Nghiên cứu khoa học " THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT CÂY THÂN GỖ TRÊN HỆ SINH THÁI GÒ ĐỒI THUỘC HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH " - Pdf 14


Nghiên cứu khoa học

THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT
CÂY THÂN GỖ TRÊN HỆ SINH
THÁI GÒ ĐỒI THUỘC HUYỆN CỦ
CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

thông giao lưu với các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ.
Củ Chi có tọa độ địa lý từ 10
o
53’00” đến 10
o
10’00” vĩ độ Bắc và từ 106
o
22’00” đến 106
o
40’00”
kinh độ Đông, gồm 20 xã và một thị trấn với 43.450,2ha diện tích tự nhiên, bằng 20,74% diện
tích toàn thành phố.
Việc đánh giá nguồn tài nguyên thiên nhiên của một trong số những khu rừng còn sót lại ở khu
vực Đông Nam Bộ này có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ về mặt môi trường mà còn có ý
nghĩa nhân văn. Bài báo này nhằm cung cấp bước đầu những thông tin về thành phần loài cây
thân gỗ trên hệ sinh thái gò đồi thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh làm cơ sở cho việc
phát triển chúng trong tương lai.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tổng quan tư liệu
Tập hợp, phân tích, kế thừa các công trình khoa học, các kết quả khảo sát đánh giá nhanh, các tư
liệu khoa học đã có để tổng hợp thông tin, định hướng cho nội dung khảo sát và nghiên cứu.
Ngoài thực địa
Điều tra, khảo sát và thu thập mẫu vùng nghiên cứu theo những qui định truyền thống. Mẫu thu
được gắn nhãn mang các thông tin như: địa điểm lấy mẫu, thời gian lấy mẫu, tên hoặc nhóm
người lấy mẫu, sinh cảnh lấy mẫu và đặc biệt là các đặc điểm không lưu lại được trên mẫu khi
mẫu bị sấy khô, ngâm tẩm.
Mẫu thu phải được xử lý sơ bộ ngoài thực địa bằng cồn với nồng độ 55-60
o
để tránh hư hỏng
mẫu, các mẫu này được bảo quản trong túi nilon kín.

Độ chia
cắt ngang
km/km
2

Độ dốc
sườn (độ)
Đồng
bằng
< 10
- Thấp < 10

- Cao 10-40m
- Bằng
phẳng
- Lượng
sóng
nghiên
- Rất yếu

- Yếu 10m

- Rất yếu

- Yếu 0,5
- < 3
0- Sườn thoải

Núi
150m
- Thấp <1000
m
- Trung bình
1000-2000m
Khối
dày
Rất mạnh
700
Rất mạnh
- Với sườn
rất dốc 30
0
-
40
0
- Với vách
dốc >40
0Trong phạm vi vùng gò đồi huyện Củ Chi, chúng tôi quan niệm gò đồi là những vùng đất cao xen
với đồng bằng có độ cao từ 10-200m so với mặt biển. Về hình thái ngoài, đó là những vùng đất
cao lúp xúp, có độ cao gần bằng nhau, đỉnh thường bằng phẳng, ở chân là các thung lũng - các
thung lũng đó hiện nay đã được khai phá biến thành ruộng lúa hay đất trồng màu.
Thành phần loài thực vật
Qua kết quả điều tra, khảo sát vùng nghiên cứu chúng tôi đã thu ghi nhận được 117 loài thuộc 85
chi, 40 họ, 23 bộ nằm trong duy nhất một ngành là ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta). Sự đa dạng
về thành phần loài được thể hiện qua bảng 2:


Từ kết quả trên có thể nêu ra một số nhận xét cơ bản về hệ thực vật vùng Củ Chi như sau:
 Hệ thực vật vùng Củ Chi có số lượng loài, chi, họ tương đối phong phú và đa dạng, với
117 loài, 85 chi thuộc 40 họ thực vật có mạch.
 Trong số 23 bộ thì bộ Euphorbiales (Thầu dầu) có số lượng loài cao nhất (16 loài) chiếm
15,7 % trong tổng số 117 loài thực vật vùng nghiên cứu. Điều đó thể hiện lớp thảm thực
vật ở đây đã bị tác động rất nhiều.
 Đáng chú ý là tất cả các bộ, họ, chi, loài vùng nghiên cứu đều thuộc lớp Ngọc Lan
(Magnoliopsida) của ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta).
Mặc dù bị tàn phá do chiến tranh và tình trạng khai thác kiệt của yếu tố con người, nhưng hệ thực
vật vùng nghiên cứu vẫn tồn tại các đại diện đặc trưng cấu thành nên thảm thực vật tiêu biểu cho
hệ sinh thái gò đồi nhiệt đới này
Bảng 3. Những loài đặc trưng của vùng nghiên cứu
Stt Tên khoa học Tên địa phương
1
2
3
4
Uvaria rufa Blume
Cinnamomum curvifolium (Lour.) Nees
Ficus racemosa L.
Ficus hirta var. roxburghii (Miq.) King.
Bồ quả hoe
Quế ôdước
Sung
Ngái lông dày
5
6
7
8

Dầu con rái
Dầu trà beng
Vên vên
Thành ngạnh nam
Thị lắc
Cò ke
Cui
Lòng mán Sài gòn
Cù đề Chevalieri
Tai nghé
Gõ mật
Xây
Thiết đinh lá bẹ
Bình linh

Tính đặc thù của hệ thực vật Củ Chi được đặc trưng bởi các loài thực vật tiêu biểu cho hệ sinh
thái gò đồi nhiệt đới, ngoài 20 loài tiêu biểu (ở bảng 3) còn có các loài thực vật khác tạo nên thảm
thực vật rừng. Trong số 40 họ thực vật vùng nghiên cứu, có 5 họ nhiều loài nhất, đó là: họ
Rubiaceae (họ Cà phê) có 6 loài, Myrtaceae (họ Sim) có 7 loài, Dipterocarpaceae (họ Dầu) có 7
loài, Moraceae (họ Dâu tằm) có 8 loài, Euphorbiaceae (họ Thầu dầu) có 15 loài.
Dạng sống và giá trị sử dụng của thực vật
Về dạng sống, căn cứ vào thang đánh giá của Raunkauer (1943), và được áp dụng vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam “Cây thân gỗ: là cây sống nhiều năm, có thân sinh trưởng thứ cấp, hóa gỗ,
thân chính phát triển mạnh, trên thân chính phân cành bên và chồi mang vòm lá, Võ Văn Chi,
2003” cũng như theo mục đích của đề tài, chúng tôi chia dạng sống hệ thực vật vùng nghiên cứu
ra làm những dạng chính như sau: cây gỗ lớn (≥25m), cây gỗ vừa (15m-25m), cây gỗ nhỏ (≤15m)
và cây bụi. Trong đó, gỗ lớn có 21 loài (chiếm 17,95 %), gỗ vừa có 27 loài (23,08 %), gỗ nhỏ có
55 loài (47,01%) và cây bụi có 14 loài (11,96%). Như vậy, thành phần thực vật quan trọng vùng
nghiên cứu là dạng cây gỗ nhỏ, chúng tạo thành thảm thực vật có giá trị về mặt khoa học và thực
tiễn ở hiện tại cũng như trong tương lai trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi

hóa và đô thị hóa của thành phố nhưng khu vực nghiên cứu có độ đa dạng sinh học thực vật khá
cao (với 117 loài). Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, bảo vệ
môi trường và phục vụ du lịch sinh thái.
Trong khu vực khảo sát, chúng tôi nhận thấy phần lớn rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở hai xã là
Phú Mỹ Hưng và Nhuận Đức, các xã còn lại hầu như không còn rừng tự nhiên mà thay vào đó là
các rừng trồng với những loài cây như Keo, Sao, Dầu, Vên vên,… và một số loài cây hoa màu
khác.
KẾT LUẬN
Thành phần loài thực vật cây thân gỗ huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận được
117 loài, 85 chi, 40 họ thuộc 23 bộ của một ngành thực vật Magnoliophyta (ngành Ngọc lan).
Các họ thực vật có nhiều loài nhất gồm: họ Cà phê (Rubiaceae, 6 loài), họ Sim (Myrtaceae, 7
loài), họ Dầu (Dipterocarpaceae, 7 loài), họ Dâu tằm (Moraceae, 8 loài) và họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae, 15 loài).
Dạng sống của hệ thực vật được chia làm những dạng chính như sau: cây gỗ lớn có 21 loài
(chiếm 17,95 %), gỗ vừa có 27 loài (23,08 %), gỗ nhỏ có 55 loài (47,01 %) và cây bụi có 14 loài
(11,96 %) trong tổng số 117 loài thực vật vùng nghiên cứu.
Có 92 loài loài thực vật có công dụng, trong đó làm thuốc 42 loài, cho gỗ 37 loài, làm cảnh 6
loài, ăn quả 3 loài, gia dụng 3 loài và làm rau 1 loài.
Xác định được 13 loài có giá trị bảo tồn theo tiêu chuẩn Việt Nam (Sách đỏ Việt Nam, 2007) và
thế giới (IUCN, 2007).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Tiến Bân, 1997. Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam. Nhà
xuất bản Nông nghiệp.
Võ Văn Chi, 2003 – 2004. Từ điển thực vật thông dụng, tập 1 & 2. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ
thuật.
Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000. Cây cỏ Việt Nam. Quyển I, II, III.
Trần Hợp. Cây xanh và cây cảnh TP. Hồ Chí Minh.
Trần Đình Lý, 2006. Bộ sách chuyên khảo Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường - Hệ sinh thái
gò đồi các tỉnh Bắc Trung Bộ. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội.
Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997. Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật. Nhà xuất bản Nông nghiệp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status