Đề tài: "Một số vấn đề về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam". doc - Pdf 15


Đề tài: "Một số vấn đề
về tỷ giá hối đoái và
chính sách tỷ giá hối
đoái ở Việt Nam".
A - Lời mở đầu

Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến
các phạm trù kinh tế khác và đóng vai trò nh là một công cụ có hiệu lực,
có hiệu quả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi
nớc, đồng thời là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách tiền tệ quốc
gia. Đã bao thời nay, loài ngời đã và đang tiếp tục đứng trớc một vấn đề
có tầm quan trọng đặc biệt này và cố gắng tiếp cận nó, mong tìm ra một
nhận thức đúng đắn để từ đó xác định và đa vào vận hành trong thực tế
một tỷ giá hối đoái phù hợp, nhằm biến nó trở thành một công cụ tích cực
trong quản lý nền kinh tế ở mỗi nớc.
Tỷ giá hối đoái, nh các nhà kinh tế thờng gọi là một loại "giá của
giá" , bị chi phối bởi nhiều yếu tố và rất khó nhận thức, xuất phát từ tính
trừu tợng vốn có của bản thân nó. Tỷ giá hối đoái không phải chỉ là cái gì
đó để ngắm mà trái lại, là cái mà con ngời cần phải tiếp cận hàng ngày,
hàng giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong việc sử lý
những vấn đề cụ thể liên quan đến các chính sách kinh tế trong nớc và
quốc tế. Và do vậy, nhận thức một cách đúng đắn và sử lý một cách phù
hợp một cách tỷ giá hối đoái là một nghệ thuật.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày nay, khi mà quá trình quốc
tế hoá đã bao trùm tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và trong cuộc
sống, thì sự gia tăng của hợp tác quốc tế nhằm phát huy và sử dụng những
lợi thế so sánh của mình đã làm cho việc quản lý đời sống kinh tế của đất

giá hối đoái" đợc ngầm hiểu là số lợng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua
một đơn vị ngoại tệ, tuy nhiên ở Mỹ và Anh đợc sử dụng theo nghĩa ngợc
lại: số lợng đơn vị ngoại tệ cần thiết để mua một đồng USD hoặc đồng
bảng Anh; ví dụ: ở Mỹ 0,8 xu/USD.
Các nhà kinh tế thờng đề cập đến hai loại tỷ gia hối đoái:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (e
n
): đây là tỷ giá hôí đoái đợc biết đến
nhiều nhất do ngân hàng nhà nớc công bố trên các phơng tiện thông tin
đại chúng hàng ngày.
- Tỷ giá hối đoái thực tế (e
r
) đợc xác định e
r
= e
n
* P
n
/P
f

Pn: chỉ số giá trong nớc
Pf: chỉ số giá nớc ngoài
Tỷ giá hối đoái thực tế loại trừ đợc sự ảnh hởng của chênh lệch
lạm phát giữa các nớc và phản ánh đúng swsc mua và sức cạnh tranh của
một nớc.
2. Sự hình thành tỷ giá hối đoái
a- Cầu về tiền trên thị trờng ngoại hối
Có cầu về tiền của nớc A trên thị trờng ngoại hối khi dân c từ các
nớc khác mua hàng hoá và dịc vụ đợc sản xuất ra tại nớc A. Một nớc

Đ
S Lo
D

Qo Q(đ)

2. Phân loại tỷ giá hối đoái
Trong thực tế tuỳ từng nơi từng lúc khi quan tâm đến một khía cạnh
nào đó của tỷ gía hối đoái ngời ta thờng gọi đến tên đến loại tỷ giá đó.
Do vậy cần thiết phải phân loại tỷ giá hối đoái.
Dựa vào những căn cứ khác nhau ngời ta chia ra nhiều loại tỷ giá
khác nhau:
a- Căn cứ vào phơng tiện chuyển ngoại hối, tỷ giá đợc chia ra làm
hai loại
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

4

-Tỷ giá điện hối mà tỷ gía mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách
nhiệm chuyển ngoại hối bằng điện( telegraphic transfer -T/T)
-Tỷ giá th hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách
nhiệm chuyển ngoại hối bằng th ( mail transfen M/T)


giao nhận ngoại hối sẽ đợc thực hiện theo thời hạn nhất định ghi trong hợp
đồng(có thể là 1,2,3 tháng sau).
e- căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng tỷ giá
chia ra làm hai loại:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

5

- Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
- Tỷg ía bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
II- Những nhân tố ảnh hởng tới tỷ giá hối đoái:
1- Cán cân thơng mại: trong các điều kiện khác không đổi nếu nhập
khẩu của một nớc tăng thì đờng cung về tiền của nớc ấy sẽ dịch chuyển
về phía bên phải, tỷ giá hối đoái giảm xuống; nếu xuất khẩu tăng thì đờng
cầu về tiền của nớc ấy sẽ dịch chuyển sang trái tỷ giá hối đoái tăng lên.
2- Tỷ giá lạm phát tơng đối: nếu tỷ lệ lạm phát của một nớc cao
hơn tỷ lệ lạm phát của một nớc khác thì nớc đó sẽ cần nhiêù tiền hơn để
mua một lợng tiền nhất định của nớc kia. Điều này làm cho cung tiền
dịch chuyển sang phải và tỷ giá hối đoái giảm xuống.
3- Sự vận động của vốn: khi ngời nớc ngoài mua tài sản tài chính,
lãi suất có ảnh hởng mạnh. Khi lãi suất của một nớc tăng lên một cách
tơng đối so với nớc khác thì các tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn
và có nhiều ngời dân nớc ngoài muốn mua tài sản ấy. Điều này làm cho
đờng cầu về tiền của nớc đó dịch chuyển sang phải và làm tăng tỷ giá hối
đoái của nó. Đây là một trong những ảnh hởng quan trọng nhất tới tỷ giá ở
các nớc phát triển cao.
4- Dự trữ, phơng tiện thanh toán, đầu cơ: tất cả đều có thể làm dịch
chuyển đờng cung và cầu tiền tệ. Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn
về tiền, đặc biệt trong điều kiện thông tin liên lạc hiện đại và công nghệ

càng thiếu vốn để tiếp tục kinh doanh. Đối với hàng nhập, thì khi vật t
nguyên liệu thiết bị về nớc nhà nớc đứng ra phân phối cho các ngành
trong nền kinh tế quốc dân với mức giá thấp (phù hợp với mức tỷ giá 150
VNĐ/Rúp và 225VND/USD nêu trên). Nh vậy, các ngành, các địa phơng
đợc phân phối các loại vật t,nguyên liệu đó thì đợc hởng phần giá thấp
còn ngân sách nhà nớc lại không thu đợc chênh lệch giá. Việc thực hiện
cơ chế tỷ giá kết toán nội bộ trong thanh toán xuất - nhập khẩu và bù lỗ
hàng xuất khẩu đó là:
- Nếu thực hiện nghiêm trọng nghĩa vụ giao hàng xuất khẩu cho bạn
để có thể đa hàng nhập về đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, thì
mức lỗ của ngân sách cho hàng xuất khẩu lớn gây trở ngại cho việc điều
hành ngân sách - Nếu trì hoãn cho việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng xuất
khẩu nhng trong khi đó vẫn yêu cầu bạn giao hàng nhập cho ta theo tiến
độ, thì việc bù lỗ hàng xuất khẩu đợc giảm ở mức độ nhất định, nhng
nghĩa vụ nợ của ta với bạn lại tăng lên đáng kể.
Tỷ giá qui định thấp nên các tổ chức kinh tế và cá nhân có ngoại tệ
không bán ngoại tệ cho ngân hàng, vì làm nh vậy sẽ bị mất lãi. Các tổ
chức đại diện nớc ngoài hoặc cá nhân nớc ngoài cũng không chuyển tiền
tài khoản ở ngân hàng ở chi tiêu mà thờng đa hàng từ nớc ngoài vào
hoặc sử dụng ngoại tệ tiền mặt trực tiếp trên thị trờng. Do đó cơ chế tỷ giá
của thời kỳ này đã trở thành một yếu tố tạo cho ngoại tệ bị thả nổi, mua bán
trên thị trờng trong nớc. Thực tế này vừa gây thiệt hại về kinh tế cho Nhà
nớc vừa làm phát sinh thêm những tiêu cực trong đời sống xã hội. Đồng
thời nó tác động trở lại tỷ giá kết toán nội bộ và làm cho tỷ giá giữa đồng
nội tệ giữa các đồng ngoại tệ diễn biến phức tạp thêm. Từ tình hình trên cho
thấy, trớc năm 1989 tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ do
nhà nớc qui định không tính đến biến động giá trên thị trờng đang bị
trợt ngã nghiêm trọng, nên đã làm cho mức bù lỗ hàng xuất khẩu trong
ngân sách quá lớn, gây khó khăn trong việc điều hành và quản lý ngân sách
và thực hiện nghĩa vụ giao hàng mà ta đã cam kết với nớc ngoài, ngoại tệ

trung thực và chính xác hơn, không bị bóp méo. Tỷ giá đó góp phần làm
cho công tác kế hoạch hoá vay nợ và trả nợ nớc ngoài từ ngân sách Nhà
nớc thuận lợi hơn và có cơ sở vững chắc hơn.
* Mặc dù có những thành công rất đáng kể trong lĩnh vực tỷ giá và
quản lý ngoại tệ, nhng vẫn còn một số hạn chế đã làm ảnh hởng không
tốt đến quản lý, điều hành ngân sách, đó là
- Nguồn ngoại tệ không đợc quản lý chặt chẽ, còn bị buông lỏng đã
khiến cho lực lợng ngoại tệ của Nhà nớc tăng chậm và cha tơng xứng
với mức độ tăng của cán cân thơng mại, một cơ sở của sự ổn định thu chi
ngân sách Nhà nớc là quĩ ngoại tệ cha đợc tăng cờng.
- Vì tỷ giá hối đoái chính thức theo sát tỷ giá thị trờng nếu không ổn
định thì không những ngân sách bị động mà việc tính toán thu chi Ngân
sách bằng ngoại tệ theo không kịp thời dẫn tới không sát với thực tế thị
trờng, điều hành Ngân sách Nhà nớc không tránh khỏi lúng túng, nhất là
trờng hợp bị thiếu hụt khi trả nợ đến hạn đòi phải giải quyết.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

8

1.2: Thực trạng quan hệ tỷ giá và nợ nớc ngoài
Tỷ giá có mối quan hệ hữu cơ với nợ nớc ngoài và công tác quản lý
nợ. Trớc năm 1979, Việt Nam có sử dụng 20tỷ Yên Nhật tơng đơng 92
triệu USD (tỷ giá 216 Yên = 1USD). Ngày 6/11/1992 chính phủ Nhật mở
lại tín dụng với Việt Nam và cho Việt Nam vay 20 tỷ Yên, tơng đơng 159
triệu USD (tỷ giá 126 Yên= 1USD). Ngoài ra, vào thời điểm 1987 trở về
trớc còn có các khoản vay các công ty của Nhật 20 tỷ Yên, tơng đơng
125 triệu USD ( tỷ giá 160 Yên= 1USD). Đầu năm 1995, đồng Yên lên giá,
1USD chỉ còn 90 Yên là nh vậy, xét về góc độ tỷ giá thì trong thời gian
qua sự tăng giá của đồng Yên Nhật, đã làm tăng thêm gánh nặng nợ gốc qui


9

Thiếu vốn phải vay, nhng không phải ai cho vay với điều kiện nào
cũng chấp nhận cả. Phải thấy rằng, nếu tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam hạ,
đồng ngoại tệ tăng, thì khoản trả nợ của Ngân sách Nhà nớc của doanh
nghiệp sẽ phải tăng , nhng xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ lại có lợi, đó là
một bài toán khó, phải tính xem lợi ích do xuất khẩu mang lại cho phát
triển kinh tế có bù lại đợc thiệt hại của số tiền Ngân sách Nhà nớc và
doanh nghiệp phải trả nợ cao hơn không?
Vì lẽ đó, chúng ta phải tỉnh táo đàm phán với các chủ nợ khi vay,
không thể chấp nhận bất cứ điều kiện nào và không thể không nghĩ đến việc
trả giá, đặc biệt phải chú trọng đến các vấn đề chính trị của các khoản vay.
Phải thấy đợc rằng các chủ nợ cho vay là để lấy lãi chứ không phải làm
việc nghĩa. Vấn đề là ơe chỗ làm thế nào để giải quyết hài hoà giữa lợi ích
của bên cho vay và bên vay. Việc quảnlý nợ khônghcỉ quy định trách nhệm
mà còn phải luôn chú ý tới hiệu quả sử dụng khoản vay. Vì vậy quản lý đầu
t sử dụng các khoản vay cho các công trình, mục tiêu là một việc có tầm
quan trọng đặc biệt. Các cơ quan tài chính và ngân hàng phải đặc biệt chú ý
tới vấn đề này-vay cho mục tiêu nào đợc quản lý theo mục tiêu đó.
Về viện trợ: viện trợ không hoàn lại không nhiều, nhng cũng phải
đợc quản lý chặt chẽ. Những khoản viện trợ cuả nớc ngoài cho chính phủ
và các cấp chính quyền phải đợc đa vào ngân sách nhà nớc để cân đối
và sử dụng, không hình thành quỹ riêng. Tuy các khoản này ngân sách
không phải trả lại nhng là một nguồn khá quan trọng góp phần giải quyết
các vấn đè của đất nớc.
Những khoản tài trợ của các tổ chức quốc tế và cá nhân cho các dự án
ngoài ngân sách và các tổ chức xã hội cũng phải đợc chuyển vào ngân
sách để quản lý và chỉ cấp phát bằng tiền Việt nam theo tỷ giá chính thức ở
thời điểm sử dụng, không cấp phát bằng ngoại tệ.

sản xuất-kinh doanh trong khi đó ngân sách phải tiếp tụcthanh toán lãi suất
về huy động tiền gửi. Kinh nghiệm của một số nớc châu á (nh Malaixia,
Thái lan, Indonexia) cho thấy việc sử lý hài hoà phối hợp điều hành lãi suất
và tỷ giá ngoại hối đã làm cho tỷ giá giữ đợc biên độ ổn định và tiền tệ
không có biến động mạnh.
Do đồng USD mất giá ở mức cao, nên hiện nay Mỹ đang đẩy mạnh
xu hớng nâng cao lãi suất. Việc làm này sẽ làm tăng lãi suất tiền vay bằng
ngoại tệ USD, và do đó sẽ tác động trực tiếp đến các khoản vay nợ của Việt
nam. Với diễn biến này đòi hỏi chúng ta cần có sách lợc chọn đồng tiền
với mức lái suất thích hợp, nhằm đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay đạt
hiệu quả.
Tóm lại: từ những vấn đề phân tích trên đây và thực trạng Việt nam
cho thấy, tình hình taì chính quốc gia (đặc biệt là ngân sách nhà nớc) và
chế độ ngoại tệ, tỷ giá có quan hệ biện chứng qua lại hết sức chặt chẽ, một
mặt tình hình tài chính (mà biểu hiện tập trung là ngân sách nhà nớc) là
một nhân tố hàng đầu quyết định đến sự lựa chọn tỷ giá, phơng án điều
chỉnh tỷ giá, mặt khác chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá cũng có ảnh hởng
hết sức mạnh mẽ, toàn diện đến quản lý. Nền tài chính quốc gia thông qua
nhiều kênh, dới nhiều hình thức và góc độ khác nhau, chính vì vậy khi đặt
vấn đề lựa cọn chính sách, phơng án điều chỉnh tỷ giá sẽ là sai lầm nghiêm
trọng nếu nh không đề cập, phân tích thực trạng tài chính hiện hành của
quốc gia.
1.4 Tỷ giá hối đoái đối với điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại.
Các nớc đang phát triển thờng thiết ké chính sách tỷ giá hối đoái
nhằm duy trì sức cạnh tranh quốc tế ở mức phù hợp với vị thế cán cân thanh
toán quốc tế lâu bền. Bằng cách tăng giá các hàng thơng mại hoá đợc so
với các hàng hoá không thơng mại hoá đợc; sự phá giá đồng thời chuyển
dịch cầu tổng thể có lợi cho các cho các hàng hoá không thơng mại hoá
đợc, và cung tổng thể có lợi cho các hàng hoá thơng mại hoá đợc, và do
đó giảm bội d cầu đối với hàng hoá thơng mại hoá đợc (tức là cải thiện

khỏi giá trị tỷ giá so sánh sức mua cân bằng.
Tiếp cận khác, có sức hấp dẫn hơn là định nghĩa tỷ giá hối đoái thực
nh là giá so sánh tơng đối giữa hàng hoá mậu dịch và hàng hoá không
mậu dịch hoá đợc, nó đa ra thớc đo các động lực quyết định sự phân
phối nguồn lực giữa hai khu vực trọng yếu này của nền kinh tế: nếu giá nội
địa của hàng hoá thơng mại hoa so với hàng hoá không thơng mại hoá
đợc thì nguồn lực sẽ đợc phân phối lại sang khu vực hàng hoá thơng mại
hoá và cán cân ngoại thơng sẽ đợc cải thiện. Theo nghĩa đó, thì điểm cân
bằng của tỷ giá thực sẽ tơng ứng với giá so sánh giữa hàng hoá thơng mại
hoá và hàng hoá không thơng mại hoá đem lại đồng thời sự cân bằng nội
và cân bằng ngoại. Cân bằng nội có nghĩa là thị trờng hàng hoá không
thơng mại hoá đợc thanh toán liên tục, cân bằng ngoại có nghĩa là thâm
hụt cán cân vãng lai đợc tài trợ một cách bền vững từ luồng vốn nớc
ngoài vào.
Ngoài chỉ số giá thực tế thì vẫn còn có các vấn đề tiềm tànglên quan
đến biến động chỉ số và sức cạnh tranh với bên ngoài. Một số nghiên cứu
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

12

gần đây chỉ ra sự thay đổi chỉ số tỷ giá thực quan đợc có thể là biểu hiện
của sự thay đổi điểm cân bằng của tỷ giá thực do các loại cơn sốc trong
nớc và nớc ngoài gây ra (ví dụ: sự tác động cảu chênh lệch mức tăng
năng suất, thay đổi điều kiện ngoại thơng, cải cách thuế quan, thay đổi
trong điều hành ngân sách chính phủ, sự tăng lên của lãi suất thực quốc tế)
lên cân bằng của tỷ giá thực.
Chênh lệch về mức độ phát triển, tiến bộ trong công nghệ có tác động
quan trọng đến điểm cân bằng của tỷ giá thực, ví dụ: nếu năng suất lao
động tăng nhanh hơn trong khu vực hàng hoá thơng mại hoá so với khu

cân bằng của tỷ giá hối đoái thực không chỉ định do vị thế ngân sách quy
định, mà còn do cơ cấu chi và thu của chính phủ quy định.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

13

Một sự tăng lên lãi xuất quốc tế sẽ tác động đến điểm cân bằng của
tỷ giá hối đoái thực thông qua hai kênh: thứ nhất, dới chế độ tỷ giá cố định
thì lãi xuất trong nớc tăng lên để giữ đợc mức so sánh với lãi xuất quốc
tế, do đó làm giảm chênh lệch giữa đầu t và tiết kiệm. Một sự cải thiện cán
cân vãng lai nh vậy sẽ gây nên việc giảm tỷ giá thực cân bằng. Thứ hai,
phụ thuộc vào việc nớc đó là chủ nợ hay con nợ ròng, một sự cải thiện
hoặc xấu đi phản ánh sự thay đổi tơng ứng cảu sự thay đổi vị thế chuyển
giao các nhân tố thu nhập, tác động này sẽ thúc đẩy thêm việc giảm tỷ giá
thực cân bằng là không rõ ràng, nếu một nớc là con nợ lớn. Tác động của
lãi xuất quốc tế cao hơn cũng phụ thuộc vào phản ứng ngân sách của chính
phủ. Nếu chính phủ làm trung hoà tác động của ngân sách lên sự thay đổi
lãi xuất bằng cách giảm chi tiêu hàng hoá thơng mại hoá, thì tỷ giá thực
cân bằng sẽ có xu hớng giảm trong dài hạn. mặt khác, tỷ giá thực cân bằng
sẽ tăng nếu việc trả lãi xuất đợc tài trợ bằng cách tăng thuế, hoặc nếu kèm
theo việc giảm chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá không thơng mại hoá.
Tỷ giá hối đoái thực, sức cạnh tranh quốc tế và lạm phát:
Trong khi tỷ giá thực có thể chênh lệch ra khỏi điểm cân bằng vì một
số các cơn sốc gây nên thì nguyên nhân chủ yếu của viêvj xấu đi sức cạnh
tranh đối với bên ngoài ở hầu hết các nớc đang phát triển là tỷ lệ lạm phát
nội địa cao kèm theo việc duy trì chế độ tỷ giá tỷ giá danh nghĩa cố định.
Các tiếp cận để ngăn ngừa sự xấu đi của sức cạnh tranh quốc tế là thực hiện
quy tắc tỷ giá thực.
Nh vậy quy tắc tỷ giá có thể ngăn ngừa đợc sự xuất hiện mất cân

về phía cạnh khác, trong nền kinh tế nhỏ, cung tiền tệ có thể bị gia tăng do
nguồn bên ngoài tăng lên, thì một sự bùng nổ giá cũng có thể xảy ra ngay
cả khi chính sách tín dụng không bành chớng.
Chính sách hỗ trợ đối với các biến động của giá thông qua điều chỉnh
tiền tệ và tỷ giá sẽ tác động đến quá trình hình thành tiền lơng trong nền
kinh tế. Theo chính sách đó thì ngời lao động sẽ không quan tâm nhiều
đến tác động lên công ăn việc làm của việc định ra tiền lơng danh nghĩa
cao hơn, vì các công ty có đủ khả năngchuyển chi phí tiền lơng cao hơn
sang giá cao hơn, vì vậy sự tăng lơng sẽ phản ánh đầy đủ trong tiền lơng
và tăng giá cả tiếp tục theo đó. Tác động lên tổng sản phẩm của các chính
sách hỗ trợ tài chính và tỷ giá hối đoái sẽ phụ thu vào nguồn gây nên biến
động. Nếu cơn sốt cung thống trị, thì biến động của tổng sản phẩm sẽ tăng
lên do chỉ số hoá đầy đủ tỷ giá hối đoái. Ngợc lại, nếu cơn sốt cầu thóng
trị thì các chính sách hỗ trợ sẽ làm ổn định tổng sản phẩm.
Các nghiên cứu về hệ quả của quy tắc tỷ giá thực voà ổn định giá chỉ
mới bắt đầu gần đây và có ít. Ađam và Gros(1966) nghiên cứu vấn đề bằng
cách sử dụng một số mô hình phân tíc đơn giản với các giả thiết khác nhau
liên quan đến cơ cấu hàng hoá, tính cứng nhắc của giá lơng, độ tự do lu
chuyển vốn. Họ kết luận rằng: chính sách tiền tệ có thể mất khả năng kiểm
soát lạm phát nếu đặt tỷ giá danh nghĩa theo quy tắc tỷ giá thực và nếu sau
đó lại tìm cách kiểm soát lạm phát, thì sẽ mất khả năng kiểm soát diễn biễn
kinh tế vĩ mô khác, họ cũng lập luận rằng: nếu tỷ giá hối đoái thực nâng
quá mức so với điểm cân bằng thì lạm phát chắc chắn sẽ cao hơn.
Hoạt động của quy tắc tỷ giá thực và chính sách ngân sách liên quan
chặt chẽ với nhau Lizondc(1989) đa ra lợc đồ mối quan hệ giã in tiền do
thiếu hụt ngân sách và tốc độ phá giá tỷ giá. Trong đó, giá trị cân bằng lâu
bền của tỷ giá thực là hàm không chỉ biến thực nêu trên mà còn của tỷ lệ
lamj phát trong nớc. Đại lợng sau quyết định tổng thu đợc của chính
phủ thông qua thuế lạm phát, đếnlợt nó lại tác động lên giá trị tài sản của
t nhân và chi tiêu trong dài hạn, và do đó lên điểm cân bằng của tỷ giá

cách thận trọng. Gánh nặng của điều chỉnh ít nhất là một phần do các chính
sách tài chính chịu, hơn là hoàn toàn dồn cho điều chỉnh tỷ giá. Theo nghĩa
đó thì cần phải chú ý rằng các chính sách nh vậy bản thân chúng có thể
chịu tác động bởi chế độ tỷ giá hối đoái mà chính phủ đa ra.
Để phân tích tác động của tỷ giá hối đoái tới nền kinh tế ta đa ra
khái niệm khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh tranh =

Po/P
trong đó: Po: giá sản phẩm ngoài tính theo gía thi trờng nớc ngoài.
P: giá sản phẩm cùng loại sản xuất trong nớc tính theo
đồng nội tệ.


tỷ giá hối đoái của đồng tiền nớc ngoài tính theo đồng
nội địa.

Với P và Po không đổi khi E tăng , EPo sẽ tăng. Giá của sản phẩm
nớc ngoài trở nên đắt tơng đối so với giá của sản phẩm trong nớc và
ngợc lại, giá của sản phẩm trong nớc trở nên rẻ, tơng đối so với sản
phẩm nớc ngoài. Sản phẩm trong nớc do đó có khả năng cạnh tranh cao
hơn xuất khẩu sẽ tăng ( X tăng ), nhập khẩu giảm đi (IMgiảm), điều này
làm cho xuất khẩu ròng (NX= X_IM) tăng lên. Vì AD=C+I+G+NV nên
NX tăng lên làm cho AD dịch phải, trên hình vẽ ta thấy sản lợng cân bằng
Q tăng lên tỷ lệ thất nghiệp giảm.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

16

AD'

đoái biến tớng từ hai hình thức cơ bản là cố định và thả nổi. Trong thế giới
mà sự phụ thuộc lẫn nhau càng tăng, việc lựa chọn một chế độ ngoại hối
phù hợp với bối cảnh quốc tế, điều kiện cụ thể từng bớc và đáp ứng điều
chỉnh kinh tế vĩ mô, nhất là với các nớc đang thực hiện chuyển đổi cơ chế
thực sự là vấn đề nan giải.
1. Tỷ giá hối đoái cố định bản vị vàng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

17

Theo chế độ bản vị vàng,tỷ giá hối đoái đợc qui định căn cứ vào
hàm lợng vàng của các đồng tiền. Trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện
đại, khi thơng mại quốc tế tăng lên cùng với hoạt động đầu cơ, chế độ bản
vị vàng này không đáp ứng đợc nhu cầu phát triển và các nớc thôi áp
dụng từ năm 1971.
2. Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp
Loại tỷ giá hối đoái này đợc áp dụng tại các nớc Xã hội chủ nghĩa
thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tỷ giá hối đoái kế hoạch bao cấp
thờng chênh lệch nhiều lần so với tỷ giá hối đoái thị trờng, không có vai
trò là công cụ điều tiết vĩ mô đối với xuất nhập khẩu, loại tỷ giá hối đoái
này đợc áp dụng tại Việt Nam trớc năm 1989
3. Tỷ giá hối đoái thả nổi tự do
Theo chế độ tỷ giá hối đoái này, mức tỷ giá hối đoái đợc quyết định
hoàn toàn bởi các lực lợng cung cấp cầu về ngoại tệ. Trong hệ thống này
chính phủ giữ thái độ thụ động, để cho thị trờng ngoại tệ đánh giá giá trị
của ngoại tệ - loại tỷ giá hối đoái này ít đợc áp dụng vì các thị trờng tiền
tệ thờng không hoàn hảo và do vậy luôn cần có vai trò can thiệp của nhà
nớc
4. Tỷ giá hối đoái thả nổi có điều tiết

tế khi cần phản ứng lại các cơn sốc ngẫu nhiên. Các tỷ giá hối đoái " có
quản lý " hoặc " cố định linh hoạt" trở thành chế độ tỷ giá phổ biến nhất ở
các nớc đang phát triển, loại cơn sốc mà nền kinh tế thờng phải đối phó
trở thành vấn đề cốt lõi cần xem xét khi định liệu tỷ giá hối đoái cố định
hay điều chỉnh. Các nghiên cứu trớc đây đã nhận dạng một số tiêu chuẩn
quản lý để phản ứng lại các cơn sốc trong nớc. Các cơn sốc nội địa đòi hỏi
áp dụng. Tỷ giá hối đoái cố định hay linh hoạt phụ thuộc vào cơn sốc là tiền
tệ hay thực tế khi cơn sốc là tiền tệ thì quan điểm xa nay là duy trì tỷ giá
cố định sẽ co hiệu lực hơn trong việc ổn định tổng sản phẩm. Vì cung tiền
tệ là biến nội sinh dới chế độ tỷ giá hối đoái, các đột biến trong thị trờng
tiền tệ nội địa đơn giản sẽ đợc hấp thụ bởi thay đổi của dự trữ ngoại tệ mà
không ảnh hởng đến các điều kiện cung cầu của thị trờng hàng hoá, là
nơi quy định mức độ biến động kinh tế. Đổi lại khi cơn sốc là thực tế thì tỷ
giá hối đoái cần phải đợc điều chỉnh ổn định tổng sản phẩm bằng cách tạo
nên (hoặc giảm) cầu bên ngoài. Nói chung, theo mục tiêu của chính sách
nhằm vào ổn định tổng sản phẩm trớc các cơn sốc tạm thời thì tỷ giá hối
đoái cần phải đợc điều chỉnh khi cơn sốc xuất phát từ bên ngoài hoặc từ thị
trờng.
Các yêu cầu khi lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái: một số tiêu chuẩn
quy định tỷ giá phụ thuộc vào bản chất của cơn sốc lên nền kinh tế cũng
nh đặc trng cơ cấu của nền kinh tế. Tuy vậy trong thực tế khó mà áp dụng
đó cho các trờng hợp cụ thể. Các khó khăn đó không những lên quan đến
các vấn đề thực tiễn, sự nhận biết nguồn gốc các cơn sốc và các đặc trng
cơ cấu mà còn liên quan đến mâu thuẫn tiềm tàng giữa các mục tiêu chính
sách khác nhau. Tiêu chuẩn để lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái thích
hợp còn phụ thuộc vào các mục tiêu chính sách do chính phủ đặt ra. Các
nghiên cứu về các lợi thế của tỷ giá hối đoái cố định và linh hoạt hầu nh là
dành cho trờng hợp một nền kinh tế nhỏ không trải qua lạm phát cao và
nói chung ở trạng thái cân bằng ngoại và chịu tác động của các cơn sốc tạm
thời. Cân bằng tập trung vào ổn định tổng sản phẩm, thay cho cân bằng cán

năng can thiệp thị trờng là nhằm điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trờng.
+ Ngân hàng nhà nớc phải không ngừng chú trọng việc xây dựng và
tăng cờng bộ khung của thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng bằng việc tăng
số lợng thành viên trên thị trờng. Từng bớc cho các tổ chức tín dụng
không phải là ngân hàng thơng mại tham gia đầy đủ các nghiệp vụ nh kỳ
hạn hoán đổi mặc dù có thể giới hạn ở việc các giao dịch này chỉ đợc thực
hiện voí các ngân hàng thơng mại và ngân hàng nhà nớc.
+ Ngân hàng nhà nớc và cac bộ ngành phải có kế hoạch dự tính
trớc các giao dịch của mình một cách cụ thể và không để các thành phần
kinh tế khác bật ra khỏi thị trờng chính thức bằng cách các giao dịch của
nhà nớc không chỉ đợc thực hiện trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng
mà còn phải mở rộng giao dịch trên khu vực tự do của thị trờng.
+ Chú trọng hơn đến việc hoàn thiện và phát triển các công cụ của thị
trờng ngoại tệ mà trớc mắt là các nghiệp vụ đang hiện tồn tại nh các
nghiệp vụ mua bán có kỳ hạn ngoại tệ hoán đổi bằng các biện pháp cụ thể
nh: ngân hàng nhà nớc, cơ quan có trách nhiệm; tổ chức báo cáo bồi
dỡng nghiệp vụ ngân hàng, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
ngân hàng, nên gấp rút tổ chức các lớp bồi dỡng về bản chất và kỹ thuật
các nghiệp vụ hối đoái nói riêng và nhệm cụ nào đó nói chung khi mới đợc
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

20

đa vào sử dụngđể đảm bảo một sự nhận thức đúng về bản chất cũng nh
kỹ thuật nghiệp vụ khi thực hiện.
+ Việc can thiệp của ngân hàng nhà nớc và nhằm vào điều phối các
quan hệ cung cầu trên thị trờng chứ không nên có sự can thiệp sâu vào các
nghiệp vụ mang tính kỹ thuật của thị trờng.
+ Nâng cao năng lực cho các tác nhân tham gia thị trờng ngoại tệ

tiếp, chứ không phải quan hệ trực tiếp nhân quả.
2- Các nghiệp vụ thị trờng hối đoái:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

21

Thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái
là một trong những biện pháp rất quan trọng của nhà nớc để giữ vững sự
ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia. Đây là biện pháp trực tiếp tác động
vào tỷ giá hối đoái.
Đây là hoạt động mang tính chủ quan, do vậy việ lựa chọn các thời
điểm cần mua bán ngoại tệ trên thị trờng với tỷ giá nào để đạt đợc mục
tiêu điều chỉnh có ý nghĩa quyết định. Để nắm đợc một cách đầy đủ tình
hình cung cầu ngoại tệ trên thị trờng, nagỳ nay nhiều nớc trên thế giới đã
và đang tổ chức các thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng.
Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, một trong những điều kiện
không thể thiếu đợc cho bất kỳ quốc gia nào là cần phải thờng xuyên có
một lợng dự trữ ngoại tệ d sức để can thiệp vào thi trờng khi cần thiết.
3- Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái:
Trong điều kiện tình hình giá cả thị trờng luôn không ổn định, thậm
chí xảy ra những biến động lớn, các nớc thờng sử dụng quỹ dự trữ bình
ổn hối đoái nh là một trong những công cụ để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Nguồn vốn để hình thành quỹ thờng là:
+ Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia.
+ Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái. Theo phơng
pháp này, khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt, quỹ sẽ đa vàng ra
bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cân thanh toán.
4- Vốn để phá giá đồng tiền:
Phá giá đồng tiền là việc nâng cao hoặc hỉam thấp sức mua của đồng

công ty đợc trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu không ngừng tăng lên,
cùng với việc mở rộng ngoại thơng chế độ tỷ giá cũng có những thay đổi
căn bản; chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới bản thân cơ chế điều hành
tỷ giá hối đoái đã đợc nhanh chóng thay đổi phù hợp với bối cảnh thực tế.
Từ một cơ chế đa tỷ giá, mang nặng tính chủ quan bao cấp, xa rời với thị
rờng; tỷ giá hối đoái đã đợc điều chỉnh theo các quan hệ và điều kiện của
các quy luật kinh tế thị trờng. Cơ chế một tỷ giá linh hoạt, có sự điều tiết
của nhà nớc đã phát huy đợc vai trò vừa là một phạm trù kinh tế vận động
theo quy luật cung cầu của nền kinh tế vừa là một công cụ điều tiết vĩ mô
quan trọng của nhà nớc. Nhà nớc đã áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt
có sự quản lý của nhà nớc nhng việc điều hành của nhà nớc trong từng
năm có khác nhau, ta có thể chia ra 3 giai đoạn:
1- Giai đoạn thả nổi tỷ giá: 1989-1993
Trong giai đoạn này, tỷ giá hối đoái VND/USD thể hiện qua bảng 1
dới đây:
Bảng 1: Tỷ giá và lạm phát của Việt nam qua các năm 1989-1993

Tỷ giá USD/VND
Năm
Giá chính thức
nhà nớc
Gía thị trờng tự
do
Tăng giảm %

Lạm phát

1989 4.200 4.570 +8,80 +34,70
1990 6.650 7.550 +13,50 +67,50
1991 12.720 12.550 - 0,02 +68,00

trên là:
+ Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vịkinh tế quốc
doanh có ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định băngf biện
pháp kinh tế: mở trung tâm giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và
ngân hàng trao đổi mua bán ngoại tệ với nhau theo giá thoả thuận.
+ Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại
thơng giữa ngân sách với các tổ chức kinh tế tham gia xuất nhập khẩu.
Thay vào đó, trên cơ sở tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ,
ngân hàng nhà nớc công bố tỷ giá chính thức.
Cơ chế hình thành và quản lý tỷ giá hối đoái mềm dẻo nh vậy cộng
với sự can thiệp điều tiết của ngân hàng nhá nớc đối với lợng ngoại tệ
mua bán tại các phiên giao dịch đã giải toả đợc tâm lý đầu cơ ngoại tệ,
ngăn đợc xu hớng tăng quá mức giá Đôla Mỹ trên thị trờng. Từ tháng
3/1992 giá USD bắt đầu giảm.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

24

2- Giai đoạn cố định tỷ giá 1993 - 1996:
Bảng 2: Lạm phát và tỷ giá Việt nam qua các năm 1993-1996

Năm Tỷ giá
USD/VND
So sánh %
năm trớc
Tốc độ lạm
phát
1993 10.835,00 100,00% 5,2%
1994 11.050,00 +1,98% 14,4%

Trở lại bảng 2, ta thấy qua 4 năm phát triển kinh tế đất nớc (1993 -
1996) tốc độ lạm phát tăng tổng cộng là 36,8% trong khi tỷ giá VND so
với USD chỉ tăng 2% đa đến thực tế giá bán hàng nội địa đã tăng trên 30%
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status