ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC XỬ LÝ NƯỚC DỪA
ĐẾN ĐỜI SỐNG CÂY VỪNG (Sesamum indicum L.)
Ở VỤ HÈ TRỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM
TẠI ĐÀ NẴNG
THE INFLUENCE OF THE COCONUT WATER
ON THE SUMMER GROWN SESAME (Sesamum indicum L.)
IN THE EXPERIMENTAL CONDITIONS OF DANANG NGUYỄN TẤN LÊ
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Sử dụng dung dịch nước dừa ngâm hạt trước khi gieo và phun lên lá của cây vừng
(Sesamum indicum L.) trồng thí nghiệm trong chậu ở vụ Hè tại Đà Nẵng đã làm cho quá trình
sinh trưởng (tỷ lệ nảy mầm của hạt, diện tích lá, trọng lượng tươi và trọng lượng khô), năng
suất (số quả / cây, số hạt / cây, trọng lượng hạt / cây, trọng lượng 1.000 hạt), phẩm chất hạt
(hàm lượng lipit, protein, gluxit) đã được cải thiện so với đối chứng.
ABSTRACT
By using coconut water in optimal concentration to soak the seeds before sowing and to spray
on the leaves of the sesame grown in pots and in the summer season in Danang, we have got
the following results:
- The growth of the sesame (the germinal proportion, the plant height, the assimilation surface,
the fresh and dry weight) has increased as compared with controlled lot.
- The productivity of the sesame (the No. of capsules / plant, the No. of seeds / plant, the seed
yield / plant, the 1.000-seed weight) has increased as compared with controlled lot.
- The quality of the sesame seed (oil content, protein content, sugar content) has increased as
compared with controlled lot.
đất được bón lót và bón thúc trước khi ra hoa, mỗi lần
0,5g phân hữu cơ đậm đặc Dynamic Lifter sản xuất tại Australia (được Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn ra quyết định số 1284/QĐ/BNN ngày 14-04-1999 cho áp dụng trong sản
xuất nông nghiệp ở Việt Nam) có thành phần N: 3%, P: 2,5%, K: 1,6%, S: 1%, Ca: 7%, Mg:
1%, Fe: 1600ppm, Mn: 580ppm, Zn: 310ppm, Cu: 40ppm, B: 10ppm, Mo: 3ppm - pH=7.
Thời gian bắt đầu thí nghiệm từ giữa tháng 5/2004 đến đầu tháng 8/2004.
Dung dịch nước dừa được thăm dò ở nồng độ cho kết quả tốt nhất được xử lý ở giai
đoạn ngâm hạt trước khi gieo, phun trên lá vào các thời kỳ cây được 3 lá, 5 lá, và ra hoa.
2.2. Phương pháp phân tích mẫu
- Các chỉ tiêu sinh trưởng được xác định bằng phương pháp cân, đo, đếm.
- Chất lượng hạt: hàm lượng chất béo phân tích tại Trung tâm thí nghiệm tổng hợp Đại
học Đà Nẵng, hàm lượng protein, hàm lượng đường, hàm lượng chất xơ phân tích tại Trung
tâm Kiểm định đo lường chất lượng thành phố Đà Nẵng.
- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê ứng dụng trong sinh lý thực vật.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển
3.1.1. Tỉ lệ nảy mầm của hạt: Ngâm hạt giống trong thời gian 2 giờ. Lô đối chứng
ngâm với nước cất, lô thí nghiệm ngâm với dung dịch nước dừa, mỗi lô 100 hạt. Theo dõi tỉ lệ
nảy mầm trên đĩa pêtri sau 20 giờ và sau 30 giờ, chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1: Ảnh hưởng của dung dịch nước dừa đến tỉ lệ nảy mầm
của hạt vừng vàng và vừng đen
Lô TN
Tỉ lệ nảy mầm
sau 20 giờ (%)
% so với ĐC
Tỉ lệ nảy mầm
sau 30 giờ (%)
% so với ĐC
Vàng ĐC 45,98
1,04 100,00 Đen ĐC 41,96
1,26 100,00
Vàng TN 51,07
1,23 111,07 Đen TN 44,15
1,13 105,22
Kết quả cho thấy giống vừng vàng có chiều cao hơn giống vừng đen. Xử lý nước dừa
làm tăng chiều cao cây ở giống vừng vàng 11,07% so với đối chứng, ở giống vừng đen tăng
5,22% so với đối chứng.
3.1.3. Diện tích lá: Xác định diện tích lá của cây vừng ở giai đoạn 7 lá trước khi ra
hoa, chúng tôi thu được kết quả trình bày ở bảng 3:
Bảng 3: Ảnh hưởng của dung dịch nước dừa đến diện tích lá
của cây vừng vàng và vừng đen ở giai đoạn 7 lá
Lô TN
Diện tích lá
(dm
2
)
% so với ĐC Lô TN
Diện tích lá
(dm
% so với ĐC
Vàng ĐC 25,34
1,03 100,00 2,06
0,03 100,00
Vàng TN 29,82
1,07 117,68 2,39
0,05 116,02
Đen ĐC 29,05
1,01 100,00 2,25
0,04 100,00
Đen TN 34,27
0,96 117,97 2,67
0,03 118,67
Kết quả ở bảng 4 cho thấy việc xử lý dung dịch nước dừa ở giống vừng vàng đã làm
tăng trọng lượng tươi 17,68% và tăng trọng lượng khô 16,02% so với đối chứng; ở giống
vừng đen tăng trọng lượng tươi 17,97%, tăng trọng lượng khô 18,67% so với đối chứng.
Như vậy, qua các số liệu thu được từ các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, chúng tôi
nhận thấy sự tương quan thuận giữa tỉ lệ nảy mầm, chiều cao cây, diện tích lá và trọng lượng
cây khi xử lý dung dịch nước dừa. Điều này có thể lý giải là do các chất dinh dưỡng và các
chất có hoạt tính sinh học có trong nước dừa đã thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong cơ thể
cây vừng, làm tăng sự hình thành các tế bào, các mô, tạo điều kiện cho cây phát triển, làm tiền
chắc/cây
% so với ĐC Lô TN
Số hạt
chắc/cây
% so với ĐC
Vàng ĐC 419,4
5,99 100,00 Đen ĐC 404,7
4,12 100,00
Vàng TN 471,9
3,37 112,52 Đen TN 458,6
4,26 113,32
Kết quả cho thấy ở giống vừng vàng có số lượng hạt chắc/cây nhiều hơn giống vừng
đen. Vừng vàng ở lô thực nghiệm có số hạt chắc/cây vượt 12,52% so với đối chứng. Vừng
đen vượt 13,32% so với đối chứng.
Từ bảng 5 và bảng 6 có thể suy ra số lượng hạt chắc trung bình trên mỗi quả. Ở giống
vừng vàng, công thức đối chúng đạt trung bình 74,9 hạt chắc/quả, công thức thức nghiệm đạt
trung bình 76,1 hạt chắc/quả. Ở giống vừng đen, công thức đối chứng đạt trung bình 55,4 hạt
chắc/quả, công thức thực nghiệm đạt trung bình 57,3 hạt chắc/quả.
Ngoài ra, theo dõi tỉ lệ hạt lép/cây chúng tôi dã nhận thấy việc xử lý nước dừa cũng đã
làm giảm tỉ lệ hạt lép:
- Ở giống vừng vàng: đối chứng có tỉ lệ lép 4,68%, thực nghiệm có tỉ lệ lép 4,29%.
- Ở giống vừng đen: đối chứng có tỉ lệ lép 2,31%, thực nghiệm có tỉ lệ lép 1,72%.
3.2.3. Trọng lượng hạt khô/cây và trọng lượng 1000 hạt: Cân trọng lượng khô hạt
chắc/cây và trọng lượng 1000 hạt chúng tôi thu được kết quả ở bảng 7 và bảng 8:
1000 hạt (g)
% so với
ĐC
Vàng ĐC 2,311
0,104 100,00 Đen ĐC 2,521
0,178 100,00
Vàng TN 2,381
0,093 103,03 Đen TN 2,592
0,192 102,82
Kết quả cho thấy trọng lượng 1000 hạt của cây vừng có sự sai khác giữa việc xử lý
nước dừa so với đối chứng. Ở giống vừng vàng đã làm tăng 3,03%, giống vừng đen đã làm
tăng 2,82%.
Qua các chỉ tiêu về năng suất đã phân tích ở trên cho thấy việc xử lý nước dừa đã làm
tăng các yếu tố cấu thành năng suất của cây vừng vàng và vừng đen so với khi trồng trong
điều kiện bình thường, từ đó dẫn đến hiệu quả của năng suất cuối cùng. Điều này rất có ý
nghĩa khi thu hoạch và có thể nói: trên cơ sở xử lý nước dừa đã thúc đẩy quá trình sinh trưởng
phát triển, thúc đẩy quá trình ra hoa, tạo quả, giảm tỷ lệ lép, hình thành năng suất cuối cùng.
3.3. Các chỉ tiêu về phẩm chất hạt
Kết quả phân tích hàm lượng chất béo tổng số, protit, gluxit tổng số ở hạt của vừng thí
nghiệm được trình bày ở bảng 10:
Bảng 10: Ảnh hưởng của dung dịch nước dừa đến chất lượng hạt
của cây vừng vàng và vừng đen
Chỉ tiêu phân tích Lô TN Hàm lượng % tăng so với DC
Lipit tổng số Vàng ĐC 52,017
0,79
Đen TN 14,893
0,19 0,546%
Ở giống vừng vàng, khi xử lý dung dịch nước dừa đã làm tăng hàm lượng chất béo
tổng số trong hạt lên 1,094% trọng lượng hạt, tăng hàm lượng protit tổng số lên 1,231% trọng
lượng hạt và tăng hàm lượng gluxit tổng số lên 0,407% trọng lượng hạt.
Ở giống vừng đen, khi xử lý dung dịch nước dừa đã làm tăng hàm lượng chất béo tổng
số trong hạt lên 0,736% trọng lượng hạt, tăng hàm lượng protit tổng số lên 0,655% trọng
lượng hạt và tăng hàm lượng gluxit tổng số lên 0,546% trọng lượng hạt.
Chất lượng hạt vừng thực nghiệm cả 2 giống vừng vàng và vừng đen đã được cải thiện
so với đối chứng. Điều này chứng tỏ khi xử lý nước dừa đã có tác động đến việc hình thành
và tích lũy các chất dự trữ trong hạt.
4. Kết luận
Qua việc nghiên cứu, thăm dò ảnh hưởng của việc xử lý hạt vừng trước khi gieo và
phun lên lá ở các thời kỳ sinh trưởng của 2 giống vừng vàng và vừng đen, trồng trong chậu thí
nghiệm trong nền đất cát ven sông Cu Đê và điều kiện khí hậu tại thành phố Đà Nẵng, chúng
tôi có thể rút ra một số kết luận bước đầu như sau:
- Việc xử lý ngâm hạt vừng trước khi gieo đã thúc đẩy nhanh quá trình nẩy mầm của
cả 2 giống vừng vàng và vừng đen. Đây là một điều kiện thuận lợi trong kỹ thuật trồng vừng.
- Trong điều kiện thí nghiệm, các chỉ tiêu về sinh trưởng: chiều cao cây, diện tích lá,
sinh khối tươi và khô của cả 2 giống vừng đều tăng lên so với đối chứng.
- Khi xử lý bằng nước dừa chất lượng hạt vừng của cả 2 giống đều được cải thiện so
với điều kiện bình thường.
Thực nghiệm của chúng tôi sẽ tiếp tục được kiểm chứng ở những thí nghiệm trong
chậu và ngoài đồng ruộng ở những vụ sau.
(4), p. 271-272.
[9] AK Patra (2001), Response of seasame varieties to dates of sowing during rainy
season, Indian Journal of Agricultural Sciences 71 (8), p. 523-524.