113
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 59, 2010 KHÁI QUÁT KIẾN TRÚC VÀ CẤU TẠO ĐẶC TRƯNG
CỦA CÁC ĐÁ MAGMA XÂM NHẬP KHU VỰC THỪA THIÊN HUẾ
Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thị Thuỷ
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Các thành tạo đá magma xâm nhập khu vực Thừa Thiên Huế phong phú và đa dạng về
thành phần thạch học, từ siêu mafic cho đến axit, chúng phân bố thành từng khu vực riêng biệt
với tổng diện tích khoảng 400 km
2
, bao gồm các phức hệ Núi Ngọc, Điệng Bông, Đại Lộc, Quế
Sơn, Chà Vằn, Hải Vân và Bà Nà. Các thành tạo magma xâm nhập này còn đa dạng về đặc
điểm kiến trúc như: kiến trúc granit, khảm, ophit, gabro, nổi ban nền fenzit, pegmatit… Còn cấu
tạo chủ yếu là cấu tạo khối, ngoài ra còn có cấu tạo dòng chảy, á định hướng, vành hoa…
Chính vì vậy, bài báo giới thiệu những dạng kiến trúc và cấu tạo đặc trưng của các thành tạo
magma xâm nhập này nhằm phục vụ cho việc mô tả, nhận biết và tra cứu chúng.
1. Mở đầu
Thạch học nói chung, thạch học các đá magma nói riêng là môn học nghiên cứu
các loại đá dựa vào các đặc điểm về thế nằm, nguồn gốc thành tạo, thành phần hóa học,
thành phần khoáng vật, đặc điểm về kiến trúc và cấu tạo của chúng. Việc nhận biết cũng
như phân loại các đá magma phải dựa vào thành phần hoá học, thành phần khoáng vật
kết hợp với kiến trúc-cấu tạo của đá. Tuy nhiên, việc phân tích thành phần hoá học là
việc làm rất khó và tốn rất nhiều kinh phí. Trong khi đó, việc nhận biết các đá dựa vào
thành phần khoáng vật kết hợp với kiến trúc - cấu tạo có trong đá lại là phương pháp
đb)
Thành tạo magma phức hệ Điệng Bông trong khu vực nghiên cứu chỉ phân bố
trên đới A Vương, là phần nối tiếp thân xâm nhập kéo dài theo phương Tây Bắc- Đông
Nam, xuất hiện trong các trầm tích phun trào bị biến chất hệ tầng Núi Vú ở khu vực A
Lưới (hình 1). Đặc trưng cho phức hệ là tập hợp các thể xâm nhập nhỏ kéo dài theo
phương cấu trúc Tây Bắc- Đông Nam, chiều rộng 1 – 2 m đến 20 m, đôi khi đến 200 m,
chiều dài quan sát được từ 100 – 200 m đến hơn 1 km. Các đá của phức hệ này xuyên khá
chỉnh hợp với các trầm tích phun trào hệ tầng Núi Vú tạo nên đới biến đổi hẹp ở ranh giới
tiếp xúc [2].
2.3. Phức hệ Đại Lộc (G/aD
1
đl)
Phức hệ Đại Lộc do Nguyễn Văn Trang và nnk (1985) xác lập, chúng phân bố ở
phía nam đứt gãy Đakrong – A Lưới, kéo dài không đều theo phương Tây Bắc - Đông
Nam, trùng với phương cấu trúc của đới A Vương, chiều rộng khối thay đổi từ 2 – 3 km,
kéo dài khoảng 15 km. Các đá xuyên cắt khá chỉnh hợp lên các trầm tích lục nguyên hệ
tầng A Vương, đới biến chất tiếp xúc rộng vài trăm mét, có khi hàng kilomet và có tính
phân đới.
Cấu thành nên khối đá này gồm có pha 1 là đá granit biotit dạng gneis hạt vừa
đến lớn, granit–biotit hạt nhỏ, granit biotit có muscovit bị cà ép có dạng dải, tonalit và
pha đá mạch (pha 2) gồm đá pegmatit và granit aplit [2], [5], [6].
2.4. Phức hệ Quế Sơn (Di–GDi–G PZ
3
bg-qs)
Phức hệ Quế Sơn do Nguyễn Văn Trang và nnk (1985) xác lập khi đo vẽ bản đồ
địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1:200.000 nhóm tờ Huế - Quảng Ngãi. Theo
Phạm Huy Thông và nnk (1997) (Bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản tỷ lệ 1:50.000
nhóm tờ Huế) ở khu vực Thừa Thiên Huế phức hệ này có các khối Ca Puy, Khe Điền,
2.7. Phức hệ Bà Nà (G/K
2
-E bn)
Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, phức hệ Bà Nà xuất hiện ở các khối Bến
Tuần, Sông Bồ, Corperlai và một vài khối nhỏ ở khu vực Sông Trăng. Đặc trưng nhất
cho phức hệ là khối Bến Tuần nó nằm ở bờ trái sông Hương, khu vực gần ngã ba sông
Tả Trạch – Hữu Trạch với diện tích khoảng 17 km
2
. Các khối đều có dạng đẳng thước,
kích thước nhỏ hơn 1 km
2
đến 25 – 30 km
2
. Phức hệ bao gồm một pha xâm nhập và một
pha đá mạch. Pha xâm nhập gồm chủ yếu là đá granit biotit, granit biotit có muscovit,
granit hai mica, granodiorit, tonalit. Pha đá mạch chủ yếu là các đá mạch aplit hạt nhỏ
sáng màu, pegmatit thạch anh turmalin… [2],[5].
3. Đặc điểm kiến trúc và cấu tạo đặc trưng của các đá magma khu vực Thừa Thiên
Huế
3.1. Khái niệm về kiến trúc - cấu tạo của đá magma
3.1.1. Kiến trúc
Kiến trúc là hình dáng hoặc bức tranh của đá được tạo nên bởi hình dạng, kích 116
thước và mối quan hệ của các hợp phần và đôi khi cả do thành phần các khoáng vật tạo
đá.
3.1.2. Cấu tạo:
Cấu tạo là thuật ngữ phản ánh đặc điểm thể hiện sự sắp xếp và phân bố của các
117
Kiến trúc nổi ban: là kiến trúc được đặc trưng với những tinh thể lớn (ban tinh)
nổi trên nền những tinh thể nhỏ hơn, hoặc nổi trên nền vi tinh, nền thuỷ tinh.
Kiến trúc cà nát: là kiến trúc của các đá granit do bị nén ép, cà nát dưới tác dụng của
các hoạt động nội sinh tạo nên. Các hạt khoáng vật thường có hình dạng méo mó, sắc cạnh.
Kiến trúc xi măng: là kiến trúc được hình thành do sự dập vở, nén ép các hạt
khoáng vật. Dọc theo ranh giới các hạt khoáng vật được lấp đầy bởi tập hợp hạt mịn
khác không có hình dạng rỏ ràng.
Kiến trúc mạng lưới: là kiến trúc được hình thành chủ yếu trong các đá siêu
mafic do biến đổi thứ sinh tạo nên. Các hạt khoáng vật của olivin và pyroxen bị
secpentin hoá hoặc clorit hoá từ ngoài vào trong, dọc theo các khe nứt, hướng cát khai
của các hạt khoáng vật.
3.2.2. Các dạng cấu tạo phổ biến của đá magma
Cấu tạo đồng nhất (cấu tạo khối): là cấu tạo mà các hợp phần tạo đá sắp xếp một
cách lộn xộn và phân bố đều theo mọi hướng trong toàn bộ khối đá và có tính đồng nhất
theo mọi phương.
Đây là cấu tạo phổ biến nhất trong đá magma như gabro, diorit, granit
Cấu tạo cầu: là cấu tạo mà các hợp phần tạo đá sắp xếp theo những lớp đồng tâm
và có nhiều khoáng vật khác sắp xếp dạng toả tia. Đặc trưng cho loại cấu tạo này là do
sự di chuyển của các hợp phần bão hoà hoặc do các bao thể tác dụng với magma tạo nên
các riềm đồng tâm như cấu tạo cầu trong đá gabro.
Cấu tạo định hướng: là cấu tạo được hình thành do lực tác dụng bên ngoài tác
dụng tạo nên. Trong đó các hợp phần tạo đá (hay các khoáng vật) sắp xếp theo những
mặt hoặc các đường song song theo một phương.
Cấu tạo dải (dạng dòng chảy): là dạng cấu tạo mà các khoáng vật sắp xếp theo
phương di chuyển của magma tạo ra các dải sẫm màu xen song song dải sáng màu.
Ngoài ra, dạng cấu tạo này còn được hình thành do sự nhấn chìm các khối đá
Hình 1. Đá granit biotit hạt vừa phức hệ Đại Lộc.
3.3.2. Đá Granit hai mica
Ký hiệu: ĐL2
Phức hệ: Đại Lộc, Bình Điền, Thừa Thiên Huế
Thành phần khoáng vật:
Đá bao gồm chủ yếu là khoáng vật thạch anh (Qtz), orthocla (Ort), plagiocla (Pl),
mica (Bt và Mus) và ít khoáng vật quặng (Q).
Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Kiến trúc hạt nửa tự hình, đôi nơi có kiến trúc khảm, vi chữ cổ (hình
2b). 119(a)
(b)
Hình 2. Ảnh lát mỏng của đá granit 2 mica phức hệ Đại Lộc.
Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình, đôi nơi có kiến trúc khảm, vi chữ cổ.
a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50.
3.3.3. Đá Pegmatit chứa Turmalin
Ký hiệu: ĐL4
Phức hệ: Đại Lộc, Bình Điền, Thừa Thiên Huế
Thành phần khoáng vật:
Thành phần chủ yếu của đá là orthocla (Ort), thạch anh (Qtz), plagiocla (Pl) và
turmalin (Tur).
Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Kiến trúc hạt thô không định hướng (hình 3).
Cấu tạo: Đá có cấu tạo khối
Kiến trúc: Đá có kiến trúc porphyr – khảm (hình 5). 121
(a) mẫu cục có cấu tạo định hướng
(b) ảnh lát mỏng chụp dưới nicol (+), độ
phóng đại 50, đá có kiến trúc milonit (nát nhừ)
Hình 5. Ảnh lát mỏng đá granodiorit chứa thạch anh phức hệ Quế Sơn.
a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50. Đá có kiến trúc porphyr, khảm
3.3.6. Đá Granit Biotit hạt thô
Ký hiệu: HV1
Phức hệ: Hải Vân, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
Thành phần khoáng vật:
Đá có thành phần các khoáng vật sáng màu tương đối đều nhau bao gồm thạch
anh (Qtz), Orthocla (Ort), plagiocla (Pl) và biotit (Bt).
Cấu tạo: Đá có cấu tạo khối.
Kiến trúc: Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình-khảm (hình 6a), granophyr (hình 6b).
Hình 6. Ảnh lát mỏng đá granit biotit hạt thô phức hệ Hải Vân.
a,b) ảnh chụp dưới nicol (+), độ phóng đại 50. Đá có kiến trúc hạt nửa tự hình - khảm,
granophyr. 122
3.3.7. Đá granit biotit chứa turmalin
Ký hiệu: HV4
Phức hệ: Hải Vân, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế
Phức hệ: Bà Nà, Bến Tuần, Thừa Thiên Huế.
Thành phần khoáng vật:
Đá gồm chủ yếu các ban tinh plagiocla (Pl) và hocblend (Hbl), trong đó
plagiocla tạo thành đám bị sericit hóa, biotit, epidot thay thế còn tàn dư. Nền vi tinh
gồm tập hợp vi hạt plagiocla, orthocla, thạch anh, đôi nơi bị hydrocit, epidot phát triển
thay thế.
Cấu tạo: Đá có cấu tạo dòng chảy (hình 9a).
Kiến trúc: Đá có kiến trúc nổi ban nền fenzit (hình 9b).
a) mẫu cục có cấu tạo dòng chảy
b) lát mỏng chụp dưới nicol (+), độ phóng đại
50, Đá có kiến trúc nổi ban nền fenzit.
Hình 9. Ảnh đá dacit porphyr phức hệ Bà Nà. 124
3.3.10. Đá gabro hocblend
Ký hiệu: NN1
Phức hệ: Núi Ngọc, A Lưới, Thừa Thiên Huế.
Thành phần khoáng vật:
Đá có thành phần chủ yếu là hocblend và plagiocla có hàm lượng tương đối như
nhau, ngoài ra còn có các khoáng vật màu khác như pyroxen, olivin và các khoáng vật
quặng.
Cấu tạo: Khối
Kiến trúc: Đá có kiến trúc gabro, khảm (hình 10).
a) ảnh chụp dưới nicol(+)
b) ảnh chụp dưới nicol (-), độ phóng đại 50.
cơ bản để nhận biết và phân loại các đá magma.
Bài báo này được thực hiện với sự hỗ trợ một phần kinh phí của đề tại NCKH và
CN của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2008.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Hoa Thám (chủ trì), Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ: Thành lập bộ atlas
kiến trúc - cấu tạo các đá magma khu vực miền Trung (từ Huế đến Quảng Ngãi) phục
vụ đào tạo. Đại học Huế, 2010.
2. Phạm Huy Thông (chủ biên), Báo cáo địa chất và khoáng sản nhóm tờ Huế, tỷ lệ:
1/50.000, Tập II: Địa chất, magma, kiến tạo, vỏ phong hóa, địa mạo thủy văn. Cục địa
chất và Khoáng sản Hà Nội, Hà Nội, 1997. 126
3. Đào Đình Thục, Huỳnh Trung (đồng chủ biên), Địa chất Việt Nam, Tập II. Các thành
tạo magma. Tổng cục Mỏ và Địa chất xuất bản, Hà Nội, 1995.
4. Nguyễn Văn Trang (chủ biên), Bản đồ địa chất và khoáng sản Việt Nam, tỷ lệ
1/200.000. Loạt tờ Huế – Quảng Ngãi, kèm theo thuyết minh. Cục địa chất Việt Nam,
Hà Nội, 1989.
5. Huỳnh Trung và nnk, Các thành tạo xâm nhập granitoit khối Đại Lộc, Sa Huỳnh,Chu
Lai, ĐCKSVN, Tập I, Liên đoàn BĐĐC, Hà Nội (1979) 159–169.
6. Huỳnh Trung và nnk, Các thành tạo xâm nhập granitoit khối Bến Giằng–Quế Sơn,
ĐCKSVN, Tập I, Liên đoàn BĐĐC, Hà Nội (1979) 159–169.
GENERALIZING SPECIFIC STRUCTURES AND TEXTURES OF INTRUSIVE
MAGMA ROCKS IN THUA THIEN HUE AREA
Hoang Hoa Tham, Nguyen Thi Thuy
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
Intrusuve magma complexes in Thua Thien Hue area are abundant ranging from ultra-