành tựu của tâm lý học và lý luận dạy
Trường ĐHSPHN2
phép mở rang khả năng biểu diễn thông tin, nâng cao việc trực quan hoá tài liệu
dạy học.
Khả năng giải quyết trong một khối thống nhất các quá trình thông tin,
giao lưu và điều khiển trong dạy học: Dưới góc độ điều khiể học thì quá trình
dạy học là một quá trình điều khiển nhận thức của học sinh. Với một chương
trình phù hợp máy tính có thể điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh
trong việc cung cấp thông tin, thu nhận thông tin ngược, xử lý thông tin và đưa
ra các giảI pháp cần thiết giúp hoạt động nhận thức của học sinh đật kết quả
cao.
Tính lặp lại trong dạy học: Khác với giáo viên, máy tính có thể lưu trữ một
thông tin nào đó, cung cấp và lặp lại nó đến mức đạt được mục đích sư phạm
cần thiết. Trên cơ sở này sự phát triển của tong cá thể học sinh trong quá trình
dạy học trở thành hiện thực. Điều đó tạo điều kiện thuật lợi cho việc cá thể hoá
trong quá trình dạy học.
Khả năng mô hình hoá các đối tượng: Đây chính là khả năng lớn nhất của
máy tính. Nó có thể mô hình hoá các đối tượng, xây dung các phương án khác
nhau so sánh chúng từ đótạo ra phương án tối ưu. Thật vậy có nhiều vấn đề,
hiện tượng không thể truyền tải được bởi các mô hình thông thường, ví như các
quá trình xả ra trong lò phản ứng hạt nhân, hiện tượng diễn ra trong xylanh,của
động cơ đốt trong, từ trường quay trong động cơ không đồng bộ ba pha, chuyể
động điện tử xung quanh hạt nhântrong khi đó máy tính có thể hoàn toàn mô
phỏng chúng.
Khả năng lưu chữ và khả năng thông tin: Với bộ nhớ ngoài có dung lượng
như hiện nay, máy tính có thểlưu chữ một lượng lớn dữ liệu. Điều này cho phép
thành lập ngân hàng lớn dữ liệu. Các máy tính có thể nối với nhau tạo thành các
mạng cục bộ hay kết nối mạng thông tin toàn cầu Iternet. Đó chính là những
tiền đề giúp giáo viên và học sinh dễ dàng chia sẻ và khai thác thông tin cũng
như sử lí chúng có hiệu quả.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể hỗ trẻ nhiều
logic làm cho bài học có tính hệ thống.
Cho phép kết nối một trang Web, một File bất kỳ trong tệp dữ liệu để tìm
kiếm trong tin bổ xung. Để minh hoạ làm giầu kiến thức, đồng thời để
xây dựng nhiệm vụ hướng dẫn học sinh tự học.
Cho phép tạo một trình diễn các hình ảnh, ký tự tiếp nối liên tục theo
những hiệu ứng khác nhau để tạo thành trang viết động. Nhờ vậy, có thể
biểu hiện sinh động các hiện tượng, các quá trình. Đặc biệt là, nguyên lý
hoạt động của các chi tiếp kỹ thuật như: bơm dầu, bơm tăng tốc Sử
dụng Power point song song với tiến trình dạy học một cách thích hợp.
Cho phép phóng to, thu nhỏ các hình ảnh, kết hợp các hình ảnh một cách
thích hợp. Phục vụ cho ý tưởng dạy học của giáo viên trong quá trình
giảng dạy.
Cho phép kết nối các phần mềm dạy học khác có hữu ích nhiều trong dạy
học kỹ thuật. Hiện nay có rất nhiều phần mềm cho khả năng kết nối.
Nguyễn Thị Toàn Lớp K29E - SPKT
23
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Có thể đặt câu hỏi, công bố câu trả lời, đặt nhiệm vụ cho học sinh, kèm
với sử dụng tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu thuận lợi cho giáo
viên. Đặc biệt còn mô tả sinh động nguyên lý hoạt động theo đúng thực
tế của đối tượng. Nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho
học sinh.
Chính vì những ưu điêm trên đây của phần mềm Power Point, mà luận văn
lựa chọn ứng dụng của phần mềm này và kết hợp với những nghjiên cứ về tâm lí
Luận văn tốt nghiệp
Trường ĐHSPHN2
Bước 9 : In các nội dung liên quan tới bài giảng
Bước 10 : Trình diễn thử và sửa đổi
2.2-Nâng cao chất lượng, hiệu quả khi thiết kế và sử dụng bài dạy bằng
PowerPoint
2.2.1. Yêu cầu chung
- Thiết kế bài dạy bằng PowerPoint phải dựa trên lý luận dạy học hiện đại và
đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh. Do vậy, PowerPoint chỉ là phần mềm có tính
chất hỗ trẻ cho giáo viên thể hiện ý tưởng sư phạm của mình một cách thuận lợi
và hiệu quả hơn.
- Cấu trúc bài dạy phải chặt chẽ, logic. Thông tin ngắn gọn, cô đọng, được
bố trí và trình bày một cách khoa học phù hợp với tiến trình lên lớp
- Thể hiện đồng bộ và hợp lý các đối tượng đa phương tiện để hỗ trẻ các hoạt
động nhận thức
- Bài dạy cần khuyến khích sự trao đổi giữa giáo viên và học sinh; tăng
cường trao đổi, hợp tác giữa các học sinh; khích lệ tư duy, hoạt động độc lập
sáng tạo
- Nội dung bài dạy phải cuốn hút, đảm bảo học sinh tập trung vào nội dung,
logic của kiến thức
- Sử dụng bài dạy đúng kế hoạch, tiến trình với tư thế, cử chỉ, điệu bộ, giọng
nói, ánh mắt của giáo viên hợp lý
2.2.2.Thiết kế nội dung bài dạy
a) Cấu trúc thể hiện nội dung bài dạy
Thực tiễn cho thấy, ý tưởng và con đường thể hiên ý tưởng là những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng bài giảng điện tử. Về cấu trúc thể hiện ý
tưởng, có thể thực hiện theo một trong hai cách tiếp cận sau:
- Cấu trúc bài trình bày phải thể hiện rõ ràng,logic
- Đảm bảo thể hiện rõ vị trí của nội dung đang trình bày trong toàn bộ cấu