ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC
TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU :
1. Bồi dưỡng cho sinh viên tình cảm yêu quý và thái độ trân trọng đối với
tiếng Việt, một di sản văn hóa quý báu của cha ông. Đồng thời rèn luyện thói
quen và ý thức thường xuyên sử dụng tiếng Việt một cách cẩn trọng, có sự cân
nhắc, lựa chọn thấu đáo.
2. Tiếp tục nâng cao những hiểu biết có cơ sở khoa học về tiếng Việt. Điều
này cần thiết cho việc sử dụng tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp, nhất là trong
hoạt động giao tiếp bằng văn bản (tạo lập và lĩnh hội văn bản). Đây là một mục
tiêu rất cơ bản của môn tiếng Việt thực hành ở bậc Đại học.
3. Rèn luyện tư duy khoa học cho sinh viên, rèn luyện kỹ năng sử dụng
tiếng Việt còn là cơ sở để sinh viên học tập và nghiên cứu ngoại ngữ, một công
cụ cần thiết cho học tập, nghiên cứu khoa học và làm việc. Bộ môn tiếng Việt
thực hành, vì thế còn có mục tiêu tạo nên sự tương tác, hỗ trợ môn tiếng Việt và
môn ngoại ngữ.
B. KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY
Chương Bài giảng Số tiết
1 Chính tả 4
2 Dùng từ 4
3 Viết câu 4
4 Dấu câu 4
5 Dựng đoạn 4
6 Văn bản 4
Thực hành Bài tập ứng dụng và ôn tập 6
Tổng cộng 30
C. CHƯƠNG TRÌNH :
2. Dùng từ hình tượng
3. Dùng từ sáng tạo
III. Kết luận
CHƯƠNG III
VIẾT CÂU
I. Phân loại câu
1. Câu đơn
2. Câu ghép
II. Viết câu hay
3. Câu chặt chẽ, mạch lạc.
4. Câu chính xác, rõ ràng.
5. Câu hùng hồn, mạnh mẽ.
2
III. Chữa câu sai
1. Câu sai về cấu trúc
2. Những loại câu khác
CHƯƠNG IV
DẤU CÂU
I. Các loại dấu câu và ký hiệu dùng cho dấu câu.
II. Chức năng chung của hai nhóm dấu câu
1. Dùng các dấu chấm câu thuộc nhóm dấu phân cách một lần để phân
cách các đơn vị ngữ pháp có quan hệ đẳng lập.
2. Dùng dấu câu thuộc nhóm dấu tách biệt hai lần để tách trọng ngữ,
phân biệt lập hoặc phần chú thích một cụm chủ vị.
III. Các sử dụng từng dấu câu cụ thể
II. Các phong cách văn bản
1. Văn bản hành chính
2. Văn bản chính luận
3. Văn bản khoa học
4. Văn bản nghệ thuật
III. Xây dựng lập luận phục vụ chủ đề văn bản.
IV. Tóm tắt văn bản
V. Bài tập 4
CHƯƠNG 2
DÙNG TỪ
Từ là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất có ý nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định,
được người nói, người viết dùng để đặt câu. Vì vậy, nói đến việc rèn luyện kỹ
năng nói và viết, trước hết phải nói đến nghệ thuật dùng từ đúng hay sai.
I. DÙNG TỪ ĐÚNG.
Dùng từ đúng là dùng từ đúng âm và đúng nghĩa.
1. Dùng từ đúng âm.
Muốn dùng từ đúng âm thì ta phải biết cách phát âm chuẩn. Nhưng nói
cho chuẩn cả tiếng Việt là một yêu cầu gần như không thể thực hiện mọi người
dân khắp cả ba miền.
Trên lý thuyết chuẩn phát âm phải được giải quyết trước chuẩn chính tả.
Vậy viết đúng chính tả là một biện pháp người dùng từ đúng âm.
Hiểu nghĩa của từ, ta sẽ hạn chế được phần nào lỗi dùng từ không đúng âm.
Ví dụ :
Đúng âm Không đúng âm
2. Dùng từ đúng nghĩa .
Nghĩa của từ được nêu rõ trong từ điển. Vì vậy sử dụng thường xuyên từ
điển vẫn là yêu cầu được đặt ra cho người làm công tác văn hóa giáo dục, cũng
như sinh viên, học sinh để rèn luyện kỹ năng dùng từ.
Gặp một từ không hiểu nghĩa, ta phải chịu khó tra tự điển, không nên
đoán mò, không nên dùng từ Hán Việt theo thói quen. Không nên hiểu lờ mờ.
Chú ý kho từ vựng thường có một số từ đồng âm dị nghĩa tương đối.
II. DÙNG TỪ HAY.
Có nhiều cách dùng từ hay. Ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu một số trường hợp
tiêu biểu.
1. Dùng từ chính xác.
Dùng từ đúng cũng là dùng từ hay nếu từ ấy là từ chính xác - từ không thể
thay thế bằng bất kỳ từ nào khác.
La Bruyère, một nhà văn Pháp sống trong thế kỷ XVII, đã có ý nghĩ :
“Trong số hết thảy các từ ngữ có thể diễn được một ý độc nhất của ta, chỉ có
một từ ngữ đúng, khi nói hoặc viết, người ta không luôn luôn kiếm thấy nó đâu,
nhưng nó vẫn có”
Gustave Flaubert, một nhà văn Pháp khác sống ở thế kỷ XIX, cũng có ý
tưởng tương tự: “Dù ta muốn nói điều gì đi nữa, cũng chỉ có mỗi một tiếng để
diễn điều đó thôi, chỉ có một động từ để làm cho điều đó hóa ra có sinh khí và
mỗi một trạng trừ để tả nó. Cần phải kiếm cho được tiếng ấy và đừng lấy làm
mãn ý khi mới kiếm được những tiếng tương tự”.
Thi hào Việt Nam là Nguyễn Du, trong Truyện Kiều, đã nhiều lần chứng
tỏ mình là một bậc thầy về nghệ thuật dùng từ chính xác. Dưới đây là một vị dụ :
“Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay”
6
Hai câu thơ này tả tâm trạng Thúc Sinh trong tiệc tẩy trần do Hoạn Thư
bày ra với mục đích làm khổ tình địch và làm nhục chồng mình. Thấy người yêu
trở thành đứa ở và đang bị vợ đày đọa, Thúc Sinh giả say không muốn uống
2. Dùng từ hình tượng.
7
Từ hình tượng vẽ lên trước mắt người đọc bức tranh của cuộc sống, tạo
cho người đọc cái cảm giác được nhìn thấy tận mắt sự vật được miêu tả.
Với đặc tính nầy ngoài chức năng thông báo, từ hình tượng còn tạo cho
độc giả nhiều rung cảm thẩm mỹ. Vì vậy từ hình tượng rất thích hợp với ngôn
ngữ văn chương. Tuy thế, trong văn chính luận, nếu được sử dụng chừng mực
và đúng chỗ, từ hình tượng cũng có thể tác động mạnh đến người đọc và để lại
cho đọc giả nhiều cảm nghĩ sâu lắng.
Đặc trưng của từ hình tượng là gợi chứ không tả. Tả thì chính xác, đầy đủ
và rõ ràng đến mức không còn gì để nói nữa. Nhưng gợi thì muốn nói đến vô
cùng. Với đặc điểm này, từ hình tượng tạo cho văn bản một ý ngoài lời, một
nghĩa ở chiều sâu, một nội dung ở dạng tiềm năng. Bài thơ, vì vậy, có thể có
nhiều tầng nghĩa mà không một ai có thể đọc và hiểu hết trong một lần. Mỗi
người, khi đọc những tác phẩm văn chương có ngôn ngữ hình tượng, có thể tìm
gặp ở đó một nét nghĩa mới. Nhờ vậy, đối với mỗi người, mỗi thời, thơ có thể có
một tiếng nói mới. Thơ có sức sống, thơ trẻ mãi với cuộc đời, với thời gian.
Ví dụ : Khi bình giảng bài thơ Bóng cây kơ-nia, nhà phê bình văn học
Phan Trọng Luận đã tìm thấy ở hình tượng cây kơ-nia thế lực chủ động của
nam, tính. Cây kơ-nia là người con cường tráng của mẹ, là người chồng dũng
cảm của em. Sau Phan Trọng Luận, đọc lại hai khổ thơ đầu của bài thơ :
Buổi sáng em làm rẫy
Thấy bóng cây kơ-nia
Bóng ngã che ngực em
Về nhớ anh không ngủ
Buổi chiều mẹ lên rẫy
Thấy bóng cây kơ-nia
Bóng tròn che lưng mẹ
Về nhớ anh mẹ khóc
chúng ta có thể tìm gặp ở hình tượng văn học này một nét nghĩa mới: cây kơ-nia
sắc. Trong Cung oán ngâm khúc, để tả sắc đẹp của cung nữ, Nguyễn Gia Thiều
viết :
Đóa lê ngon mắt cửu trùng,
Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu.
Trước và sau Nguyễn Gia Thiều, mọi người đều nói “đẹp mắt”, “đẹp
lòng”. Một cách sáng tạo và độc đáo, Nguyễn Gia Thiều nói “ngon mắt”. Sống
trong cung vua phủ chúa, chứng kiến cảnh sống bi thương của hàng trăm người
thiếu nữ má đào mà phận bạc, nhà nghệ sĩ giàu lòng nhân ái Nguyễn Gia Thiều
không khỏi sinh tâm oán trách cảnh sống xa hoa, dục lạc của đấng quân vương.
Cho nên nhà thơ đã hạ một từ “ngon” để phơi bày những ham muốn vật chất
thấp hèn đang được che giấu ở đằng sau những lớp vàng son lộng lẫy.
9
Cần nhớ: Sáng tạo nhưng không lập dị. Sáng tạo để được mới lạ và độc
đáo. Cái mới hình thành từ cái cũ. Trái nền cái cũ mà người xây dựng các công
trình mới.
Nhà nghệ sĩ sáng tạo nói chung, dùng từ sáng tạo nói riêng không hoàn
toàn tách rời truyền thống và thực tại.
Ví dụ : Thời gian không có màu, nhưng mùa thu có nhiều lá vàng nên các
nhà văn, thơ đã dùng từ “thu vàng” một cách sáng tạo. (Xuân Diệu: dùng từ
Xuân Hồng nói về tuổi trẻ, về mùa xuân, về tình yêu; Trịnh Công Sơn thì dùng
từ “Hạ trắng” để chỉ mùa hè xứ Huế với những con đường ngập đầy áo dài trắng
của nữ sinh Đồng Khánh).
III. KẾT LUẬN :
Chúng ta bắt đầu học cách dùng từ đúng, rồi tập cách dùng từ hay, nhưng
mục đích cuối cùng vẫn là luyện cho được cách viết tự nhiên, giản dị. Tự nhiên
và giản dị là đỉnh cao của nghệ thuật.
BÀI TẬP.
1. Phân biệt nghĩa một số từ Hán Việt sau đây :
Áo và xiêm, bãi công và lãn công, bất hủ và bất tử, biến cố và sự cố, cổ
nhân và cố nhân, cổ động và sách động, cô độc và cô đơn, công nhân và nhân