ĐỀ TÀI: “TRÌNH BÀY LÝ
THUYẾT VỀ TUẦN HOÀN VÀ
CHU CHUYỂN TƯ BẢN. Ý
NGHĨA THỰC TIỄN RÚT RA
KHI NGHIÊN CỨU LÝ
THUYẾT NÀY ĐỐI VỚI VIỆC
QUẢN LÝ CÁC DOANH
NGHIỆP CỦA NƯỚC TA KHI
CHUYỂN SANG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XHCN” 1
1
A. Phần mở đầu
Phát triển và hội nhập là một trong những xu thế lớn của thời đại. Đối với
Việt Nam, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, đa
nền kinh tế đi lên theo định hớng xã hội chủ nghĩa, hội nhập cùng nền kinh
tế thị trờng thế giới là nhiệm vụ rất quan trọng. Đó không chỉ là thời cơ, điều
kiện cần thiết để sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đợc có mặt nhiều hơn
trên thị trờng quốc tế mà còn là thử thách lớn về nhiều mặt đối với các doanh
nghiệp và doanh nhân Việt Nam.
Bài viết đợc chia làm ba phần chính:
A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
C. Phần kết bài.
Với kiến thức bản thân còn hạn chế, em tự thấy mình còn nhiều thiếu xót
em rất mong đợc sự đóng góp ý kiến của thầy giáo cho bài viết của em đợc
hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.3
3
B. Phần nội dung
Phần I: lý thuyết chung về tuần hoàn và chu chuyển t
bản
I. Cơ sở lý luận về vấn đề tuần hoàn và chu chuyển của t
bản.
1. Quan điểm của Mác - Lênin về tuần hoàn của t bản.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, t bản luôn luôn vận động và trong
quá trình vận động, nó lớn lên không ngừng. Để đạt đợc hiệu quả sản xuất
kinh doanh nhà t bản không đợc để t bản nhàn rỗi, mà phải sử dụng triệt
để dới nhiều hình thức, chức năng khác nhau. T bản phải đợc tuần hoàn và
Nh vậy tiền của nhà t bản phải chia làm hai phần theo tỷ lệ thích hợp:
Một phần mua sức lao động, một phần mua t liệu sản xuất. Sau khi mua đợc
hàng hoá (Slđ - TLSX) thì t bản đã trút bỏ hình thái tiền tệ mà mang hình
thức hiện vật. Với hình thức hiện vật đó nó không thể tiếp tục lu thông đợc.
Nhà t bản phải đa hàng hoá vào trong quá trình sản xuất, để tạo ra hàng hoá
cung cấp cho thị trờng thì toàn bộ công nhân phải tham gia vào quá trình sản
xuất để tạo ra sản phẩm. Kết quả là nhà t bản có đợc một số hàng hoá mới
mà giá trị của chúng lớn hơn giá trị của những nhân tố đã dùng để sản xuất ra
số hàng hoá đó. Hàng hoá này (H) có thể cạnh tranh đợc ở trên thị trờng,
đáp ứng đợc nhu cầu của ngời tiêu dùng tức là có giá trị sử dụng cao. Nhà
sản xuất mang hàng hoá (H) đó ra thị trờng để bán nhằm thu về đợc vốn và
lợi nhuận tức là T - T là hình thái chuyển hoá của H, sự chuyển hoá này
đợc thực hiện là do một hành vi đơn giản của lu thông hàng hoá, do sự đổi
chỗ giữa hình thức hàng hoá và tiền, hình thái lặp lại ở điểm kết thúc là hình
thái bị gây nên, nhng xét về mặt lợng phải lớn hơn hình thái ban đầu. Sau
một chu kỳ sản xuất nhà t bản thu về cả vốn lẫn lãi từ T một phần trả lơng
cho công nhân, một phần dự trữ để tiếp tục đầu t sản xuất. Quá trình đó cứ
lặp đi lặp lại, tuần hoàn một cách liên tục và hiệu quả sản xuất kinh doanh
chính là lợi nhuận thu về ngày càng tăng nó đợc quy định bởi một loạt những
sự biến hoá hình thái của bản thân tuần hoàn.
2.2. Tuần hoàn của t bản sản xuất.
Công thức chung của tuần hoàn của t bản sản xuất là:
SX H - T - H SX
Tuần hoàn này nói lên sự hoạt động lắp đi lắp lại một cách chu kỳ của t
bản sản xuất, hay quá trình sản xuất của t bản, coi là quá trình sản xuất gắn
liền với việc tăng thêm giá trị, nó không những nói lên việc sản xuất mà còn
nói lên việc tái sản xuất một cách chu kỳ giá trị thặng d nữa, nó nói lên hoạt
động của t bản công nghiệp đang nằm dới hình thái sản xuất của nó, hoạt
động không phải chỉ có một lần, mà là lắp đi lắp lại một cách chu kỳ, thành
đoạn thứ hai của lu thông bị gián đoạn và là giai đoạn kết thúc của tổng tuần
hoàn. Bây giờ nó là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn nhng lại là giai đoạn thứ
nhất của lu thông. Tuần hoàn thứ nhất kết thúc bằng T và cũng có thể trở lại
mở đầu tuần hoàn thứ hai với t cách là t bản - tiền tệ. Tính chất của tuần
hoàn thay đổi các cách giải quyết để biết đợc công thức mà ta đang xét đại
biểu cho tái sản xuất giản đơn hay mở rộng. Nếu xét tái giản đơn của t bản
sản xuất, nếu mọi tình hình khác không thay đổi và hàng hoá đợc mua vào
và bán ra theo đúng giá trị của chúng thì toàn bộ giá trị thặng d sẽ đi vào tiêu
dùng cá nhân của nhà t bản. Sau khi t bản - hàng hoá H đã chuyển hoá
thành tiền, thì bộ phận của tổng số tiền đại biểu cho giá trị - t bản vẫn tiếp
lu thông trong tuần hoàn của t bản công nghiệp; còn bộ phận kia, tức giá trị
thặng d đã chuyển hoá thành tiền, thì đi vào lu thông chung của hàng hoá.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.6
6
Trong hành vi H- T giá trị t bản và giá trị thặng d nằm trong H, cả
hai đều có thể tồn tại tách riêng ra đợc, tức là tồn tại thành những số tiền
riêng biệt; trong cả hai trờng hợp T và t đều là hình thái chuyển hoá của cái
giá trị mà lúc đầu, ở H với t cách là giá cả hàng hoá, có một biểu hiện riêng
của nó, một biểu hiện trên ý niệm mà thôi. Lu thông h - t - h là một lu thông
giản đơn của hàng hoá; giai đoạn thứ nhất của lu thông này tức là h - t thì
nằm trong lu thông của t bản - hàng hoá H - T, do đó nằm trong trong
tuần hoàn của t bản; ngợc lại đoạn bổ sung của nó t - h thì lại nằm ngoài
đoạn thứ nhất của lu thông hàng hoá. Do đó về mặt lu thông mà nói thì H -
T cần đợc bổ sung bằng T - H. Nhng H - T không những đã xảy ra sau
quá trình làm tăng thêm giá trị mà còn là kết quả của nó, nhờ hành vi ấy sản
phẩm - hàng hoá H đã đợc thực hiện rồi. Nh vậy là quá trình làm cho t
bản tăng thêm giá trị, cũng nh việc thực hiện sản phẩm - hàng hoá đại biểu
chio giá trị t bản đã tăng thêm giá trị đều kết thúc bằng H - T.
Trong lu thông của thu nhập của nhà t bản, hàng hoá đã đợc sản xuất
ra, tức là h trên thực tế chỉ đợc dùng để đợc chuyển hoá thu nhập ấy trớc
hết thành tiền, rồi lại từ tiền thành một hàng hoá khác phục vụ cho tiêu dùng
cá nhân. Nhng ở đây chúng ta không nên bỏ qua một việc nhỏ này: h là một
giá trị hàng hoá không tốt gì cho nhà t bản cả, nó là hiện thân của lao động
thặng d, chính vì thế mà nó xuất hiện lúc ban đầu với t cách là một thành
phần của t bản - hàng hoá H. Bởi vậy chỉ có một sự tồn tại của thân nó, h
này cũng đã gắn liền với tuần hoàn của giá trị - t bản đang tiến hành quá
trình của mình; nếu tuần hoàn ấy bì đình chỉ hoặc xảy ra một sự rối loạn nào
đó nói chung, thì không phải chỉ việc tiêu dùng h, mà đồng thời cả việc tiêu
thụ cái loạt hàng hoá đem trao đổi với h, cũng đều bị thu hẹp lại hoặc đình chỉ
hẳn, h - t - h chỉ gia nhập lu thông của t bản chừng nào mà h còn là một
phần giá trị của H.
Mối quan hệ giữa tuần hoàn của t bản với t cách là một bộ phận của
lu thông chung, và tuần hoàn của t bản với t cách là một trong những khâu
của một lu thông độc lập, cũng biểu lộ ra khi chúng ta tiếp tục xem xét lu
thông của T = T + t. Là t bản tiền tệ, T tiếp tục tuần hoàn của t bản; t bị
tiêu dùng đi với t cách là thu nhập (t - h) thì đi vào lu thông chung, nhng
lại tách khỏi tuần hoàn của t bản. Chỉ có bộ phận t hoạt động làm t bản -
tiền tệ phụ thêm mới gia nhập tuần hoàn này mà thôi. Trong h - t - h tiền chỉ
làm chức năng tiền đúc, mục đích của lu thông này là sự tiêu dùng cá nhân
thành tiền thực hiện đợc nhờ việc bán sản phẩm hàng hoá. T biểu hiện thành
hình thái chuyển hoá của H, bản thân H này là sản phẩm hoạt động trớc
đây của Sx, vì thế toán bộ số tiền T thể hiện thành biểu hiện tiền tệ của một
lao động đã qua.
Slđ
Thứ hai, trong lu thông H - T - H cũng những đồng tiền ấy
thay đổi vị trí hai lần:
Thoạt tiên nhà t bản thu chúng với t cách là ngời bán, rồi lại bỏ
chúng ra với t cách là ngời mua, việc chuyển hoá hàng hoá thành hình thái
tiền chỉ là dùng để chuyển hoá hàng hoá đó từ hình thái tiền trở lại hình thái
hàng hoá.
Thứ ba, vô luận là t bản tiền tệ đợc dùng đơn thuần làm phơng tiện
lu thông, hay làm phơng tiện thanh toán thì hoạt động của nó cũng chỉ là
thay thế H bằng Slđ và Tlsx.
T
-
H
H
-
T
-
H
Tlsx
Do đó tổng lu thông của nó là
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
nó vẫn luôn luôn là tiền; nhng nếu nó bị giữ quá lâu trong chức năng t bản -
hàng hoá, thì nó sẽ không còn là hàng hoá nữa và nói chung không còn là giá
trị sử dụng nữa.
Slđ
Trong hình thái I, hành vi T - H
Tlsx
chỉ chuẩn bị cho sự chuyển
hoá đầu tiên của t bản tiền tệ thành t bản sản xuất, trong hình thái II, hành
vi ấy chuẩn bị cho sự chuyển hoá trở lại của t bản hàng hoá thành t bản sản
xuất. Bởi vậy, ở đây cũng nh trong hình thái I, hành vi này xuất hiện thành
giai đoạn chuẩn bị cho quá trình sản xuất nhng nó lại thể hiện nh là bớc
quay trở về quá trình ấy, nh là việc lặp lại quá trình ấy, do đó nh là bớc mở
màn cho quá trình tái sản xuất, và vì vậy mở màn cho việc lặp lại quá trình
làm tăng thêm giá trị.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.10
10
Một lần nữa T - Slđ là việc mua bán hàng hoá sức lao động dùng để sản
xuấta ra giá trị thặng d, còn T - Tlsx là một công việc không thể thiếu đợc
về mặt vật chất để đạt đợc mục đích đó. Sau khi T - H Slđ
hoàn thành,thì T đợc chuyển hoá thành t bản sản xuất thành Sx và tuần hoàn
lại bắt đầu trở lại.
Do đó, hình thái đầy đủ của Sx H - T - H Sx là:
+
t
-
-
- H
-
h
Slđ
TLSx Sx
TLSX
SX
H
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.11
11
hoá, hơn nữa số giá trị thặng d đợc sản xuất ra trong từng thời kỳ nhất định,
khi thì bị chi tiêu toàn bộ, khi thì đợc t bản hoá toàn bộ, điều đó không hoàn
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.12
12
toàn quan trọng. Xét trung bình và công thức chung có thể biểu hiện đợc sự
vận động trung bình mà thôi:
Sld Sx biểu thị một t bản sản xuất đợc tái sản
Sx H - T- H Tlsx xuất trên quy mô mở rộng, với t cách là t
bản có một giá trị lớn hơn, và sau đó nó bắt đầu tuần hoàn thứ hai của nó,
hoặc - điều này cũng vậy - nó lặp lại tuần hoàn thứ nhất của nó, nhng với t
cách là một t bản sản xuất đã tăng thêm. Khi tuần hoàn thứ hay này bắt đầu,
chúng ta lại thâys Sx xuất hiện ở điểm xuất phát, nhng chỉ khác có một điều
là Sx này là một t bản sản xuất có quy mô lớn hơn Sx thứ nhất. Cũng giống
nh là khi trong công thức T T, tuần hoàn thứ hai bắt đầu vơis T, thì T này
cũng làm chức năng giống chức năng của T, tức là làm chức năng của một t
bản - tiền tệ ứng trớc có một đại lợng nhất định; đó là một t bản - tiền tệ có
quy mô lớn hơn t bản - tiền tệ mở đầu tuần hoàn thứ nhất, nhng một khi t
bản - tiền tệ lớn hơn đó bắt đầu làm chức năng t bản - tiền tệ ứng trớc, thì
tất cả mọi sự liên tởng đến việc nó đã tăng thêm nhờ t bản hoá giá trị thặng
d đến biến mất. Tình hình nh vậy cũng diễn ra đối với Sx khi nó làm điểm
xuất phát của một tuần hoàn mới.
dạng quan hệ giữa giá trị - t bản với giá trị thặng d, con đẻ của giá trị - t
bản, thì mối quan hệ ấy biểu thị một lần dới hình thái tiền, lần kia dới hình
thái hàng hoá. Trong cả hai trờng hợp ấy, thuộc tính đặc trng của t bản, tức
là thuộc tính làm một giá trị đẻ ra giá trị. H bao giờ cũng chỉ là sản vật của
chức năng sản xuất, và T bao giờ cũng chỉ là sản vật của chức năng sản xuất,
và T bao giờ cũng chỉ là hình thái của H đã trải qua một sự chuyển hoá trong
tuần hoàn của t bản công nghiệp. Vì thế, khi t bản - tiền tệ đã thực hiện làm
trở lại chức năng đặc thù của nó là t bản - tiền tệ, thì nó không còn biểu hiện
mối quan hệ t bản chứa đựng trong T = T+t nữa. Một khi T T đã tiến hành
xong rồi, và một khi bắt đầu trở lại tuần hoàn, thì T không còn biểu hiện ra
thành T nữa, mà biểu hiện ra thành T, ngay cả trong trờng hợp ngời ta t
bản hoá toàn bộ giá trị thặng d chứa đựng trong T cũng vậy. Đối với tuần
hoàn của t bản sản xuất, số Sx đã lớn lên, khi bắt đầu trở lại tuần hoàn của
nó, cũng chỉ xuất hiện với t cách là Sx, giống nh Sx trong tái sản xuất giản
đơn Sx Sx nh vậy.
Slđ
Trong giai đoạn T - H Tlsx , sự tăng thêm đại lợng giá trị chỉ
là do H biểu hiện ra, chứ không phải do Slđ và Tlsx biểu thị ra. Vì H là tổng
số của Slđ cộng với Tlsx, cho nên H cũng đã nói lên rằng tổng số của Slđ
cộng với Tlsx bao gồm ở trong nó lớn hơn Sx ban đầu.
Việc tích luỹ tiền
Việc t tức giá trị thặng d đã biến thành tiền, có thể lập tức đợc bỏ thêm
vào giá trị - t bản đang ở trong quá trình vận động của nó hay không, và do
đó có thể gia nhập quá trình tuần hoàn bằng cách nhập làm một với t bản T
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.14
do đó nó đã là sự chuyển hoá của tiền thành t bản - tiền tệ. Công thức chung
của tuần hoàn của t bản sản xuất. Slđ
Sx H - T. T - H Sx (Sx)
Tlsx
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.15
15
2.3. Tuần hoàn của t bản - hàng hoá.
Công thức chung của tuần hoàn của t bản hàng hoá là:
H - T - H Sx H
H không những là sản phẩm mà còn là tiền đề của hai tuần hoàn đã nói
ở trên, bởi vì cái là T - H của một t bản thì đã bao hàm H - T của một t
bản khác, ít ra là trong chừng mực bản thân một bộ phận t liệu sản xuất là
sản phẩm hàng hoá của những t bản cá biệt khác đang thực hiện tuần hoàn
của chúng.
Tuần hoàn của t bản - hàng hoá không phải bắt đầu đơn thuần bằng
một giá trị - t bản, mà bằng một giá trị - t bản đã đợc tăng lên và nằm dới
hình thái hàng hoá, do đó ngay từ đầu nó đã bao hàm tuần hoàn không những
của giá trị - t bản dới hình thái hàng hoá mà còn bao hàm cả tuần hoàn của
cả giá trị thặng d nữa. Trong mọi trờng hợp H thờng xuyên mở đầu tuần
hoàn với t cách là một t bản hàng hoá ngang với giá trị - t bản cộng với giá
trị thặng d. H với t cách là H xuất hiện trong tuần hoàn của một t bản
công nghiệp cá biệt, dới hình thái một t bản công nghiệp khác, chừng nào t
thông nằm sau Sx thứ nhất và trớc Sx thứ hai, Sx là t bản sản xuất, Sx cuối
không phải là quá trình sản xuất, nó chỉ là sự trở lại của t bản công nghiệp
dới hình thái t bản sản xuất.
Trong hình thái III, tức là H - T - H Sx H tuần hoàn bắt đầu bằng
hai giai đoạn của quá trình lu thông, tuần hoàn kết thúc với H, kết quả của
quá trình sản xuất. Chỉ trong tuần hoàn này thì điểm xuất phát của quá trình
làm tăng thêm giá trị là giá trị - t bản đã tăng thêm giá trị. Điểm xuất phát ở
đây là H, biểu hiện mối quan hệ t bản chủ nghĩa, nó có tác dụng quyết định
đối với toàn bộ tuần hoàn. Sự phân phối tổng sản phẩm xã hội cũng nh phân
phối đặc thù về sản phẩm của một t bản - hàng hoá cá biệt, sự phân phối, một
mặt thành quỹ tiêu dùng cá nhân, và mặt khác thành quỹ tái sản xuất - đều
nằm trong tuần hoàn của t bản.
Trong T T có khả năng mở rộng tuần hoàn theo đại lợng của các phần
t sẽ gia nhập tuần hoàn mới. Trong Sx Sx, Sx có thể mở đầu tuần hoàn mới
với một giá trị nh cũ. Trong H H, t bản dới hình thái hàng hoá là tiền đề
của sản xuất, và với t cách là tiền đề, hình thái đó lại quay trở lại cũng trong
tuần hoàn ấy. Cả ba tuần hoàn đều có điểm chung: t bản kết thúc quá trình
tuần hoàn của nó dới đúng cái hình thái mà nó mở đầu quá trình tuần hoàn
đó, nhờ thế nó lại mang hình thái ban đầu trong đó nó lại mở đầu một tuần
hoàn giống nh vậy. Hình thái của điểm xuất phát T, Sx, H đều đợc cho
trớc đối với mỗi tuần hoàn; hình thái lặp lại ở điểm kết thúc là hình thái bị
gây nên, và do đó bị quy định bởi một loạt những sự biến hoá hình thái cảu
bản thân tuần hoàn. H với t cách là điểm kết thúc một tuần hoàn của t bản
công nghiệp cá biệt, chỉ giả định là có hình thái Sx ở bên ngoài lu thông của
t bản công nghiệp đã sản sinh ra nó, T là điểm kết thúc của hình thái I, là
hình thái chuyển hoá của H (H - T) giả định là T nằm trong tay ngời mua,
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
đã tự tăng thêm; 2. Khi kết thúc tuần hoàn của nó, giá trị ứng trớc lại quay về
dới hình thái mà nó mang khi mở đầu tuần hoàn. Nếu sản xuất mang hình
thái t bản chủ nghĩa, thì tái sản xuất cũng mang hình thái đó. Quá trình lao
động trong phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa là chỉ là một phơng tiện
cho quá trình làm tăng thêm giá trị, thì tái sản xuất cũng vậy, nó cũng chỉ là
một phơng tiên để tái sản xuất ra giá trị ứng trớc với t cách là t bản, tức
là với t cách là giá trị tự tăng thêm giá trị.
Trong hình thái là sự lắp lại của quá trình biểu hiện ra là có tính chất khả
năng thôi còn sự lắp lại của quá trình trong hình thái II tức là quá trình tái sản (2)
Kinh tế chính trị - NXB giáo dục - 1998 - trang 103
(3)
Kinh tế chính - NXB giáo dục - 1998, trang 104
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.18
18
xuất, biểu hiện thành sự lắp lại hiện thực. Trong hình thái III giá tự - t bản
mở đầu quá trình với t cách là giá trị đã tăng thêm, là tất cả những của cải
nằm dới hình thái hàng hoá. Hình thái này là hình thái trọng yếu đối với sự
vận động của các t bản cá biệt nếu xem xét trong mối quan hệ với sự vận
động của t bản xã hội. Nhng hình thái này không thích hợp cho việc nghiên
19
19
bản, hay có thể nói, nó là thớc đo thời hạn đổi mới, thời hạn lặp lại của quá
trình làm tăng thêm giá trị hay quá trình sản xuất ra cùng một giá trị t bản.
Nếu không nói đến những sự ngẫu nhiên riêng rẽ có thể đẩy nhanh hay
rút ngắn thời hạn chu chuyển đối với cùng một t bản cá biệt, thì thời gian chu
chuyển ấy nói chung sẽ khác nhau tùy theo những sự khác nhau của các lĩnh
vực đầu t cá biệt của t bản. Cũng giống nh ngày lao động là đơn vị đo
lờng tự nhiên để đo hoạt động của sức lao động, thì năm cũng là đơn vị đo
lờng tự nhiên để đo những vòng chu chuyển của t bản hoạt động. Cơ sở tự
nhiên của đơn vị đo lờng ấy là tình hình: ở vùng ôn đới, quê hơng của nền
sản xuất t bản chủ nghĩa, các nông sản quan trọng nhất đều đợc sản xuất ra
mỗi năm một lần.
Nếu ta lấy CH để chỉ năm là đơn vị đo lờng của thời gian chu chuyển,
lấy ch để chỉ thời gian chu chuyển của một t bản nhất định, lấy n để chỉ số
lần chu chuyển của t bản, thì chúng ta sẽ có: n =
CH
ch
. Do đó nếu thời gian
chu chuyển của t bản là vài năm, thì nó sẽ đợc tính bằng cách nhân với số
năm đó. Đối với nhà t bản, thời gian chu chuyển của t bản là thời gian trong
đó nhà t bản phải ứng trớc t bản ra để nó tăng thêm giá trị, và quay trở về
dới hình thái ban đầu của nó.
Giá trị các bộ phận t bản sản xuất chuyển vào sản phẩm theo phơng
thức khác nhau. Căn cứ vào phơng thức chu chuyển giá trị của t bản thì chia
t bản ra thành t bản cố định và t bản lu động. Trong đó t bản cố định là
của thiên nhiên làm cho những bộ phận t bản đó dần dần hao mòn đi đến chỗ
hỏng, không dùng đợc nữa. Còn hao mòn vô hình là nói về những trờng hợp
máy móc mới tốt hơn tối tân hơn xuất hiện (6). Để tránh hao mòn vô hình,
nhà t bản còn tìm cách nâng cao tỷ suất khấu hao t bản cố định.
Dựa trên hai hình thức hao mòn mà C.Mác phân chia chu chuyển của t
bản thành Chu chuyển chung của t bản ứng trớc là con số chu chuyển
trung bình của những thành phần khác nhau của t bản. Chu chuyển thực tế là
thời gian để tất cả các bộ phận của t bản ứng trớc đợc khôi phục toàn bộ về
mặt giá trị, cũng nh về mặt hiện vật
(7)
. Chu chuyển thực tế do thời gian tồn tại
của t bản cố định đầu t quyết định và nó không ăn khớp với chu chuyển
chung của nó.
Để nâng cao tỷ suất giá trị thặng d hàng năm, tức là nâng cao tỷ số giữa
khối lợng giá trị thặng d tạo ra trong một năm với t bản khả biến ứng ra
trớc ngời ta phải tăng tốc độ chu chuyển của t bản. Tỷ suất giá trị thặng d
thực tế không đổi, nhng t bản chu chuyển càng nhanh số vòng chu chuyển
t bản khả biến trong năm càng nhiều thì giá trị thặng d càng lớn, tỷ suất giá
trị thặng d hàng năm càng cao. Nó che giấu mối quan hệ thực sự giữa t bản
và lao động, gây cho ngời ta có ấn tợng rằng tỷ suất giá trị thặng d không
phải chỉ phụ thuộc vào khối lợng và trình độ bóc lột sức lao động do nhà t
bản khả biến làm cho hoạt động mà còn phụ thuộc vào những ảnh hởng
không thể giải thích đợc do quá trình lu thông đẻ ra. Do đó nhà t bản ra
sức rút ngắn thời gian sản xuất và thời gian lu thông để tăng tốc độ chu
(7)
Kinh tế chính trị - NXB giáo dục - 1998 trang 109
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
phải có chính sách phát triển và khôi phục nền kinh tế, đa đất nớc đi lên
thoát khỏi sự lạc hậu của nền kinh tế sau những năm chiến tranh xâm lợc.
Doanh nghiệp Việt Nam lúc này còn quá nhỏ bé chủ yếu là các xí nghiệp dới
sự che chở của nhà nớc, nhà nớc bao cấp và chịu gần nh toàn bộ hậu quả
mà doanh nghiệp nhà nớc và xí nghiệp gặp phải. Hàng Việt Nam đợc sản
xuất ra có khi không đúng thời vụ, hàng cha về đến nông thôn thì đã hết. Nhà
nớc lại không có chính sách, biện pháp mở rộng sản xuất, không thu hút vốn
đầu t nớc ngoài. Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu là do nhà nớc cấp,
doanh nghiệp không tồn tại loại hình doanh nghiệp t nhân t bản, doanh
nghiệp nhà nớc hoạt động rất kém hiệu quả, năng suất cha cao, chất lợng
thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật rất hạn chế.
Đất nớc hoàn toàn giải phóng, cả nớc đi vào khôi phục xây dựng đất
nớc. Đảng và Nhà nớc ta xác định nhiệm vụ đầu tiên là phải phát triển kinh
tế, đa đất nớc đi lên. Tại Đại hội IV Đảng ta đã đề ra đờng lối xây dựng
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: Đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN, xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đa nền kinh tế nớc ta từ sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, u tiên phát triển công nghiệp nặng một
cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp
xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nớc thành một cơ cấu công - nông
nghiệp, vừa xây dựng kinh tế trung ơng, vừa phát triển kinh tế địa phơng
trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lợng sản
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.23
23
thuộc vào nhà nớc đến khi bị thua lỗ thì nhà nớc phải chịu hoàn toàn cho
nên các xí nghiệp cha có đợc tinh thần trách nhiệm đối với hoạt động sản
xuất của mình. (8)
Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ơng Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IV. NXB Sự thật, Hà Nội,
1997, trang 67.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.24
24
2. Sự vận dụng ở Việt Nam từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(tháng 12 - 1986) đến nay.
Đại hội VI của Đảng là một mốc lịch sử quan trọng trên con đờng đổi
mới toàn diện và sâu sắc ở nớc ta; trong đó có sự đổi mới về các quan điểm
kinh tế. Đảng chỉ ra mục tiêu quan trọng là phát triển kinh tế trong đó khẳng
định vai trò của các doanh nghiệp trong nền kinh tế mới với cơ chế quản lý
mới đó là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Cơ chế mới gắn sản
xuất với thị trờng thông qua tín hiệu giá cả đợc hình thành theo quan hệ
cung cầu, đi đôi với thực hiện chế độ tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp
và mọi đơn vị kinh tế trong môi trờng hợp tác và cạnh tranh bình đẳng. Nhà
nớc quản lý nền kinh tế thông qua hệ thống, thể chế rõ ràng, nghiêm chỉnh
kết hợp đúng đắn tính kế hoạch với việc sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ, sử