BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KH&CN BÁO CÁO TỔNG KẾT
NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP THIẾT
MỚI PHÁT SINH TẠI ĐỊA PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ ĐIỀU
KIỆN THỰC TIỄN ĐỂ HÌNH THÀNH KHU
CÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
CAO TẠI QUẢNG NGÃI
Ban chủ nhiệm Đề tài
Chủ nhiệm: TS. MAI HÀ
Thư ký: TS. NGUYỄN THỊ ANH THU
1.1. Định nghĩa công nghệ cao 9
1.2. Định nghĩa khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên thế giới 9
1.3. Định nghĩa khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam 11
1.4. Sự cần thiết hình thành và phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao 13
1.5. Những điều kiện cần và đủ cho hình thành và phát triển khu NNUDCNC của
Quảng Ngãi 18
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 23
2.1. Kinh nghiệm trong và ngoài nước trong xây dựng và phát triển khu NNUDCNC 23
2.2. Bài học rút ra cho Quảng Ngãi từ kinh nghiệm trong và ngoài nước 33
2.3. Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của Quảng Ngãi 39
2.4. Thị trường cho phát triển khu NNUDCNC tại Quảng Ngãi 43
CHƯƠNG III. MÔ HÌNH KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
LỰA CHỌN TẠI QUẢNG NGÃI 54
3.1. Quan điểm 54
3.2. Mục tiêu 55
3.3. Mô hình hoạt động 57
3.4. Lựa chọn địa điểm 58
3.5. Cấu trúc, quy mô khu NNUDCNC 69
3.6. Lựa chọn sản phẩm và công nghệ 70
3.7. Vấn đề môi trường và xã hội 75
3.8. Lộ trình triển khai 80
CHƯƠNG IV. NHU CẦU NGUỒN LỰC, QUẢN LÝ VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI
KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 83
2
UBND Xã Bình Nguyên, Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi
UBND Xã Bình Hòa, Huyện Bình Sơn, Quả
ng Ngãi
UBND xã Bình Chánh, Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi
UBND Xã Bình Trị, Huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi
Ông Lê Quang Thích, Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Quảng Ngãi
Ông Trần Chấn Diệp, Giám đốc, Sở KH&CN Quảng Ngãi
Ông Vũ Thanh Thủy, Giám đốc, Trung tâm Hỗ trợ Kỹ thuật Nông - Lâm nghiệp
Dung Quất
Ông Hồ Ngọc Luật, Vụ trưởng, Trưởng Ban Địa phương, Bộ KH&CN
Bà Lê Kim Phương; Chánh Văn phòng, Ban Địa phương, Bộ KH&CN
Ông Phạm Viết Khánh, Chuyên viên, Ban Địa phương, Bộ KH&CN
Ông Chu Thúc
Đạt, Chuyên viên, Ban Địa phương, Bộ KH&CN.
4 CÁC TỪ VIẾT TẮT
APEC Asian Pacifice Economic Cooperation - Tổ chức Hợp tác kinh tế
châu Á Thái Bình Dương
ASEAN Association of SouthEast Asia Nation - Hiệp hội các nước Đông
Nam Á
BIOTEC National Center of genetic Engineering and Biotechnology- Trung
tâm công nghệ gen và công nghệ sinh học
BVTV Bảo vệ thực vật
CNC Công nghệ cao
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
EUREP European Retail Products - Tổ chức người bán lẻ và cung cấp ở
Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
VAT Value Added Tax - Thuế giá trị gia tăng
VND Việt Nam Đồng
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm 6
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, nền nông nghiệp truyền thống không đủ khả năng đáp ứng được nhu
cầu thực phẩm sạch, thực phẩm an toàn cả về chất lượng và số lượng cung cấp trong
nước và xuất khẩu. Những năm gần đây, hầu hết các mặt hàng nông sản của Việt Nam
đều đạt được giá rất thấp khi bán ra thị trường thế giới. Phần nhiều hàng hóa của Vi
ệt
Nam chỉ dừng lại ở mức bán nguyên liệu qua sơ chế cho các hãng nước ngoài mua về,
chế biến lại và bán với giá cao hơn nhiều. Tình trạng này, không chỉ riêng Việt Nam,
mà nhiều nước đang phát triển khác cũng đang gặp phải. Đổi mới công nghệ nâng cao
trình độ sản xuất nông nghiệp từ khâu chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch đến
bảo quản, chế biến, bao bì, mẫu mã, vận chuy
ển và tiêu thụ; đang là nhu cầu cấp bách
với hầu hết các quốc gia. Trong bối cảnh đó, phát triển nông nghiệp công nghệ cao
(NNCNC) chính là biện pháp đột phá đã được nhiều quốc gia lựa chọn (đặc biệt là
những nước có nền nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng như Việt Nam), nhằm tạo sức
cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, NNCNC còn hỗ trợ khả năng phát triển du lịch
sinh thái, du lịch tri thức, b
ảo vệ và phát triển môi trường theo hướng bền vững.
Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và đang
xúc tiến mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình này đòi hòi nông
nghiệp của Tỉnh phải phát triển theo hướng dựa trên công nghệ cao đúng như Báo cáo
chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh trình bày tại Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII: “Tập
cứu cơ sở khoa học và điều kiện thực tiễn
để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao tại Quảng Ngãi sẽ cung cấp cho lãnh đạo Tỉnh những căn cứ tin cậy để
tiến tới việc hình thành khu NNUDCNC tại Quảng Ngãi.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu đặt ra cho Đề tài là:
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hình thành khu nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao tại Quảng Ngãi hiện nay;
- Nghiên cứu điều kiện thực tiễn hình thành khu nông nghiệp ứng dụng CNC
tại Quãng Ngãi;
- Đề xuất mô hình quản lý Khu NNUDCNC Quảng Ngãi.
Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu khoa học nhằm luận cứ cơ sở khoa học và các điều
kiện thực tiễn để đi đến khẳng định sự cần thiết và tính khả thi cũng như các điều kiện
cần thiết cho việc hình thành khu NNUDCNC và sơ bộ đề xuất quy mô, địa điểm, cấu
trúc khu NNUDCNC cũng như bộ máy quản lý của khu NNUDCNC. Đề tài không
nhằm thay thế dự
án khả thi hay quy hoạch chi tiết khu NNUDCNC.
Phương pháp tiến hành
Phương pháp xử lý tài liệu thứ cấp: dựa trên các nghiên cứu, bài viết, số liệu đã
có để chắt lọc những thông tin làm cơ sở minh chứng cho nhận định về hiện trạng,
kinh nghiệm, những bài học rút ra.
Phương pháp điều tra: đã tiến hành điều tra đại diện nhu cầu thị trường về sản
phẩm rau quả tại Quảng Ngãi tại các điểm tiêu thụ l
ớn như: chợ, khách sạn, một số nhà
hàng tại Quảng Ngãi
Nghiên cứu trường hợp: đã nghiên cứu các trường hợp khu NNCNC,
NNUDCNC, khu sản xuất rau an toàn, bao gồm: Khu NNCNC Hà Nội, Khu NNCNC
Hải Phòng, Khu NNCNC Mộc Châu (Sơn La), Vùng sản xuất RAT Vân Nội (Đông
8
NNUDCNC, kinh nghiệm rút ra cho các tỉnh khác; Phân tích các trường hợp cụ thể
(Dự án NNCNC Hà nội, Hải Phòng, Khu sản xuất RAT Vân Nội, Khu Da lat Hasfarm,
Khu sản xuất NNCNC Mộc Châu); Đúc kết các bài học cho Quảng Ngãi trong xây
dựng và hình thành Khu NNUDCNC.
Cấu trúc báo cáo
Báo cáo gồm phần đặt vấn đề, 4 chương, phần kết luận, đề xuất và tài liệu tham
khảo, 2 phụ lục.
9
CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN KHU NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
1.1. Định nghĩa công nghệ cao
Ở nước ta, về mặt pháp lý, gần đây cũng đã có thay đổi cách định nghĩa về công
nghệ cao. Theo Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2003 Về
việc ban hành Quy chế Khu công nghệ cao: “công nghệ cao là công nghệ
được tích hợp từ các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, có khả năng tạo ra sự
tăng đột biến về năng suất lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản
phẩ
m hàng hoá, hình thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới có hiệu quả kinh tế -
xã hội cao, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh - quốc
phòng”.
Sau khi Luật Công nghệ cao được ban hành và có hiệu lực từ 01/07/2009, công
nghệ cao được định nghĩa là “công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo
ra sản phẩm có ch
ất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi
trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc
hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”.
Sản phẩm công nghệ cao cũng có thay đổi trong quy định pháp lý của Việt
Nam. Theo Nghị định 99/2003/NĐ-CP, sản phẩm công nghệ cao là sản phẩm được tạo
m là, khu ươm tạo và đào tạo công nghệ.
Tuy nhiên, các chức năng được vận dụng khác nhau đối với từng loại khu NNCNC.
Mô hình các khu NNCNC trên thế giới cũng rất đa dạng. Ở các nước phát triển
như: Pháp, Hà Lan, Nhật, khu nông nghiệp công nghệ cao có 2 công năng: một là, chủ
yếu phục vụ thưởng thức cảnh quan và nâng cao hiểu biết của người dân về những
thành tựu khoa học & công nghệ trong nông nghiệp, thông qua giới thiệ
u, trưng bày,
mô hình trình diễn; hai là, thay đổi phương thức nghỉ ngơi, tạo điều kiện cho những
người hàng ngày lao động ở văn phòng tiếp xúc với lao động chân tay, thông qua du
lịch sinh thái, ứng dụng thực tế các thành tựu khoa học trong nông nghiệp.
Khu nông nghiêp công nghệ cao ở các nước đang phát triển như: Đài loan, Thái
Lan, Israel, thì khu nông nghiệp công nghệ cao đưa mục tiêu sản xuất là chính. Trong
khu nông nghiệp công nghệ cao, người ta thường trình diễn các loại sản ph
ẩm có giá
trị cao, các thiết bị sản xuất có hàm lượng chất xám cao, ở các khu nông mghiệp này
có khả năng đào tạo và chuyển giao công nghệ.
Tại Trung Quốc, khu NNCNC là những khu nông nghiệp để sản xuất ra các sản
phẩm nông nghiệp đồng nhất có chất lượng cao bằng trình độ quản lý và công nghệ
tiên tiến trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất đến thị trường, trong đó gắn kết 5
cao và 6 hóa, cụ thể
là:
- 5 cao: năng suất lao động cao, năng suất trên đơn vị diện tích cao, hiệu quả đầu
tư cao, hàm lượng KH&CN cao, thu nhập của người nông dân và người lao động
cao
- 6 hóa: tiêu chuẩn hóa, cơ giới hóa, xã hội hóa, khoa học hóa, sinh thái hóa, nhất
thể hóa.
Các loại hình, tên gọi của khu NNCNC trên thê giới cũng đa dạng, tùy theo
mức độ cao của công nghệ hoặc tùy theo mục tiêu, chức năng của khu. Các loại hình
có trên thế giới hi
ện nay là: Khu Trình diễn NNCNC (High-Tech Agricultural
c) Đào tạo nhân lực công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp;
d) Tổ chức hội chợ, triển lãm, trình diễn s
ản phẩm nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao;
đ) Thu hút nguồn đầu tư, nhân lực công nghệ cao trong nước và ngoài nước
thực hiện hoạt động ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao muốn được thành lập phải đáp ứng
các quy định sau:
a) Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển nông nghiệp và nhiệm vụ quy
định của khu NNUDCNC;
12
b) Có quy mô diện tích, điều kiện tự nhiên thích hợp với từng loại hình sản xuất
sản phẩm nông nghiệp; địa điểm thuận lợi để liên kết với các cơ sở nghiên cứu, đào
tạo có trình độ cao;
c) Hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ thuận lợi đáp ứng yêu cầu của hoạt động nghiên
cứu, đào tạo, thử nghiệm và trình diễ
n ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông
nghiệp;
d) Có nhân lực và đội ngũ quản lý chuyên nghiệp.
Về mặt thẩm quyền quyết định thành lập, theo Luật Công nghệ cao, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các
bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên
quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, ban hành quy chế hoạt
động của
khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Theo Luật Đầu tư, Khoản 4 Điều 47 quy định Chính phủ quy định việc phân
cấp thẩm tra và cấp Giấy chứng nhận đầu tư, và Khoản 2 Điều 38 của Nghị định
108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của luật Đầu tư quy định Ủy ban nhân dân c
.
Theo một số tác giả trong nước, nông nghiệp công nghệ cao là sự kết hợp ứng
dụng các công nghệ trọng điểm của thời đại, đó là công nghệ thông tin, công nghệ vật
liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ nano để tạo ra sản phẩm có năng suất chất
lượng cao, giá thành hạ
2
. Một cách tiếp cận khác cho rằng NNCNC là nền nông nghiệp
mà ở đó các loại hình công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ thông tin,
công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự sinh học) được ứng dụng tổng hợp, theo một quy
trình khép kín, hoàn chỉnh nhằm khai thác hiệu quả nhất nguồn tài nguyên tự nhiên
(đất đai, khí hậu) và tiềm năng của giống để đạt năng suất và chất lượng cao nh
ất một
cách bền vững
3
. Ở các nước phát triển, công nghệ cao được ứng dụng trên quy mô
toàn quốc như vậy sẽ không còn khái niệm khu NNCNC. Tại các nước đang phát triển,
NNCNC tập trung trong những khu vực có quy mô từ vài ha đến hàng trăm ha.
Đối với Khu NNUDCNC cấp tỉnh, trong điều kiện hiện nay, theo Đề tài, cách
tiếp cận của Trung Quốc là tương đối thích hợp với Việt Nam. Theo đó, Khu
NNUDCNC là nơi tập hợp các tiến bộ kỹ thuậ
t mới về sinh học, hóa học, cơ khí, tự
động, kết hợp với những kinh nghiệm truyền thống/bản địa để tạo ra bước đột phá về
năng suất, chất lượng sản phẩm và cho hiệu quả kinh tế cao. Khu NNUDCNC có thể
thực hiện một số chức năng của khu CNC mà không nhất thiết phải có tất cả các chức
năng.
1.4. Sự cần thiết hình thành và phát triển các khu nông nghiệp công nghệ
cao
1.4.1. Trên thế giới
Nông nghiệp công nghệ cao đang phát triển mạnh mẽ trên diện rộng ở các nước
phát triển. Khu NNCNC của các nước này được hình thành khoảng hơn 30 năm trước
- Tăng năng suất và sản l
ượng nông sản trên một đơn vị diện tích từ 10-15 lần, tiết
kiệm đất nông nghiệp để chuyển một phần sang phát triển đô thị, công nghiệp, dịch
vụ và trồng cây xanh, trồng rừng,
- tạo ra nông sản sạch, đồng nhất, chất lượng tốt, ít tổn thất, tỷ lệ thành phẩm cao;
- Tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường;
- Có tính lôi cuốn cao, khuy
ến khích nông dân áp dụng kỹ thuật thay đổi phương
thức sản xuất, phát triển nông thôn đồng đều giữa các vùng lãnh thổ;
- Tạo sự phối hợp giữa các lực lượng xã hội, đặc biệt là các nhà: khoa học, doanh
nhân, nông dân, nhà nước.
1.4.1.1. Nhật Bản
Nhật Bản đã ứng dụng rất sớm kỹ thuật cao. Các khu NNCNC được hình thành
cùng với hệ thống cơ sở hạ tầng và ban hành pháp luậ
t về bảo vệ môi trường. Nhà kính
được sử dụng khá rộng rãi để tối ưu hóa các điều kiện môi trường cho sinh trưởng của
cây trồng. Nông dân Nhật Bản sử dụng mạng polietylen trong canh tác để hạn chế côn
trùng và cỏ dại, tiết kiệm nước tưới. Hệ thống cơ giới hóa, tự động hóa được sử dụng
phổ biến trong chu trình khép kín từ khâu trồng đến thu hoạch, chế bi
ến, tiêu thụ sản
phẩm. Sử dụng hệ thống điều chỉnh ánh sáng trong trồng trọt để làm thay đổi hàm
lượng chất dinh dưỡng,…Công nghệ thông tin và công nghệ tự động hóa đã được sử
dụng trong dự báo dinh dưỡng và dịch hại.
Để sản xuất cây giống hiệu quả cao, các công ty Nhật Bản đã thành lập nhà máy
thực vật sản xuất cây giống bằng nuôi cấy mô để cung cấ
p cho thị trường. Hệ thống
sản xuất cây con được tự động hóa. Cây con chủ yếu là cây lâm nghiệp, cây rau và hoa
các loại.
1.4.1.2. Australia
Australia, một đất nước rộng lớn về diện tích (768 triệu ha=7.680.000 km
đại…Cho đến cuối năm 2006, có khoảng 6000 các loại khu NNCNC đ
ã được xây
dựng ở Trung Quốc, trong đó có 1 khu cấp quốc gia (khu Dương Lân, TP Tây An, tỉnh
Thiểm Tây); 36 khu do Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định thành lập; hơn 600
khu thị phạm khoa học nông nghiệp hiện đại cấp quốc gia và khu trình diễn phát triển
khoa học công nghệ cao nông nghiệp tổng hợp, còn lại là khu do cấp tỉnh/thành phố và
cấp huyện thành lập
6
. Trong số 6000 khu nói trên, có trên 400 khu vào loại hiện đại.
Công năng của khu NNCNC
Các công năng của khu NNCNC ở Trung Quốc là đa dạng: trình diễn KH&CN
nông nghiệp hiện đại, du nhập và mở rộng các giống cây/con mới, đào tạo, nâng cao
nhận thức và trình độ cho nông dân, tạo phong trào (chiếm tuyệt đại bộ phận trong các
khu đã có); thăm quan nghỉ ngơi, trình diễn các công nghệ cao trong nông nghiệp,
triển lãm các công nghệ mới của nông nghiệp, văn hóa nông nghiệp nông thôn, tạ
o
điều kiện cho du khách có thể tham gia vào hoạt động tác nghiệp nông nghiệp; vừa
trình diễn KH&CN nông nghiệp và thăm qua, giải trí (thường được xây dựng ở những
nơi thuận lợi về vị trí địa lý, giao thông). 5
Nguồn: TS Nguyễn Quốc Vọng. Phát triển rau - hoa - quả công nghệ cao ở Việt Nam: kinh nghiệm từ
Australia. Kỷ yếu Hội thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr. 93.
6
Nguồn: TS Dương Kỳ Trường (GĐ TT Nghiên cứu thiết bị nông nghiệp nhà kính, Viện Hàn lâm KH&CN
Nông nghiệp Trung Quốc). Hiện trạng và xu thế phát triển khu Khoa học công nghệ nông nghiệp của Trung
Quốc. Kỷ yếu Hội thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr. 98.
16
tế kế hoạch, thường bị can thiệp quá sâu của cấp hành chính, kinh doanh thiếu h
ẳn sức
sống. Mâu thuẫn xảy ra giữa chủ thể xây dựng và chủ thể kinh doanh. Sau khi hoàn
thành xây dựng, Khu NNCNC cần phải được hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, tuy
nhiên thực tế vẫn áp dụng cơ chế hành chính, kế hoạch.
Hướng phát triển
Việc tiếp tục hoàn thiện các khu NNCNC là hướng tất yếu ở Trung Quốc. Sẽ có
chuyển hướng phân bố từ vùng kinh tế phát triển sang một số
vùng kinh tế kém phát
triển và sẽ dần hình thành một mạng lưới khu trình diễn khoa học và công nghệ theo 7
Nguồn: TS Lê Quốc Doanh. Bước đầu ứng dụng công nghệ cao trong xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp
tại Vùng núi phía Bắc. Kỷ yếu Hội thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr 56.
17
nhiều cấp: tỉnh/thành, huyên, xã. Đồng thời một loạt các khu vui chơi giải trí sẽ được
hình thành.
Trung Quốc thực hiện thay đổi trong quản lý theo phương châm “Chính phủ
hướng dẫn, xí nghiệp vận hành, có sự tham gia của thành phần kinh tế, nông dân thụ
hưởng lợi ích”. Chức trách chủ yếu của Chính phủ là sáng tạo môi trường chính sách
thuận lợi, thực hiện việc chỉ đạo vĩ mô và điều hòa, phối h
ợp, tiến hành kiểm soát nội
bộ xí nghiệp, bảo đảm lợi ích của người nông dân. Xí nghiệp, với tư cách là chủ thể
pháp nhân, tự chủ kinh doanh, tiếp thu sự chỉ đạo của Chính phủ. Các tổ chức trung
gian triển khai việc tư vấn, đánh giá, bồi dưỡng, cung cấp các loại dịch vụ trung gian
về kH&CN. Nông dân dùng đất đai, sức lao động, tiền vốn, vv…để góp cổ phần hoặc
thông qua hình th
ức hợp đồng bao tiêu sản phẩm với xí nghiệp để tham gia khu, tiếp
8
Nguồn: PGS TS Trần Khắc Thi. Vấn đề ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội
thảo Phát triển công nghệ cao tại Việt Nam, 10-2007, tr 49.
18
đã được hình thành và bắt đầu đi vào hoạt động. Chưa có nhiều mô hình đủ thời gian
cho kết luận thành công hay thất bại. Tuy nhiên, việc hình thành và đi vào hoạt động là
cả một quá trình, gặp nhiều khó khăn.
Song cũng có khu nông nghiệp dưới dạng nông nghiệp CNC khá thành công, đó
là Khu Đa Lat Hasfarm, chuyên sản xuất hoa phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước
(khoảng 40% tiêu thụ trong nước). Đây là doanh nghiệp có quy mô lớn, công nghệ
hiện
đại. Năm 2002 đã có 22 ha nhà kính, trong đó có 10 ha nhà kính hiện đại. Đến
nay, doanh nghiệp đã mở rộng quy mô trên 45 ha. Doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống
nhà kính công nghệ cao, đào tạo đội ngũ nhân lực. Doanh nghiệp cũng đã thu hút hàng
chục nhà vườn của các hộ gia đình sản xuất theo quy trình công nghệ cao với thiết bị
tưới tiêu hiện đại, nhà lưới, nhà kính chủ động về nhiệt độ, ánh sáng. Sản lượng, doanh
thu của Công ty cao gấp 20-30 lần so với cách trồng truyền thống (1 tỷ đồng/ha/năm)
9
.
1.5. Những điều kiện cần và đủ cho hình thành và phát triển khu
NNUDCNC của Quảng Ngãi
Kinh nghiệm từ phát triển các mô hình khu NNCNC trên thế giới cho thấy, nên
có nhiều loại khu NNCNC để có chính sách đầu tư thích hợp: khu NNCNC quốc gia
có đầy đủ các chức năng cơ bản, có thể coi là Trung tâm Xuất sắc trong nông nghiệp,
do nhà nước đầu tư là chủ yếu; khu NNCNC địa phương do các tỉnh đầu tư nhằm tạo
ra môi trường để ứng dụng công nghệ cao và triển khai các mô hình trình diễn thích
hợp với điều kiện củ
a địa phương và không nhất thiết phải có đủ các chức năng cơ
bản; khu NNCNC chuyên ngành mang tính thương mại do doanh nghiệp đầu tư 100%.
Thứ hai, cần có thị trường hiện t
ại và tiềm năng. Như đã trình bày ở phần trên,
sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao chiếm lĩnh được thị trường phải có thời gian
không chỉ để khẳng định chất lượng mà còn phải thuyết phục, thay đổi nhận thức về
tiêu dùng của khách hàng. Công nghệ cao trong nông nghiệp không chỉ đem lại năng
suất cao, giống mới, đa dạng chủng loại mà quan trọng hiện nay là chất lượ
ng và an
toàn thực phẩm. Khi tập quán tiêu dùng của đại bộ phận dân chúng chưa thay đổi,
người dân còn quan tâm đến giá rẻ hơn là chất lượng và an toàn thực phẩm thì thị
trường của nông sản CNC còn hạn hẹp trong một số đối tượng tiêu dùng. Vì số lượng
chưa nhiều, sản xuất quy mô chưa đủ lớn thì giá thành sẽ cao, và đây là lại là yếu tố
cản trở việc mở rộng thị trườ
ng. Tuy nhiên, với nhận thức về an toàn thực phẩm của
người tiêu dùng được nâng cao nhờ các tác động của truyền thông và qua những biểu
hiện tác hại của không đảm bảo an toàn thực phẩm đến sức khỏe, người tiêu dùng sẽ
chuyển sang sử dụng nông sản công nghệ cao nhiều hơn. Đây chính là thị trường tiềm
năng cho phát triển các khu NNUDCNC. Với xu thế phát triển các khu kinh tế, khu
công nghiệp ở Quảng Ngãi, số
người tiêu dùng có thu nhập cao sẽ tăng lên, kể cả bộ
phận chuyên gia và công nhân nước ngoài, vấn đề thị trường tiềm năng cho phát triển
khu NNUDCNC ở Quảng Ngãi sẽ là trở thành một yếu tố thuận lợi.
Thứ ba, cần có được đầu tư ban đầu thỏa đáng từ phía Nhà nước (địa phương)
cho việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ của khu NNUDCNC (giao thông, điện
nước, thông tin, liên lạc). Điểm nổi bật của khu NNCNC là lấy việc xây dựng mối liên
kết chặt chẽ, có hiệu quả giữa thành quả nghiên cứu khoa học với sản xuất ra sản phẩm
có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, mới trên cơ sở đó tạo ra mô hình trình diễn
để nhân rộng. Do đó, để xây dựng khu NNCNC cần thiết phải đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầ
ng tốt, đồng bộ, trang thiết bị tiên tiến. Các khoản đầu tư này, từ kinh nghiệm của
thế giới và trong nước cho thấy đều cần sự hỗ trợ của nhà nước, và đây cũng chính là
chính là những chủ thể ứng dụng CNC, tạo ra nông phẩm CNC đưa ra thị trường. Tuy
nhiên, do tính chất hoạt động của lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao là thời gian để
tạo lập thị trường tương đối lâu, giá trị gia tăng từ sản phẩm nông nghiệp chưa cao so
với sản phẩm công nghệ cao khác, nhiều rủi ro trong sản xuất kinh doanh vì sự phụ
thuộc vào thời tiết và điều kiện tự nhiên, do đó sự hấp dẫn các nhà đầu tư vào lĩnh vực
NNCNC phụ thuộc rất nhiều vào chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư của chính
quyền trung ương và địa phương. Các chính sách thường liên quan đến hỗ trợ mặt
bằng, thuê đất, ưu đãi thuế và hỗ trợ đào tạo nhân lực cũng như hỗ trợ tạo dựng thị
trường thông qua các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng
về chất lượng và an toàn nông sản.
Thứ hai, cần có bề dầy kinh nghiệm phát triển khuyến nông và ứng dụng tiến b
ộ
kỹ thuật của địa phương. Hiệu quả kinh tế mang lại từ khu NNCNC có thể không thấy
rõ ngay trong những năm đầu tiên triển khai mà sẽ thu được sau một thời gian. Tuy
nhiên, các khu NNCNC có thể mang lại những lợi ích xã hội như tạo thêm việc làm,
nâng cao dân trí và có tác động tích cực tới môi trường, do sử dụng ít hơn hay quản lý
tốt hơn phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.
Áp dụng công nghệ tiên tiế
n là một trong các yếu tố quan trọng của khu
NNUDCNC. Công nghệ được ứng dụng nhiều nhất phải kể đến là công nghệ sinh học
21
trong chọn giống và nhân giống cây trồng, vật nuôi (công nghệ gen, công nghệ nuôi
cấy mô, tế báo,…); công nghệ sinh học bảo vệ thực vật bằng cách tạo ra các thuốc trừ
sâu sinh học; công nghệ bảo quản bằng điều chỉnh môi trường không khí khi đóng gói
(MAP); công nghệ dinh dưỡng cây trồng thông qua điều tiết dinh dưỡng, độ ẩm, nhiệt
độ và ánh sáng. Loại công nghệ tiếp theo phải kể đến đó là công nghệ v
ật liệu: nghiên
cứu sử dụng các màng che để phòng sâu, bệnh, che nắng, che mưa, màn lọc ánh sáng,
sẽ tạo được lượng sản phẩm đủ lớn để chiếm lĩnh thị trường, giảm chi phí tiêu thụ.
Nhưng để làm được điều đó, cần thiết phải tạo được liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
gi
ữa khu và các tổ chức thương mại trong và ngoài tỉnh. Kinh nghiệm phát triển nông
sản cao cấp của các tỉnh Đông Nam Bộ (được trình bày trong chương IV, Tr. 90 của
Báo cáo này) cho thấy, việc lập mạng lưới tiêu thụ giữa các tỉnh với TP Hồ Chí Minh,
trung tâm tiêu thụ hàng nông sản, đã giúp cho việc sản xuất và tiêu thụ được ổn định
và kiểm soát tốt hơn về chất lượng hàng hóa.
22 KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Từ nghiên cứu lý thuyết trong chương này cho thấy việc xây dựng khu nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Quảng ngãi là hết sức cần thiết, không những làm
tăng năng suất trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng và an toàn của sản
phẩm nông nghiệp mà còn đem lại sự thay đổi cách nghĩ, cách làm của các hộ nông
dân theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và dẫn đến thay đổ
i cơ cấu kinh tế của
địa phương.
Khu NNUDCNC tại Quảng Ngãi hiện nay sẽ là khu NNUDCNC cấp tỉnh, nhằm
ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất sản phẩm nông nghiệp phục vụ cho đối tượng
khách hàng trong và ngoài tỉnh, đồng thời tạo các mô hình trình diễn để hướng dẫn,
chuyển giao công nghệ cao cho các hộ nông dân trong vùng Trung bộ và các tỉnh Tây
Nguyên.
Các điều kiện cần và đủ để hình thành khu nông nghiệp ứng dụng công ngh
ệ
cao là: có được ý chí và quyết tâm của lãnh đạo trong việc chỉ đạo hình thành khu
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thể hiện qua các quyết định đầu tư cơ sở hạ tầng
cho khu NNUDCNC và các chính sách khuyến khích hình thành và hoạt động của khu
NNUDCNC; có thị trường hiện tại và tiềm năng tiếp nhận sản phẩm nông nghiệp ứng
xuất, khảo nghiệm và tập huấn chuyển giao công nghệ.
Gần đây, Đồng Nai đã có quyết định thành lập Trung tâm Công nghệ sinh học
với quy mô 207 ha, nằ
m trên địa bàn xã Xuân Đường - Huyện Cẩm Mỹ - Tỉnh Đồng
Nai. Trung tâm này trực thuộc Sở KH&CN Đồng Nai, có chức năng nghiên cứu
CNSH, thực nghiệm chuyển giao, và sản xuất CNC, trong đó khu sản xuất chiếm
khoảng 30% diện tích. Mô hình này tương tự như khu NNCNC.
- Các khu Nông nghiệp kỹ thuật cao như khu nông nghiệp kỹ thuật cao Hưng
Lộc (Đồng Nai), Khu NNKTC An Thái, Khu NNKTC Hiếu Liêm (Bình Dương), Khu
Nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao DONAFOODS, (Đồng Nai), Khu s
ản xuất nông
nghiệp kỹ thuật cao Cái Mơn (bến Tre) là những khu có quy mô lớn, trong đó khu sản
xuất chiếm tỷ lệ diện tích lớn.
- Doanh nghiệp NNCNC như Da Lat Hasfarm, trong đó có nghiên cứu tạo
giống mới hoặc thực nghiệm các giống nhập về, sản xuất CNC, sơ chế, bảo quản theo
CNC. Trong Khu này, sản xuất chiếm phần lớn diện tích.
- Các mô hình trình diễn công nghệ cao (dưới dạng sả
n xuất theo GAP, IPM
hay RAT). Mô hình này khá phổ biến.
Các mô hình trình diễn lấy hộ làm đơn vị
triển khai việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho các hộ khác trong xã
thường có quy mô về đất từ 1000 m²/hộ đến khoảng 5000m²/hộ. Đây là loại mô
hình mở, không hàng rào. Tuy nhiên, nếu cộng diện tích của các hộ tham gia mô
hình thì mức quy mô dao động từ 1000 ha đến 30.000 m² (3 ha).