BÁO CÁO TỐT NGHIỆP Đề tài
“Tìm hiểu những đổi mới trong
cuộc sống khuyến khích đầu tư
nước ngoài của Việt Nam”
I. PHẦN MỞ ĐẦU
LỜI GIỚI THIỆU
Với những thành tựu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
và những kết quả đã đạt được trong sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Chúng ta phảI thừa nhận sự đóng góp không nhỏ từ các nguồn đầu tư
bên ngoài cho sự phát triển đó.
Để hoàn thành đề án chuyên ngành của mình, em xin chọn đề
tài “tìm hiểu những đổi mới trong cuộc sống khuyến khích đầu tư
nước ngoài của Việt Nam” nhằm làm rõ hơn sự cần thiết của việc thu
hut các nguồn vốn từ các nhà đầu tư nhỏ đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước ta hiện nay, trong 5 năm phát triển kinh tế - xã hội
2006 – 2010, là thời kỳ quan trọng của công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển. Và trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt chúng ta chuẩn bị gia
nhập tổ chức thương mại thế giới WTO với việc mở cửa thị trường có
lộ trình rất chặt chẽ. Do đó nhiệm vụ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Theo đó vấn đề thu hút vốn đầu tư để thực hiện sự chuyển đổi đó
càng trở nên quan trọng, đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược thu
hút vốn đầu tư hợp lý hơn, hấp dẫn hơn.
66,9% về số dự án và chiếm 57,2% tổng số vốn đầu tư đăng ký. Tiếp
theo là lĩnh vực dịch vụ với 19,5% về số dự án và 35,8% về vốn đầu
tư đăng ký, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 13,6% số dự án và
chiếm 7% vế vốn đầu tư đăng ký.
Trong số 64 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào VN Sigapore
đứng đầu với 6,6% về số dự án và 19% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp
đó là Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hồng kông.
Các kiều bào ở nước ngoài cũng đã tham gia đầu tư nhưng với
mức đầu tư còn rất khiêm tốn: 63 dự án vớI vốn đầu tư đăng ký
208,67 triệu USD chỉ bằng 0,5% tổng vốn đầu tư, quy mô bình quân
của một dự án thấp hơn quy mô bình quân của cả nước. Số vốn này
chủ yếu là từ CHLB Đức, LB Nga và Pháp.
Các dự án đầu tư vẫn tập trung ở một số thành phố lớn có điều
kiện kinh tế - xã hội thuận lợi. TP.HCM dẫn đầu cả nước, chiếm 31.2%
số dự án và 26% tổng vốn đăng ký. Hà Nội đứng thứ hai , chiếm 11%
số dự án và 11,1% tổng số vốn đăng ký. Tiếp đó là Đồng Nai và Bình
Dương. Chỉ tính riêng vùng kinh tế trọng điểm phía nam (TP.HCM,
Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu) đã chiếm 50% tổng vốn
ĐTNN đăng ký của cả nước. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà
Nội, Hải Dương, HảI Phòng, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh) chiếm 26,35
tổng vốn ĐTNN đăng ký của cả nước.
Tính đến hết năm 2004 cả nước có khoảng 1400 dự án ĐTNN
vào KCN, KCX còn hiệu lực (không kể các dự án đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng KCN) vớI tổng vốn đăng ký 11,145 tỷ USD tương đương
26,7% tổng vốn ĐTNN của cả nước.
1.2, Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI
Tổng vốn đầu tư của các dự án FDI thực hiện từ năm 1988 đến
hết năm 2004 đạt được trên 28 tỷ USD (gồm cả vốn thực hiện của các
dự án đã hết hạn hoặc giải thể trước thời hạn). Trong đó vốn nước
ngoài khoảng 25 tỷ USD, chiếm 89% tổng vốn thực hiện. Tính riêng
1.3.1,Những mặt tích cực đã đạt được
Sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực năm 1997,
dòng vốn ĐTNN vào VN liên tục tăng. Năm 2002 vốn đăng ký mới đạt
2,8 tỷ USD. Năm 2003 đạt 3,1 tỷ USD, năm 2004 tăng lên 4,2 tỷ USD.
ĐTNN đã bổ xung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển,
góp phần nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng các nguồn lực trong
nước tạo thế và tạo lực cho nền kinh tế.
Tỷ lệ đóng góp của khu vực ĐTNN trong GDP tăng dần qua các
năm. Năm 1995 là 6,3%, năm 1998 là 10,1%, năm 2001 là 13,1% năm
2003 tăng lên 14,3%.
Hoạt động của các doanh nghiệp FDI đã góp phần nâng cao
năng lực xuất khẩu, tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị
trường ngoài nước. Kim ngạch xuất khẩu của khu vự đầu tư nước
ngoằi tăng nhanh. Trong thờI kỳ 1996-2000 đạt trên 10,6 tỷ USD
(không kể tớI lĩnh vực dầu khí), trong 3 năm 2002-2004 xuất khẩu của
khu vực này đạt 14,6 tỷ USD.
Các dự án ĐTNN góp phàn mở rộng các hoạt động sản xuất -
kinh doanh trong nước, thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ, đặc
biệt là lĩnh vực khách sạn, du lịch, các dịch vụ thu đổi ngoại tệ, dịch vụ
tư vấn pháp lý, tư vấn kỹ thuật – công nghệ, tạo điều kiện cho các
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với
các thị trường quốc tế.
Các hoạt động thu hút vốn ĐTNN đã bắt đầu chú trọng nhiều
hơn đến chất lượng, thu hút những dự án có hàm lượng công nghệ
cao. Kết hợp các thu hút nhiều lao động, tạo điều kiện phát triển ngồn
năng lực.
Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất đã góp phần
nâng cao tính quy hoạch của việc xây dựng và triển khai thực hiện các
khai các dự án.
Các văn bản pháp luật về ĐTNN còn chưa đầy đủ, một số thì
chưa rõ ràng. Thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, một số nơi ở
một số ban ngành còn có thái độ thiếu hợp tác
Nguồn lao động chưa đáp ứng được các yêu cầu tuyển dụng
của các nhà ĐTNN. Cán bộ làm việc trong các doanh nghiệp FDI còn
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
thiếu kiến thức chuyên môn, không nắm vững luật pháp, yếu kém về
ngoại ngữ và thiếu kinh nghiệm thương trường.
Quy định quá chặt về tỷ lệ nội địa hoá và tỷ lệ xuất khẩu
2, Số liệu thống kê về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 6
tháng đầu năm 2006
2.1. Kết quả thu hút vốn đầu tư
Trong tháng 6/2006 cả nước co 58 dự án được cấp giấy phép
đầu tư với tông vốn đầu tư đăng ký là 245 triệu USD. Tính chung,
trong 6 tháng đầu năm đã có thêm 339 dự án được cấp giấy phép với
tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,26 tỷ USD, tăng 5% về số dự án và tăng
21% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước.
Các dự án cấp mới tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp và
xây dựng, chiếm 72,78% về số dự án và 62,7% tổng vốn đăng ký;
nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 4,59% về số dự án và 0,55% tổng vốn
dăng ký và ngành dịch vụ chiếm 22,63% về số dự án và 36,74% tổng
vốn đăng ký.
TP.HCM do thu hút được một số dự án lớn, trong đó có dự án
Intel với vốn đầu tư 605 triệu USD, đã vươn lên đứng đầu trong cả
nước về thu hút ĐTNN trong 6 tháng đầu năm, chiếm 31,76% tổng
vốn đăng ký của cả nước; Hà Nội đứng thứ 2 chiếm 22,36% và tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu đứng thứ 3 chiếm 14,04% và Hải Dương đứng thứ 4
chiếm 5,6% tổng vốn đăng ký của cả nước.
ký là 53,9 tỷ USD, vốn thực hiện (của các dự án còn hoạt động ) đạt
trên 28 r\tỷ USD. (Nếu tính cả các dự án đã hết hiệu lực thì vốn thực
hiện đạt 36 tỷ USD).
Phân theo ngành:
Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất
chiếm 67,7% về số dự án và 61,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp
theo là lĩnh vực dịch vụ chiêm 19,7% về số dự án và 31,7% về số vốn
đầu tư đăng ký ; lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 12,5% về số
dự án và 7,1% về vốn đầu tư đăng ký.
Phân theo hình thức đầu tư:
Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 75,4% về số dự án và
53,1% về tổng vốn đăng ký.
Liên doanh chiếm 21,4% về số dự án và 36% về tổng vốn đăng
ký;
Số còn lại thuộc lĩnh vực hợp doanh, BOT, Công ty cổ phần và
Công ty quản lý vốn.
Phân theo nước:
Đã có 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại VN,
trong đó các nước châu Á chiếm 76,5% về số dự án và 69,8% vốn
đăng ký; các nước châu Âu chiếm 10% về số dự án và 16,7% vốn
đăng ký; các nước châu Mỹ chiếm 6% số dự án và 6% vốn đăng ký,
riêng Hoa Kỳ chiếm 4,55 về số dự án và 3,7% vốn đăng ký; số còn lại
là các nước ở khu vực khác.
Riêng 5 nền kinh tế đứng đầu trong đầu tư vào VN là Đài Loan,
Sigapore, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hồng Kông đã chiếm 58,3% về số
dự án và 60,6% tổng vốn đăng ký.
Việt kiều từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau chủ yếu là
từ CHILE, Đức, LB Nga và Pháp đã đầu tư 17 dự án với tổng vốn đầu
tư đăng ký 513,88 triệu USD, hiện còn 108 dự án đang hoạt động với
tổng vốn đăng ký 382,8 triệu USD chỉ bằng 0,7% tổng vốn đầu tư
tháng đầu năm 2006 lên 1,85 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm
2005, bằng 50% kế hoạch ban đầu (3,7 tỷ USD).
Doanh thu của các doanh nghiệp ĐTNN trong tháng 6/2006 ước
đạt khoảng 2,65 tỷ USD, đưa tổng doanh thu trong 6 tháng đầu năm
ước đạt 12,45 tỷ USD tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 6/2006 xuất khẩu của khu vực vốn ĐTNN (Trừ dầu
thô) ước đạt 1,2 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu trong 6 tháng đầu
năm ước đạt 6,6 tỷ USD tăng 41,4% so với cùng kỳ. Nếu tính cả dầu
thô thì tổng giá trị xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm đạt 10,85 tỷ USD,
tăng 27,8% so với cùng kỳ.
Nhập khẩu của các doanh nghiệp ĐTNN trong tháng 6/2006 ước
đạt 1,4 tỷ USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm đạt
khoảng 7,5 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ.
Trong 6 tháng đầu năm, khối doanh nghiệp ĐTNN đã thu hút
thêm hơn 10.000 lao động đưa tổng số lao động trong khu vực FDI
cho đến nay khoảng 1.067 triệu lao động.
Tuy nhiên trong 6 tháng đầu năm đã có 18 dự án bị rút giấy
phép trước thời hạn với tổng vốn đăng ký 65,3 triệu USD.
3, Những đổi mới trong chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài nhìn từ góc độ khắc phục những hạn chế của thời kỳ
1988-2004
3.1, Những đổi mới trong chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài hiện nay.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Với lỗ lực cải thiện môi trương đầu tư kinh doanh của chúng ta
trong những năm qua, các hoạt động thu hút vốn ĐTNN đã dần mang
tính kế hoạch tổng thể. Hiện nay việc tổ chức thực hiện các hoạt động
thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đạt được tính kế hoạch
cao hơn, có tính định hướng lâu dài của một chiến lược. Đã có sự kết
sự liên kết, thống nhất giữa các địa phương thơ gian trước. Luật cũng
đảm bảo những ưu đãi cho các nhà đầu tư trong trường hợp có sự
thay đổi luật pháp, chính sách.Cụ thể tại điều 11 có ghi:
1. Trường hợp pháp luật, chính sách mới được ban hành có các
quyền lợi ưu đãi cao hơn so với quyền lợi, ưu đãi mà nhà đầu tư đã
được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng các quyền lợi, ưu
đãi theo quy định mới kể từ ngày pháp luật, chính sách mới đó có hiệu
lực.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
2. Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh
hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng
trước khi quy định của pháp luật, chính sách đó có hiệu lực thì nhà
đầu tư được đảm bảo hưởng các ưu đãi như quy định tại. Giấy chứng
nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện
pháp sau đây:
a) Tiếp tục hưởng các quyền lợi, ưu đãi;
b) Được trừ thiệt hại vào thu nhập chịu thuế;
c) Được điều chỉnh mục tiêu hoạt động của dự án;
d) Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần
thiết.
3. Căn cứ vào quy định của pháp luật và cam kết trong điều ước
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính
phủ quy định cụ thể về việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc
thay đổi pháp luật, chính sách ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích của nhà
đầu tư.
Về quy định loại hình thành doanh nghiệp đối với các dự án
ĐTNN. Luật doanh nghiệp tạo điều kiện cho các nhà ĐTNN quyền tự
chủ lụa chọn loại hình doanh nghiệp để kinh doanh, không bắt buộc
phải sử dụng duy nhất hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn như
của cả nước so với 0,5% năm 2004.
Các tập đoàn kinh tế cũng đã bắt đầu với quy mô lớn, hàm
lượng công nghệ cao và có xu hướng dịch nguồn vốn của họ để mở
rộng sản xuất tại Việt Nam: Tập đoàn Intel với dự án xây dựng nhà
máy sản xuất linh kiện máy tính, tập đoàn Gannon của Mỹ với việc
nghiên cứu đầu tư xây dựng nhà máy điện ở Đồng Nai với tổng trị giá
lên đến 200 triệu USD.
Vốn chính phủ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia
các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế cũng là một trong những giải
pgáp nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công
nhân và nguồn nhân lực nói chung.
Các hoạt động bổ trợ xúc tiến đầu tư này cũng được tiến hành
mạnh mẽ. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ
chức Triển lãm Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Vietnam
Forinvest) từ ngày 2 đến ngày 6/11/2005 với “Khu trưng bày sản phẩm
công nghiệp phụ trợ - liên kết kinh doanh” đã thu hút được sự quan
tâm của nhiều doanh nghiệp FDI lớn như: Canon Việt Nam, Tosiba
Việt Nam, Cáp Vina Deasung, Máy tính Fuitsu Việt Nam, …và trong
dịp này , Bộ kế hoạch và Đầu tư còn tổ chức diễn đàn hợp tác đầu tư
với chủ đề “Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập quốc tế diễn ra vào ngày 30/11/2005. Diễn đàn dự kiến sẽ
đón tiếp hơn 350 đại biểu tham dự, trong đó có khoảng 200 khách
nước ngoài đại diện các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế, các tập
đoàn xuyên quốc gia, các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam và 150 đại
biểu trong nước đại diện các cơ quan chính phủ các địa phương, Ban
quản lý các KCN, KCX các doanh nghiệp Việt Nam và các cơ quan
thông tấn báo chí.
Và nhiều cuộc hội thảo, diễn đàn khác đã được tổ chức thu hút
hàng trăm tập đoàn, công ty nước ngoài tham dự: Diễn đàn Doanh
nghiệp giữa kỳ, Diễn đàn Đầu tư Việt Nam, Diễn đàn đối thoại Việt
kiến xung quanh việc đưa ra những đổi mới đó, tôi chỉ xin nêu một số
ý kiến, bàn luận đáng chú ý sau:
Câu hỏi “ Luật đầu tư có mời đón đầu tư” đã được nhiều nhà
đầu tư, các chuyên gia đề cập. Trong dịp trao đổi với luật sư Fred
Burke, giám đốc điều hành chi nhánh Việt Nam của hãng luật Baker
Mekenzie về luật đầu tư mới và triển vọng thu hút FDI của Việt Nam,
ông Fred Burke cho biết: có rất nhiều điều mà các nhà đầu tư nước
ngoài quan tâm và có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nghị định
hướng dẫn vẫn chưa được ban hành để giải đáp. Chẳng hạn như các
doanh nghiệp muốn mở rộng lĩnh vực kinh doanh hoặc tăng vốn đăng
ký lại theo luật mới như thế nào. Hay việc bỏ phiếu đối với các quyết
định của ban lãnh đạo, tỷ lệ thành viên trong hội đồng liên doanh.
Theo ông Fred Burke: Luật Đầu tư mới còn có những bước đi thụt lùi
so với luật ĐTNN cũ theo nhiều khía cạnh khác nhau. Ông đưa ra dẫn
chứng rõ ràng nhất là luật mới quy định rằng việc thực hiện các dự án
phát triển địa ốc đều phải thông qua hình thức liên doanh, và điều nay
hầu như khó thực hiện đối với các công ty thuê đất Nhà nước. Trong
khi đó luật ĐTNN cũ lại cho phép người nước ngoài tự thực hiện
những dự án này.
Mặc dù còn rất nhiều sự quan tâm, băn khoan về luật đầu tư
mới chưa được giải đáp kịp thời. Nhưng khi những dự thảo Nghị định
hướng dẫn thi hành luật Đầu tư mới vẫn còn nhiều tồn tại vướng mắc.
Đại diện cộng đồng doanh nghiệp và các chuyên gia cho rằng dự thảo
vẫn còn nhiều vướng mắc hết sức cơ bản như một số thủ tục chưa
đảm bảo tính minh bạch và rõ ràng, chưa hợp lý và một số khái niệm
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
được sử dụng vẫn chưa chính xác, chưa tương thích với pháp luật
hiện hành. Đồng thời dự thảo cũng chưa lường được hết các tình
huống phát sinh.
nhà đầu tư không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu về thủ tục, năng lực
triển khai dự án trong cơ chế tiền kiểm
Vấn đề bảo đảm cho các nhà đầu tư, các doanh nghiệp cũng
được bàn luận. Và nhất là chúng ta đang cố gắng rút ngắn thời gian
đàm phán để gia nhập WTO. Khi gia nhập WTO, Việt Nam buộc phải
dần xoá bỏ những ưu đãi theo quy định của tổ chức này. Nhằm đảm
bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư, chúng ta đấu tranh rất mạnh trong
quá trình đàm phán với cơ quan Đại diện thương mại Mỹ (USTR) để
có được lộ trình 5 năm cho việc xoá bỏ các trợ cấp bị cấm. Lộ trình cắt
giảm là 5 năm nhưng có thể có những điều kiện làm cho các ưu đãi
trong thời gian này không còn tính hấp dẫn của nó.
Tuy vậy theo một bài luận trên thời báo kinh tế Việt Nam, mục
Đầu tư nước ngoài, cập nhật ngày 5/7/2006 có nêu: “theo ý kiến của
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
các chuyên gia, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư hiện nay quan tâm
nhiều hơn đến môi trường đầu tư chứ không phải là được ưu đãi hay
không, ưu đãi bao nhiêu và như thế nào”.
Chi phí kinh doanh thấp được đánh giá là yêu tố quan trọng giúp
Việt Nam trở thành một trong hai địa chỉ đầu tư tốt nhất châu Á.
Nhưng việc Chính phủ thông qua quyết định tăng mức lương tối thiểu
vào tháng 2 năm 2006 đã khiến cho các nhà đầu tư lo ngại. Nhưng
theo Bộ Lao động – Thương binh và xã hội thì dù đã tăng lương
nhưng lương trả cho công nhân Việt Nam vẫn thấp nhất khu vực. Tuy
mức lương của công nhân Việt Nam là thấp nhất khu vực nhưng việc
tăng lương tối thiểu cũng đã làm tăng chi phí đáng kể. Phải chăng là ở
Việt Nam vẫn còn tồn tại sự bất hợp lý trong các chi phí sản xuất kinh
doanh. Theo điều tra của tổ chức JETRO và các doanh nghiệp Nhật
Bản thì giá của một số yếu tố sản xuất kinh doanh của Việt Nam còn ở
mức cao và không hợp lý.
khoảng một nửa. Điều đó cho thấy các nhà đầu tư hiện có ở Việt Nam
nhận thấy làm ăn ở Việt Nam rất hiệu quả”
Dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ. Dự thảo chỉ thị một
số giải pháp thúc đẩy “làn sóng đầu tư mới” của nước ngoài vao Việt
Namđang được các bộ, ngành hoàn tất. Và dự thảo cũng đã tiếp thu
rất nhiều ý kiến đè xuất của các chuyên gia về vấn đề này. Có thể tóm
lược các ý kiến đề xuất đó thành một số giải pháp sau:
1. Thống nhất nhận thức và hành động giữa các Bộ ngành, giữa
Trung ương và địa phương về thu hút và sử dụng vốn ĐTNN.
2. hoàn chỉnh quy hoạch, dỡ bỏ một số hạn chế về đầu tư. Rà
soát điều chỉnh quy hoạch ngànhtheo hướng xoá bỏ độc quyền và bảo
hộ sản xuất trong nước, tạo điều kiện cho khu vực ĐTNN tham gia
nhiều hơn vào phát triển các ngành. Hoàn chỉnh Danh mục dự án
quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài, bổ sung những dự án quy mô lớn
cần kêu gọi đầu tư nước ngoài.
3. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về ĐTNN
theo hướng hình thành một mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài, tạo thêm điều kiện thuận lợi, đảm bảo
tính minh bạch và dễ tiên đoán,phù hợp với nhu cầu hội nhập quốc tế.
4. Thực hiện cơ chế “hậu kiểm” với việc tăng cường hơn nữa
việc giám sát triển khai thực hiện dự án FDI và hoạt động sản xuất
của các doanh nghiệp FDI.
5. Đẩy nhanh lộ trình áp dụng cơ chế một giá và cắt giảm một
số chi phí sản xuất nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao khả năng
cạnh tranh.
6. Thực hiện cải cách hành chính và nâng cao chất lượng đội
ngũ công chức”giải quyết kịp thời các vấn đề vướng mắc phát sinh
giúp các doanh nghiệp triển khai dự án thuận lợi, và trong quá trình
hoạt động, kết hợp với khuyến khích mở rộng đầu tư.
7. Đổi mới, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác vận động,
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
MỤC LỤC
I.Phần mở đầu 1
Lời giới thiệu 1
II, Tìm hiểu, phân tích
1, Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài đến cuối năm 2004 -
đầu năm 2005
1.1, Kết quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năm
2004
1.2, Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI
1.3, Đánh giá những mặt tích cực, hạn chế của hoạt động thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của thời kỳ 1998-2004
1.3.1,Những mặt tích cực đã đạt được
1.3.2, Những hạn chế và tồn tại.
2, Số liệu thống kê về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong 6
tháng đầu năm 2006
2.1, Kết quả thu hút vốn đầu tư
2.2 . Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp FDI
3, Những đổi mới trong chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài nhìn từ góc độ khắc phục những hạn chế của thời kỳ 1988-2004
3.1, Những đổi mới trong chiến lược thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài hiện nay.
3.2, Những ý kiến bàn luận về một số đổi mới trong chiến lược.
3.3, Kỳ vọng về làn sóng đầu tư mới và những đề xuất giải pháp
của các chuyên gia, Bộ trương để đưa kỳ vọng đó trở thành hiện thực.
III. Kết luận
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Họ và tên : Trịnh Văn Công
III. Kết luận
- Suy nghĩ cá nhân và lời cảm ơn
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.