Vụ Công tác địa phơng-Bộ KHCN
Báo cáo tổng kết đề tài:
Nghiên cứu khoa học và điều kiện thực tiễn
để hình thành khu công nghệ cấp vùng
và trung tâm đào tạo nghề trình độ cao
tại Vình Phúc, phục vụ các tỉnh Đồng bằng sông Hồng
Cnđt: Nguyễn Sơn Lộ
8060
Hà nội 2010
I. NHU CẦU HÌNH THÀNH KHU CÔNG NGHỆ CẤP VÙNG VÀ TRUNG
TÂM ĐÀO TẠO NGHỀ TRÌNH ĐỘ CAO 54
1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến
năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 54
2. Quy hoạch phát triển công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm đến năm 2015, có
xét đến năm 2020 55
3. Nhu cầu hình thành khu công nghệ cấp Vùng 57
4. Nhu cầu hình thành trung tâm đào tạo nghề trình độ cao 60
II. CÁC ĐIỀU KIỆN THỰC TẾ VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, MÔI
TRƯỜNG CHO VIỆC HÌNH THÀNH KHU CÔNG NGHỆ CẤP VÙNG VÀ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO NGHỀ TRÌNH ĐỘ CAO TẠI VĨNH PHÚC 66
1. Thông tin chung về tỉnh Vĩnh Phúc. 66
2. Những đặc điểm tự nhiên vầ xã hội 66
3. Những lợi thế về đầu tư. 67
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
2
III. HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI 71
1. Về phát triển kinh tế: 71
2. Về khía cạnh môi trường 72
3. Về khía cạnh xã hội 72
IV. Sự khác nhau giữa Khu công nghệ Vùng và khu công nghệ cao Hòa Lạc 73
1. Khu công nghệ cao Láng Hòa Lạc 73
2. Sự khác nhau giữa Khu CNC Hòa Lạc và Khu CNV Vĩnh Phúc…………… 77
CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT 79
I. XÂY DỰNG BẢN ĐẠC HIỆN TRẠNG PHỤC VỤ LẬP QUY HOẠCH
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
3
KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT
KH&CN Khoa học và công nghệ
KTTĐ Kinh tế trọng điểm
KT-XH Kinh tế - xã hội
KCN Khu Công nghệ
TTDTN Trung tâm đào tạo nghề
UBND Ủy ban nhân dân
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
SMES Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CHLB Cộng hoà liên bang
WTO Tổ chức thương mại thế giới
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
NGO Tổ chức phi chính phủ
CNSH Công nghệ sinh học
BQL Ban Quản lý
CNV Công nghệ vùng
động, công nghệ hiện đại.
6. Trung tâm đào tạo nghề trình độ cao phải là nơi thực hiện nhiệm vụ giáo dục nghề
nghiệp theo hướng chuẩn bị đội ngũ lao động kỹ thuật mới trong một xã hội dựa trên nền
kinh tế tri thức.
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
5
PHẦN THỨ NHẤT
GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lời nói đầu
Cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển với nhịp điệu siêu tốc,
những thành tựu thuộc mọi ngành khoa học và công nghệ mang tính mới mẻ, khôn lường
và đột phá xuất hiện hằng ngày có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của đời sống con
người. Xã hội loài người đang ở thời kì chuyển hoá từ văn minh công nghiệ
p sang thời đại
thông tin, từ nền kinh tế dựa vào nguồn lực tự nhiên sang kinh tế dựa vào tri thức; nhiều
nước có những điều kiện khắc nghiệt về tự nhiên, nghèo nàn về khoáng sản, cũng bị tàn
phá trong chiến tranh như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc lại trở thành những nước phát triển
vào loại hàng đầu thế giới nhờ vào khoa học và công nghệ. Khoa học và công nghệ thực
sự
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu. Quốc gia nào có khoa học và công
nghệ mạnh thì quốc gia đó mạnh và ngược lại.
Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu. Sức
mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN. Lợi thế về nguồn tài
nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn. Vai trò c
ủa
nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo, ngày càng có ý nghĩa quyết
thế nào để hạn chế những thua thiệt trong
quá trình cạnh tranh quốc tế, nâng cao tiềm lực về khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn
nhân lực có trình độ cao, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề nhằm rút ngắn thời gian và thu
hẹp khoảng cách với các nước trong khu vực; thực hiện được mục tiêu chiến lược đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang đứng trước thách thức to lớn
là phải nâng cao nhanh chóng năng lực khoa học và công nghệ để thực hiện quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện một đất nước nghèo, vốn đầu tư hạn hẹp,
trình độ phát triển kinh tế và khoa học - công nghệ còn có khoảng cách khá xa so với các
nước trong khu vực và thế giới; nguồn tài nguyên thiên nhiên (ngay cả nguồn này c
ũng
đứng trước nguy cơ cạn kiệt) và giá nhân công rẻ không còn là thế mạnh một khi sự phát
triển của kinh tế tri thức, của nguyên liệu sạch và của công nghệ thân thiện với môi
trường đang là xu thế thế giới trong thập kỉ đầu tiên của thế kỉ XXI. Tuy nhiên, đường lối
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, những thành tựu đáng ghi nhận của kinh tế,
khoa học và công ngh
ệ trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
nguồn đầu tư từ nhiều nguồn ngày một dồi dào do chính sách đầu tư cởi mở, tiềm lực trí
tuệ của những người làm khoa học - công nghệ và đội ngũ công nhân kĩ thuật chính là
cơ hội cho công cuộc hội nhập này.
Ý thức được trình độ khoa học và công nghệ của nước ta nhìn chung còn thấp so vớ
i
các nước trong khu vực, chưa nói đến các nước phát triển trên thế giới, năng lực sáng tạo
công nghệ mới còn nhiều hạn chế, nguy cơ tụt hậu là rõ ràng; trong các văn kiện của
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
7
Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ quan điểm phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước;
hướng tập trung phát triển công nghệ và giao cho các Bộ, ngành và địa phương nghiên
cứu, trình Chính phủ về việc “ (i) Tổ chức và sớm đưa vào hoạt động các khu công nghệ
cấp tỉnh, cấp vùng và cấp quốc gia (còn gọi là các khu sinh dưỡng công nghệ, khu ươm
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
8
tạo doanh nghiệp, khu nông nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ cao ) trở thành trụ cột
của hệ thống hạ tầng kĩ thuật khoa học và công nghệ trực tiếp sản xuất và (ii) Xây dựng
chương trình đào tạo công nhân kĩ thuật có tay nghề cao và hệ thống các trường, trung
tâm đào tạo cán bộ công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển các khu công nghiệp, khu công
nghệ trong vùng”. Trong đó khu công nghệ được xem như là một dạng môi trường KHCN
trực tiếp sản xuất cụ thể, được xây dựng theo mô hình “đặc khu” bằng các nguồn lực xã
hội với sự hỗ trợ của Nhà nước.
Đây là một đề tài nghiên cứu có tính đột phá vừa mang tính lí luận vừa có tính thực
tiễn cao và là cơ sở để tiến hành xây dựng một Khu công nghệ và Trung tâm đào tạo nghề
trình độ cao đầu tiên phục vụ các tỉnh Đồng bằng sông Hồng nên không tránh khỏi nh
ững
thiếu sót. Nhóm nghiên cứu hoan nghênh những ý kiến đóng góp để đề tài nghiên cứu
sớm được đưa vào triển khai ứng dụng.
Nhóm nghiên cứu đề tài xin chân thành cảm ơn Bộ Khoa học & Công nghệ, Sở
KH&CN Tỉnh Vĩnh Phúc, các đơn vị phối hợp của các Bộ ban ngành đã đóng góp kinh
nghiệm, kiến thức và giúp đỡ hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
2. Tên đề tài
Nghiên cứu cơ sở khoa hoc và điều kiện th
ực tiễn để hình thành Khu công nghệ cấp
vùng và Trung tâm đào tạo nghề trình độ cao đặt tại tỉnh Vĩnh Phúc, phục vụ các tỉnh
đồng bằng sông Hồng.
3. Chủ nhiệm đề tài:
TS. Nguyễn Sơn Lộ - Chủ nhiệm Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa
học và Công nghệ
ộ công nhân viên có tay nghề cao, có khả năng nắm bắt
được những công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực công nghiệp, rõ ràng phải chú trọng
đặc biệt đến công tác đào tạo. Điều này càng trở nên cấp bách vì cơ cấu đào tạo hiện tại
còn bất hợp lý, hệ thống đào tạo nghề còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi
hỏi có nguồn nhân lực KH&CN chấ
t lượng cao.
Hạ tầng cơ sở KH&CN nói chung và hạ tầng phục vụ công nghệ vùng KTTĐ Bắc
bộ nói riêng còn rất yếu kém. Trang thiết bị của các tổ chức nghiên cứu phát triển rất
thiếu, phần lớn đã lạc hậu, không đồng bộ, nhiều đơn vị còn lạc hậu hơn các cơ sở sản
xuất tiên tiến cùng ngành. Trừ những thiết bị được đầu t
ư mới trong một số lĩnh vực: bưu
chính - viễn thông, dầu khí, xi măng,… còn lại nhìn chung trình độ công nghệ đang tụt
hậu khoảng 2 - 3 thế hệ so với các nước trong khu vực. Các thành tựu của KH&CN phần
lớn không đưa được vào sản xuất, không phát huy được tác dụng trong sản xuất.
Nhận xét về nguồn nhân lực và phân bố nguồn nhân lực cho các ngành sản xuất, có
thể thấy rằng: Vùng đồng bằng sông H
ồng tuy có nguồn nhân lực KH&CN, số lượng cán
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
10
bộ có trình độ chiếm tỷ lệ khá cao so với cả nước (lực lượng lao động có trình độ đại học
chiếm 72,4% so với cả nước, nhưng số này được phân bố không đều cho các lĩnh vực sản
xuất, mà tập trung nhiều ở các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức KH&CN tại
Hà Nội và một số đô thị lớn.
Cơ cấu nguồn nhân lực phân b
ố không đều giữa các vùng, lao động công nghiệp và
dịch vụ tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố có nền kinh tế công nghiệp, dịch vụ phát
triển từ trước như: Hà Nội (tỷ lệ 73,7%); Quảng Ninh (tỷ lệ 45,7%); Hải Phòng (tỷ lệ
45,4%). Trong khi đó các tỉnh khác trong Vùng lại có tỷ lệ lao động tham gia trong ngành
nông lâm thuỷ sản là tương đối lớn như: Hải Dương (tỷ lệ 79,4%); Hưng Yên (tỷ
b. Giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ
Nhằm thực hiện chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, ngày 17 tháng 8 năm 2006,
Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực
hiện kèm theo Quyết định số 191/20006/QĐ-TTg. Trong nội dung của chương trình hành
động này, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo chuyển hướng tập trung phát triển công nghệ
(khoa học công nghệ trực tiếp sản xuất) và giao nhiệm vụ cho “Bộ Khoa học và Công
nghệ: chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương liên quan nghiên cứu, trình
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về:
- Tổ chức xây dựng và sớm đưa vào hoạt động các khu công nghệ cấp tỉnh, cấp vùng
và cấp quốc gia (còn gọi là các "khu sinh dưỡng" công nghiệp, khu ươm tạo công nghệ,
khu ươm tạo doanh nghiệp, khu nông nghiệp công nghệ
cao, khu công nghệ cao ) trở
thành trụ cột của hệ thống hạ tầng kỹ thuật khoa học và công nghệ trực tiếp sản xuất.
- Xây dựng chương trình đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề cao và hệ thống các
trường, trung tâm đào tạo cán bộ công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển các khu công
nghiệp, khu công nghệ trong Vùng”.
Đây là những giải pháp chiến lược quan trọng không những thay đổi về cơ bản phát
triển khoa học và công nghệ mà còn là một biện pháp quan trọng thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra trong khuôn khổ thực hiện các chương
trình, dự án cụ thể nhằm triển khai thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao trong các
Quyết định trên đây.
Trong vùng đồng bằng sông Hồng, tỉnh Vĩnh Phúc có điều kiện thuận lợi về giao
thông, đường bộ, đườ
ng không. Tỉnh cũng nằm gần Thủ đô Hà Nội, là nơi có nguồn nhân
lực có trình độ cao do tập trung nhiều trường Đại học, các trung tâm đào tạo Ngoài ra,
tỉnh Vĩnh Phúc nằm gần hệ thống các khu công nghiệp trọng điểm của Vùng Kinh tế
trọng điểm phía Bắc. Vì thế việc xây dựng hệ thống Khu Công nghệ tại khu vực này sẽ có
nhiều thuận lợi. Đây cũng là lý do t
ại sao trong Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg ngày 13
tháng 8 năm 2004 về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng
phục vụ các tỉnh đồng bằng sông Hồng trên cơ sở đó có thể làm mô hình nhân rộng
cho các khu công nghệ có điều kiện tương tự;
- Đề xuấ
t các chính sách ưu đãi nhằm phát triển mô hình khu công nghệ cấp vùng và
Trung tâm đào tạo nghề trình độ cao.
12. Nội dung, quy mô và địa điểm nghiên cứu của đề tài
a. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Cơ sở khoa học, các khái niệm, các tiêu chí cơ bản của Khu công
nghệ cấp Vùng và Trung tâm đào tạo nghề trình độ cao:
- Cơ sở khoa học, các khái niệm, các tiêu chí cơ bản của Khu công nghệ cấp Vùng;
- Cơ sở khoa h
ọc, các khái niệm, các tiêu chí cơ bản của Trung tâm đào tạo nghề.
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
13
Nội dung 2: Tổng quan kinh nghiệm trong và ngoài nước về các khu công nghệ và
các Trung tâm đào tạo nghề trình độ cao.
- Nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước về việc xây dựng các Khu công
nghệ;
- Nghiên cứu kinh nghiệm trong và ngoài nước về việc xây dựng các Trung tâm đào
tạo nghề.
Nội dung 3: Nhu cầu hình thành khu công nghệ cấp vùng và Trung tâm đào tạo nghề
trình độ cao phục vụ các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng.
- Nhu cầu hình thành Khu công nghệ c
ấp vùng phục vụ Vùng đồng bằng sông Hồng;
- Nhu cầu hình thành Trung tâm đào tạo nghề phục vụ Vùng đồng bằng sông Hồng.
Nội dung 4: Nghiên cứu các điều kiện thực tế về tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi
trường cho việc hình thành khu công nghệ cấp vùng và Trung tâm đào tạo nghề trình độ
cao tại Vĩnh Phúc.
- Nghiên cứu các điều kiện thực tế về tự nhiên, kinh tế - xã hộ
- Quyết định số 145/QĐ-TTg ngày 13 tháng 8 năm 2004 về phương hướng chủ yếu
phát triểnkinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ đến năm 2010 và tầm nhìn
đến năm 2020;
- Quyết định số 191/2006/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2006 c
ủa Thủ tướng Chính
phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết
số 54-NQ/TW ngày 14 tháng 9 năm 2005 của Bộ Chính trị;
- Quyết định số 1313/QĐ-BKHCN ngày 20.5.2005 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và
Công nghệ về việc phê duyệt danh mục các nhiệm vụ KHCN trọng điểm triển khai
thực hiện tại các tỉnh, thành phố năm 2005;
- Công văn số
3877/UBND – TH ngày 22.8.2006 của UBND tỉnhVĩnh Phúc về phối
hợp triển khai thí điểm khu sinh dưỡng công nghệ tại tỉnh Vĩnh Phúc;
- Công văn số 3210 ngày 26.11.2006 của Bộ KH&CN về việc triển khai thực hiện
Quyết định số 123/2006/QĐ-TTg và Quyết định số 191/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ;
- Thông báo số 234-TB/TW ngày 1 tháng 4 năm 2009 của Ban Chấp hành Trung
ương về Kết luận của Bộ Chính trị
về Báo cáo kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị
quyết Trung ương 2 (khoáVIII) về khoa học và công nghệ và nhiệm vụ, giải pháp
phát triểnkhoa học và công nghệ từ nay đên 2020, mục 2 hoạt động khoa học và công
nghệ từ nay đến 2020 cần tập trung những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
15
o Chú trọng tổng kết thực tiễn để bổ sung và phát triển lí luận trong sự nghiệp đổi
mới, dự báo kịp thời tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong
nước, lí giải những vấn đề thực tiễn đặt ra và cung cấp những luận cứ khoa học
cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
o Nhanh chóng nâng cao năng l
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
16
Mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước đến năm 2020
Mục tiêu xây dựng 3 Vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) của cả nước đến năm 2020:
- Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ bao gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng,
Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, Hải Dương và Vĩnh Phúc;
- Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung bao gồm 5 tỉnh, thành phố: Thừa Thiên - Hu
ế,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định;
- Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 8 tỉnh, thành phố: TP. Hồ Chí Minh, Đồng
Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang.
- Ba vùng KTTĐ này (số liệu năm 2005) chiếm 22,3 % diện tích cả nước, với số dân là
34,6 triệu người (41,6 % dân số cả nước), tốc độ tăng trưởng 11,7 % (1,56 lần bình
quân chung cả nước), xuất khẩu đạt 30 tỉ USD (93,2 % kim ng
ạch xuất khẩu cả nước)
Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu về phát triển khoa học và công nghệ
của tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020
Mục tiêu
- Nâng cao năng lực hấp thụ, giải mã, làm chủ công nghệ, đẩy nhanh tốc độ đổi mới
công nghệ trong các ngành, các lĩnh vực then chốt của kinh tế; ưu tiên phát triển có
chọn lọc các ngành công nghiệp, dịch vụ công nghệ
cao; đẩy mạnh việc ứng dụng
chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống, nhất là trong
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xử lí môi trường; phát triển một số sản phẩm công
nghiệp chủ lực và các sản phẩm nông nghiệp chế biến có giá trị, chất lượng và khả
năng cạnh tranh cao trên thị trường.
- Bảo đảm cung cấp luận cứ khoa họ
- Hỗ trợ chuyển giao công nghệ trong một số ngành sản xuất công nghiệp mà tỉnh có lợi
thế, các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, công nghiệp sản xuất hàng
tiêu dùng và xuất khẩu (sản xuất ôtô, xe máy; sản xuát phụ tùng ô tô xe máy; sản xuất
vật liệu xây dựng; sản xuất, lắp ráp điện tử, máy tính; sản xuất dệt sợi, may mặc )
nh
ằm tạo ra các sản phẩm có tiêu chuẩn, chất lượng đảm bảo sức cạnh tranh trên thị
trường trong nước và nước ngoài;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh quốc phòng; xây dựng mạng diện rộng trong toàn tỉnh; xây dựng hệ thống hội
nghị truyền hình từ tỉnh đến các huyện, thành, thị trong tỉnh. Khai thác có hiệu quả hệ
thống thông tin hiệ
n có;
- Nghiên cứu khoa học, kĩ thuật phục vụ an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn tỉnh; ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công tác quản lí hồ sơ, vụ việc,
kĩ thuật hình sự
- Từng bước hiện đại hoá công nghệ trong lĩnh vực thông tin - truyền thông, giao thông
đô thị; nâng cấp, hiện đại hoá thiết bị truyền thanh, truyền hình nhằm nâng cao chất
lượng thu phát sóng; nghiên cứu quy hoạ
ch đô thị, quy hoạch dân cư phù hợp với quá
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
18
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn kết quy hoạch hạ tầng công nghệ thông tin -
truyền thông với quy hoạch giao thông đô thị;
- Thực hiện các dự án về điều tra, đánh giá, lập bản đồ quy hoạch, thăm dò, khai thác và
sử dụng khoáng sản trên địa bàn tỉnh; dự án thăm dò đánh giá trữ lượng, chất lượng các
loại khoáng sản; dự án về quan trắc môi trường, báo cáo hiện tr
ạng môi trường nhằm
phục vụ công tác dự báo, cảnh báo về tài nguyên, môi trường trên địa bàn tỉnh; ứng
dụng tiến bộ khoa học và công nghệ và bảo vệ môi trường trong công tác xử lí ô nhiễm,
Khu Công nghệ và Trung
tâm đào tạo nghề.
Tháng 1/2009 –
tháng 5/2009
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
19
Vùng.
- Cơ sở khoa học, các khái niệm, các
tiêu chí cơ bản của Trung tâm đào tạo
nghề
Nội dung 2: Tổng quan kinh nghiệm
trong và ngoài nước về các khu công
nghệ và các Trung tâm đào tạo nghề
trình độ cao.
- Nghiên cứu kinh nghiệm trong và
ngoài nước về việc xây dựng các Trung
tâm đào tạo nghề
- Nghiên cứu kinh nghiệm trong và
ngoài nước về việc xây dựng các Khu
công nghệ
Đưa ra các ưu, nhược
điểm, bài học kinh nghiệm
của các Khu Công nghệ và
Trung tâm đào tạo nghề
trong và ngoài nước.
Tháng 3/2009 –
tháng 8/2009
Nội dung 3: Nhu cầu hình thành khu
công nghệ cấp vùng và Trung tâm đào
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
20
- Nghiên cứu các điều kiện thực tế về tự
nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường cho
việc hình thành Trung tâm đào tạo nghề
tại Vĩnh Phúc.
- Nghiên cứu các điều kiện thực tế về tự
nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường cho
việc hình thành khu công nghệ cấp vùng
tại Vĩnh Phúc
Nội dung 5: Nghiên cứu xây dựng bản
đạc hiện trạng phục vụ lập quy hoạch
(tỷ lệ 1/5000) Khu Công nghệ và Trung
tâm đào tạo nghề trình độ cao
Bản đạc hiện trạng tỷ lệ
1/5000 phục vụ lập quy
hoạch, thể hiện các cao độ,
bình đồ theo quy định của
Luật Xây dựng
Tháng 2/2009 -
tháng 5/2009
Nội dung 6: Nghiên cứu xây dựng đồ
án quy hoạch tỷ lệ 1/5000 Khu Công
nghệ và Trung tâm đào tạo nghề trình
độ cao
Thiết kế đồ án Quy hoạch
tỷ lệ 1/5000 Khu Công
nghệ và Trung tâm đào tạo
Xây dựng mô hình mới trong đó mối liên hệ giữa KH&CN với sản xuất được tạo
lập một cách hữu cơ, đặc biệt là có sự tham gia của các công nghệ tiên tiến và công nghệ
cao trên thế giới, đồng thời giải quyết đồng bộ các vấn đề cốt yếu khác như khả năng huy
động vốn, đảm bảo cơ s
ở vật chất, kinh phí hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ
gắn liền với hoạt động thị trường, tiêu thụ hàng hóa. Đó là mô hình KHU CÔNG NGHỆ.
Bên cạnh đó, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm tạo điều kiên quan trọng,
tiên quyết để thực thi các giải pháp cho phát triển. Đây là đội ngũ lao động có trình độ chuyên
môn, tay nghề cao để làm chủ công nghệ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Về kinh tế:
Việc nghiên cứu cơ sở khoa học và các điều kiện thực tiễn để hình thành Khu công
nghệ cấp Vùng và trung tâm đào tạo nghề trình độ cao đặt tại tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đáp
ứng nhu cầu tập trung phát triển công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho các
tỉnh trong Vùng, làm động lực cho phát triển kinh tế xã hội của Vùng và làm mô hình
nhân rộng cho các vùng khác trong cả nước. Đây là nhiệm vụ cấp thi
ết hiện nay.
Tạo ra những bước tăng trưởng đột phá toàn diện, tập trung phát triển những ngành
công nghiệp, nông nghiệp mũi nhọn, dịch vụ ứng dụng công nghệ tiên tiến trên thế giới.
Tỷ trọng các ngành có năng suất lao động cao, chứa đựng hàm lượng công nghệ, chất xám
cao ngày càng lớn và tỷ trọng các ngành có năng suất thấp giảm đi trong toàn bộ lao động
xã hội, đánh dấu sự chuy
ển dịch cơ cấu kinh tế bắt đầu đi vào chiều sâu và ngày càng có
chất lượng hơn dẫn đến độ mở của nền kinh tế lớn hơn và mức độ hội nhập kinh tế với
bên ngoài sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra
đồng thời; tỷ trọng của bộ phận kinh tế tư nhân, kinh tế tư
bản nước ngoài sẽ tăng cao; tỷ
trọng kinh tế nhà nước có thể giảm xuống một cách tương đối song vai trò đảm bảo an
toàn cho toàn bộ nền kinh tế vẫn được duy trì. Điều này phản ánh môi trường đầu tư ngày
càng thông thoáng và khuyến khích đầu tư cũng như chuyển giao công nghệ tiên tiến.
Việc hình thành Khu công nghệ cấp Vùng sẽ tạo một môi trường đầu tư mới ứng
khỏe tốt nhất Vấn đề giáo dục được đặt lên hàng đầu nhằm tạo điều kiện cho con em các
gia đình lao động được học hành tốt nhằm tạo nguồn lao động ổn định, có trình độ ngay
t
ừ các bậc tiểu học, trung học cơ sở. Các vấn đề về văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, y
tế, thể dục thể thao được chú trọng nhằm tạo điều kiện phát triển toàn diện cho người lao
động và gia đình của họ cũng như dân cư trong vùng. Có thể nói khoảng cách giàu nghèo
trong khu công nghệ chênh lệch không lớn.
Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học và Công nghệ Trang
23
16. Sản phẩm giao nộp:
16.1. Dạng I
- Báo cáo tổng hợp nghiên cứu cơ sở khoa học và điều kiện để hình thành khu công nghệ
cấp vùng và Trung tâm đào tạo nghề trình độ cao phục vụ các tỉnh vùng đồng bằng
sông Hồng đặt tại Vĩnh Phúc (01 bộ).
- Bản đạc hiện trạng tỷ lệ 1/5000 phục công tác lập quy hoạch khu công nghệ cấp vùng và
Trung tâm đào tạo nghề trình độ
cao (01 bộ).
- Đồ án Quy hoạch tỷ lệ 1/5000 khu công nghệ cấp vùng và Trung tâm đào tạo nghề trình
độ cao (01 bộ).
16.2. Các chuyên đề
- Cơ sở khoa học, các khái niệm và tiêu chí của Khu công nghệ cấp vùng và Trung tâm
đào tạo nghề trình độ cao (01 bộ).
- Tổng quan kinh nghiệm ngoài nước và trong nước về khu công nghệ vùng và Trung tâm
đào tạo nghề trình độ cao (01 bộ).
- Nhu cầu hình thành Khu công nghệ vùng và Trung tâm đào tạo nghề trình độ cao đặt tại
tỉnh Vĩ
chủ nghĩa”. Thành tựu mang tính cách mạng này đã trở thành mốc son nổi bật trên nền 20
năm liên tục đổi mới của nước ta.
Giờ đây, Việt Nam lại đứng trước một thách thức ngày càng to lớn và cấp bách. Đó
là phải sớm có một cuộc đột phá nữa trong phát triển kinh tế-xã hội, trên cơ sở nhanh
chóng phát tri
ển lực lượng sản xuất. Đây cũng là điều Thủ tướng Chính phủ đã khẳng
định trước Quốc hội khóa XI: “Thời kỳ mới đòi hỏi phải phát triển kinh tế - xã hội nhanh
hơn, bền vững hơn”. Nếu không đất nước sẽ khó có cơ may hội nhập bình đẳng với thế
giới, chứ chưa nghĩ đến: “…sánh vai với các cường quốc nă
m châu…”. (Đã có bài báo
tính rằng, nếu cứ như hiện nay thì 197 năm nữa, may mắn GDP của Việt Nam mới bằng
Singapore hiện tại).
Bên cạnh đó, theo đánh giá chung của các tổ chức quốc tế thì so với các nước trong
khu vực, hàng năm chỉ số cạnh tranh của Việt Nam đang giảm dần từ thứ 64 năm 2006
xuống thứ 70 năm 2008 (theo bảng Xếp hạng cạnh tranh toàn cầu – công b
ố quan trọng
của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economics Forum – WEF, được thực hiện hàng
năm). Điều này có nghĩa, theo cách nhìn khách quan bên ngoài, các nước khác vẫn đang
tiếp tục phát triển nhanh hơn, bền vững hơn chúng ta rất nhiều. Như vậy để khẳng định
rằng, muốn vượt khỏi tình trạng tụt hậu, Việt Nam cần có sự đột phá về phát triển kinh tế