BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM - Pdf 15

BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
1
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ
CẠNH TRANH 3
PHẦN 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CÁC HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH
TRANH 3
PHẦN 2: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ
CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM 22
PHẦN 3: KHUYẾN NGHỊ SỬA ĐỔI CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH 38
CHƯƠNG II: HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG, LẠM DỤNG
VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 46
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KIỂM SOÁT ĐỘC QUYỀN 46
PHẦN 2: RÀ SOÁT VIỆC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ
THỐNG LĨNH/ĐỘC QUYỀN 63
PHẦN 3: KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT
HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH/ĐỘC QUYỀN 82
CHƯƠNG III: TẬP TRUNG KINH TẾ 89
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ QUY ĐỊNH VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ 89
PHẦN 2: QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG TẬP TRUNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM 120
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 142
CHƯƠNG IV: RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 151
PHẦN 1: HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM 151
PHẦN 2. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 184
PHẦN 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TẠI VIỆT NAM 210
CHƯƠNG V: MÔ HÌNH CÁC CƠ QUAN CẠNH TRANH 224
PHẦN 1: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ XÂY DỰNG CƠ QUAN CẠNH TRANH 224
PHẦN 2: THỰC TRANG CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM 230

nghiệp đã nhìn nhận cạnh tranh như một mối hiểm họa đối với khả năng thu lợi nhuận
cũng như sự tồn vong của doanh nghiệp. Vì vậy, thay vì nỗ lực điều chỉnh, nâng cao
năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong bối cảnh mới, các doanh nghiệp này
đã chọn một con đường dễ dàng hơn là dàn xếp, thỏa thuận với các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường về giá cả, sản xuất, thị trường, khách hàng… nhằm duy trì thị phần và
lợi nhuận kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận.
Hậu quả tất yếu của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự độc quyền hóa thị trường,
theo đó các vấn đề quan trọng của thị trường như giá cả, sản lượng, khách hàng…
không còn tuân thủ theo quy luật thị trường mà bị khống chế bởi một nhóm các doanh
nghiệp tham gia thỏa thuận. Từ việc khống chế thị trường, hành vi thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh, vì vậy, thường mang tính chất ―trục lợi‖ (exploitative) hoặc ―ngăn cản, loại
bỏ‖ (exclusionary) cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh như Adam Smith đã phát
hiện thấy trong cuốn Sự thịnh vượng của các quốc gia xuất bản năm 1776:
―… những người trong cùng một nghề thường hiếm khi gặp nhau, thậm chí để vui vẻ
và giải trí, nhưng nếu có thì các cuộc nói chuyện giữa họ thường kết thúc với âm mưu
chống lại công chúng, hoặc một số thủ đoạn để tăng giá.‖
Mặc dù vậy, không phải tất cả các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp đều nhất
thiết nhằm mục đích hoặc có tác động làm phương hại cạnh tranh. Trong một số quốc
gia, luật cạnh tranh có quy định miễn trừ cho một số thỏa thuận hợp tác giữa các doanh
nghiệp nếu các thỏa thuận đó có tác dụng làm tăng hiệu quả kinh tế, năng động hóa thị
trường. Ví dụ, nhiều quốc gia cho phép các doanh nghiệp hợp tác trong lĩnh vực nghiên
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
4
cứu, phát triển sản phẩm (R&D), nghiên cứu, phát triển các tiêu chuẩn thống nhất cho
sản phẩm… để kích thích lợi thế kinh tế qui mô, thúc đẩy các tiến bộ kỹ thuật, công
nghệ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và toàn bộ nền kinh tế.
Từ các đánh giá, nhìn nhận về tác động tiêu cực của các hành vi thỏa thuận hạn

5
giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Khác với pháp luật cạnh tranh của
Châu Âu và Nhật Bản, Luật Cạnh tranh của Việt Nam không đưa ra khái niệm về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh mà quy định cụ thể về 8 dạng thức (hành vi) thoả thuận, bao
gồm các thỏa thuận như thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, tiết chế sản
lượng… quy định tại Điều 8, Luật Cạnh tranh.
Như vậy, pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cũng như của các quốc gia nêu trên
đều không phân biệt hình thức thỏa thuận (công khai hay ngầm) và đều nhắm vào mục
đích/hệ quả hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận. Tuy nhiên, từ các cách tiếp cận điều
chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, có thể thấy rằng pháp luật cạnh tranh Việt
Nam hiện hành sử dụng cách tiếp cận đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hẹp hơn so
với tiếp cận của Châu Âu và Nhật Bản, chí ít trên 2 phương diện:
 Ở Việt Nam, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ bao hàm thỏa thuận giữa các
doanh nghiệp, không bao hàm các quyết định của Hiệp hội doanh nghiệp hay các hành
vi liên kết khác như ở Châu Âu và Nhật Bản. Chính bởi cách tiếp cận này, Luật Cạnh
tranh của Việt Nam đã không xem xét vai trò của các hiệp hội trong các vụ việc liên
quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
 Xuất phát từ cách tiếp cận liệt kê hành vi, ở Việt Nam, ngoài 8 dạng thỏa
thuận được luật hóa tại Điều 8 của Luật, các hạn chế thương mại bất hợp lý khác hay
các hành vi liên kết, thông đồng khác mặc dù có mục đích hoặc hệ quả ngăn cản, hạn
chế hoặc làm sai lệch quy luật cạnh tranh trên thị trường nhưng nếu không thuộc 8
dạng thỏa thuận được liệt kê sẽ không bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và không
bị xem xét.
Trong các phần sau, báo cáo sẽ phân tích kỹ lưỡng hơn các điểm tương đồng, dị
biệt trong cách tiếp cận điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của pháp luật
cạnh tranh Việt Nam và của một số nước khác, đánh giá các ưu, nhược điểm để từ đó
có các khuyến nghị phù hợp.

Ấn định giá bán lại

Các loại thỏa thuận dọc khác

Hợp đồng giao dịch độc quyền

Bán kèm

Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.2.1. Căn cứ mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tham gia thoả thuận
Căn cứ theo mối quan hệ giữa các chủ thể (doanh nghiệp) tham gia thỏa thuận, có
thể phân loại thành thỏa thuận theo chiều ngang và thỏa thuận theo chiều dọc. Việc
phân loại này có một ý nghĩa quan trọng trong cách tiếp cận điều chỉnh hành vi thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh, bởi vì thỏa thuận ngang luôn được đánh giá là có tác động
nguy hại hơn so với thỏa thuận theo chiều dọc, do phạm vi ảnh hưởng trên cùng một
thị trường của thỏa thuận ngang lớn hơn thỏa thuận dọc. Do vậy, phân biệt rõ ràng giữa
thỏa thuận ngang và thỏa thuận dọc sẽ giúp ích cho việc định hướng cách thức điều
chỉnh hành vi thỏa thuận, mức độ can thiệp của cơ quan cạnh tranh đối với vụ việc.
a. Thỏa thuận theo chiều ngang
Thỏa thuận theo chiều ngang (các-ten) là thỏa thuận giữa các chủ thể kinh
doanh trong cùng ngành hàng và cùng khâu của quá trình kinh doanh (ví dụ: thỏa thuận
giữa các nhà sản xuất, những người bán buôn với nhau, giữa những người bán lẻ với
nhau).
Về chủ thể, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang diễn ra giữa các
doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với nhau.
Về hình thức, thỏa thuận là sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp,
có thể công khai hoặc ngầm.
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
thỏa thuận ấn định giá là thỏa thuận nhằm loại bỏ, triệt tiêu hoặc hạn chế cạnh tranh về giá
cả giữa các doanh nghiệp. Thỏa thuận ấn định giá có thể bao gồm các thỏa thuận (ngầm
hoặc công khai) nhằm tăng, giảm, kìm giữ giá các sản phẩm trên thị trường.
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
8
 Thỏa thuận hạn chế sản lƣợng có thể bao gồm các thỏa thuận về sản lượng
sản xuất, sản lượng bán hoặc tỷ lệ tăng trưởng thị trường. Về bản chất, thỏa thuận hạn
chế sản lượng là những toan tính tác động trực tiếp đến quan hệ cung cầu của thị
trường bằng cách tạo ra sự khan hiếm giả tạo về hàng hóa, dịch vụ mà các doanh
nghiệp kinh doanh. Sự khan hiếm giả tạo được chứng minh bằng năng lực kinh doanh
của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận, theo đó họ đã thống nhất cắt giảm số lượng
sản xuất, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ hoặc ấn định số lượng, khối lượng sản
xuất, mua bán hàng hoá đủ để tạo khan hiếm trên thị trường trong khi năng lực sản
xuất, mua bán hoặc cung ứng của họ đủ đáp ứng nhu cầu thị trường. Năng lực kinh
doanh của doanh nghiệp được xác định bằng số lượng, khối lượng hàng hoá, dịch vụ đã
sản xuất mua bán hoặc cung ứng trước khi có thỏa thuận.
 Thỏa thuận phân chia thị trƣờng là những thỏa thuận trong đó các đối thủ
cạnh tranh phân chia các thị trường với nhau theo lãnh thổ, theo lượng cung, cầu của
từng doanh nghiệp hoặc theo nhóm khách hàng cụ thể.
Thứ nhất, thỏa thuận phân chia thị trường theo lãnh thổ là việc các doanh nghiệp
phân chia thị trường địa lý liên quan thành các khu vực và giao cho từng doanh nghiệp
tham gia được quyền mua, bán hàng hóa dịch vụ trong một, một số khu vực nhất định.
Thỏa thuận này được pháp luật của các nước coi là loại thỏa thuận kinh điển nhất trong
những thỏa thuận phân chia thị trường.
Thứ hai, thỏa thuận phân chia thị trường mang tính định lượng là việc các doanh
nghiệp thống nhất phân bổ lượng hàng hóa, dịch vụ mua, bán trên thị trường cho từng
doanh nghiệp tham gia. Trong trường hợp này, thị trường được phân chia theo lượng

hành vi này là nhằm can thiệp đến việc định giá thầu hoặc bằng cách giảm sản lượng
hoặc nhằm chuyển nhượng, phân chia những hợp đồng cụ thể hoặc thị phần giữa các
đối thủ cạnh tranh. Bất kể việc phân loại cụ thể như thế nào, thì tất cả các loại hardcore
cartel đều bao gồm hành vi mà trong đó các đối thủ cạnh tranh ấn định một mặt của thị
trường tự do.
a.2. Thỏa thuận ngang ít nghiêm trọng (non-hardcore cartels)
Trong số các thỏa thuận theo chiều ngang, không phải tất cả các thỏa thuận
theo chiều ngang đều gây tác hại xấu, mà có thể có những trường hợp các đối thủ
cạnh tranh phối hợp với nhau theo cách thức mang lại lợi ích kinh tế không chỉ cho
bản thân họ, mà còn làm lợi cho cả người tiêu dùng. Những thỏa thuận ngang như
thế có thể gọi là thỏa thuận hợp tác.
Những hình thức thỏa thuận hợp tác phổ biến nhất bao gồm:
 Thỏa thuận nghiên cứu và phát triển (R&D): Các thỏa thuận R&D có thể
tạo ra một khuôn khổ chung cho một số hoạt động R&D nhất định, cải thiện các công
nghệ hiện có hoặc hợp tác nghiên cứu, phát triển và tiếp thị các sản phẩm mới.
 Thỏa thuận sản xuất: Có ba dạng thỏa thuận sản xuất chính:
- thỏa thuận liên doanh sản xuất, theo đó các bên thỏa thuận liên doanh sản xuất
một số sản phẩm nhất định;
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
10
- thỏa thuận chuyên môn hóa (đơn phương hoặc đồng nhất), theo đó các bên
thỏa thuận đơn phương hoặc cùng nhau chấm dứt sản xuất một loại sản phẩm và mua
chúng từ một bên khác;
- thỏa thuận thầu phụ, theo đó một bên (nhà thầu) giao việc sản xuất sản phẩm
cho một bên khác (nhà thầu phụ).
 Thỏa thuận mua chung sản phẩm: Thỏa thuận liên quan đến việc cùng nhau
mua sản phẩm do một công ty liên doanh mà trong đó nhiều doanh nghiệp giữ cổ phần

hợp tác giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp hoạt động ở những khâu khác nhau trong quá
trình sản xuất, hoặc phân phối trên thị trường. Nhìn chung, các thỏa thuận theo chiều
dọc phần lớn ít gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường cạnh tranh, tới thị trường hơn
so với thỏa thuận theo chiều ngang.
Về chủ thể, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận dọc không phải là đối thủ cạnh
tranh của nhau, mà là những doanh nghiệp hoạt động ở các khâu khác nhau trong quá
trình kinh doanh, chẳng hạn như nhà sản xuất và nhà phân phối.
Về hình thức, cũng giống như thỏa thuận ngang, thỏa thuận dọc có thể công khai
hoặc ngầm định.
Về nội dung, thỏa thuận dọc thường tập trung vào các điều kiện kinh doanh trên
thị trường thứ cấp như giá bán lại, khu vực phân phối, sản lượng phân phối, khách
hàng giao dịch, điều kiện phân phối…Thỏa thuận theo chiều dọc thường đa dạng, tùy
thuộc vào đặc điểm của sản phẩm hay dịch vụ phân phối. Dựa trên các nhóm hành vi
thường gặp, thỏa thuận theo chiều dọc có ba dạng chính, bao gồm:
 thỏa thuận ấn định giá bán lại;
 thỏa thuận bán kèm sản phẩm, dịch vụ;
 hợp đồng độc quyền.
Ngoài ra, còn có một số hình thức thỏa thuận dọc khác như ấn định số lượng sản
phẩm, dịch vụ phải bán, bán sản phẩm theo mức giá khuyến nghị…
Về tác động hạn chế cạnh tranh, có thể thấy thỏa thuận dọc tác động đến hoạt động
cạnh tranh giữa các nhà phân phối của cùng một sản phẩm (intra-brand) và giữa các nhà
sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ trên thị trường (inter-brand). Nói cách khác, tác động hạn
chế cạnh tranh của thỏa thuận theo chiều dọc là theo cả chiều dọc và chiều ngang. Tuy
nhiên, mức độ gây hạn chế cạnh tranh của các dạng thỏa thuận dọc thường ít hơn (so với
thỏa thuận ngang), vì vậy các nước thường sử dụng cách tiếp cận hợp lý để đánh giá theo
từng vụ việc cụ thể và thông thường chỉ xem xét khi một trong các bên tham gia thỏa
thuận có sức mạnh thống lĩnh thị trường. Riêng đối với thỏa thuận ấn định giá bán lại,
Nhật Bản có cách tiếp cận tương đối nghiêm khắc, theo đó mặc nhiên cấm mọi hình thức
thỏa thuận ấn định giá bán lại.
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM

phân phối Vì vậy, đối với các thỏa thuận dọc, cơ quan cạnh tranh thường đánh giá tác
động tới cạnh tranh và ra quyết định theo từng trường hợp cụ thể.
Thỏa thuận thuộc nhóm hardcore nguy hại hơn thỏa thuận thuộc nhóm non-
hardcore cartel.
Có một số loại thỏa thuận được xếp vào nhóm thỏa thuận ngang nghiêm trọng
nhất như thỏa thuận ấn định giá, hạn chế sản lượng, phân chia thị trường và thông đồng
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
13
đấu thầu. Các thỏa thuận này luôn được ưu tiên chú trọng hàng đầu, bởi hầu hết các
quốc gia đều cho rằng các loại thỏa thuận này luôn gây ra tác động nguy hại và trực
tiếp đối với môi trường cạnh tranh. Trong khi đó, các thỏa thuận non-hardcore không
phải lúc nào cũng gây ra tác động tiêu cực. Một số thỏa thuận non-hardcore còn phát
sinh hiệu quả kinh tế như đã phân tích ở phần trên. Trong nhiều trường hợp, các tác
động thúc đẩy cạnh tranh của các thỏa thuận này còn lớn hơn so với tác động phản
cạnh tranh mà nó gây ra. Thông thường, các cơ quan cạnh tranh xem xét, đánh giá các
hành vi non-hardcore cartel trên cơ sở phân tích và cân bằng các tác động thúc đẩy
cạnh tranh cũng như tác động hạn chế cạnh tranh phát sinh từ thỏa thuận.
3. Nguyên tắc ban hành quy định cấm
Từ thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh, trên cơ sở đánh giá mức độ nguy hại
tới cạnh tranh của các dạng thỏa thuận, các nước đi trước đã đưa ra các nguyên tắc để
đánh giá tính hợp pháp/bất hợp pháp của một thỏa thuận nhằm tăng cường khả năng
thực thi pháp luật. Có hai nguyên tắc được các cơ quan cạnh tranh sử dụng khi xem
xét, đánh giá một hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bao gồm: cấm mặc nhiên (per
se rule) đối với các thỏa thuận nghiêm trọng và chỉ cấm một số trường hợp đối với các
thỏa thuận không thuộc nhóm nghiêm trọng (rule of reason).
Nguyên tắc vi phạm mặc nhiên là nguyên tắc coi một số hành vi hạn chế cạnh
tranh cụ thể là mặc nhiên vi phạm pháp luật cạnh tranh. Nguyên tắc vi phạm mặc nhiên

cạnh tranh và tác động hạn chế cạnh tranh.
Nếu thỏa thuận giữa các doanh nghiệp mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn so với
các tác động phản cạnh tranh; đồng thời lợi ích này là công bằng giữa nhà sản xuất
và người tiêu dùng trong khi không có biện pháp nào khác có thể được sử dụng để
mang lại lợi ích kinh tế tương đương thì thỏa thuận đó được coi là hợp pháp. Ngược
lại, nếu hành vi thỏa thuận dẫn đến các tác động hạn chế cạnh tranh mà không thể
bù đắp bởi các tác động thúc đẩy cạnh tranh mà nó đem lại và không đáp ứng những
điều kiện nêu trên thì bị coi là bất hợp pháp.
Tuy nhiên, để đưa ra được đánh giá cuối cùng, các cơ quan cạnh tranh thường
phải xem xét các hiện tượng đặc biệt dẫn đến hình thành và áp dụng các thỏa thuận,
các điều kiện thị trường trước và sau khi thực hiện thỏa thuận, bản chất của thỏa thuận
và các tác động thực tế hoặc có thể do hành vi thỏa thuận gây ra… Theo hướng dẫn áp
dụng Điều 101(3) TFEU của EU, việc đánh giá một thỏa thuận có thể được thực hiện
thông qua 2 bước: (1) Thỏa thuận đang xem xét có gây hạn chế cạnh tranh hay không;
và (2) thỏa thuận đó có mang lại lợi ích thúc đẩy cạnh tranh hay không và liệu tác động
thúc đẩy cạnh tranh của thỏa thuận có lớn hơn tác động hạn chế cạnh tranh do nó mang
lại hay không. Hướng dẫn hiện tại của EU liệt kê 4 điều kiện có thể được các cơ quan
cạnh tranh dùng làm căn cứ để xem xét, đánh giá thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, gồm:
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
15
 Lợi ích kinh tế: thỏa thuận đang xem xét phải mang lại những lợi ích kinh tế
như cải tiến sản xuất và phân phối sản phẩm hoặc thúc đẩy sự tiến bộ khoa học kỹ
thuật và kinh tế phải lớn hơn các tác động hạn chế cạnh tranh gây ra.
 Tính cần thiết: các hạn chế do thỏa thuận gây ra là cần thiết để đạt được các
lợi ích kinh tế. Nếu có những cách khác ít gây hạn chế cạnh tranh hơn để đạt được lợi
ích tương tự, thì những lợi ích đạt được từ việc thỏa thuận sẽ không thể được sử dụng
để biện minh cho tác động hạn chế cạnh tranh. Nói cách khác, cơ quan cạnh tranh phải

Các hình thức xử lý vi phạm đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy
định trong pháp luật cạnh tranh phải phù hợp với đối tượng bị truy cứu trách nhiệm, đồng
thời phải tương xứng với mức độ tác động và gây hại của hành vi, trong đó bao gồm:
a) chế tài phạt tù: được áp dụng đối với cá nhân vi phạm;
b) chế tài phạt tiền: được áp dụng đối với doanh nghiệp; cá nhân và/hoặc tổ
chức vi phạm;
c) biện pháp khắc phục hậu quả: được áp dụng đối với doanh nghiệp và/hoặc tổ
chức vi phạm.
4.1.1. Xử lý vi phạm đối với cá nhân
Cá nhân vi phạm được đề cập trong phần này có thể là giám đốc, nhà quản lý,
người đại diện doanh nghiệp, chủ tịch hoặc thành viên ban chấp hành hiệp hội đã thực
hiện hành vi thỏa thuận; ép buộc, lôi kéo, xúi giục hoặc tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi
để các bên dễ dàng tham gia thỏa thuận.
Các hình thức xử lý vi phạm có thể áp dụng đối với các cá nhân vi phạm bao gồm
a) chế tài phạt tù và/hoặc b) chế tài phạt tiền.
Chế tài xử lý vi phạm đối với cá nhân thường được áp dụng trong các trường hợp
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc nhóm hardcore cartels, như thỏa thuận ấn định giá,
phân chia thị trường, hạn chế sản lượng hoặc thông đồng đấu thầu
Việc quy định các chế tài xử lý hình sự đối với các cá nhân tham gia thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật đối với các hành vi các-ten
nguy hại, đồng thời mang tính răn đe, ngăn ngừa. Tuy nhiên, không phải tất cả các
nước đều có quy định về chế tài xử lý vi phạm đối với cá nhân tham gia thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh. Các chế tài xử phạt này chỉ được áp dụng ở những quốc gia có chế độ
xử lý hình sự đối với các-ten, với cách tiếp cận coi các-ten là một tội hình sự, tương tự
như các tội danh trộm cắp, gian lận Khi đó, việc xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh vi phạm được thực hiện theo thủ tục tố tụng hình sự.
Trong xử lý hình sự đối với các cá nhân tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,
các quốc gia cũng quy định khác nhau về thẩm quyền xử lý vi phạm, thời hạn phạt tù
và mức phạt tiền tối đa.
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM

khoảng thời gian để tính toán doanh thu/doanh số, lợi nhuận; khung phạt tối thiểu, tối
đa. Tỷ lệ phần trăm tối đa từ doanh thu thường được quy định ở mức 10%. Khoảng
thời gian để tính toán doanh thu làm cơ sở tính mức phạt có thể là 01 hoặc tối đa 03
năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm. Khung phạt có thể rơi vào khoảng
giữa mức tối thiểu và mức tối đa, hoặc chỉ quy định mức phạt tối đa.
Đối với từng vụ việc, cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm về hành vi thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh có quyền quyết định áp dụng một, một số hoặc tất cả các hình thức
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
18
phạt tiền nêu trên. Mức phạt tiền cao hay thấp tùy thuộc vào tính nghiêm trọng, mức độ
tác động của hành vi, tuy nhiên không được vượt quá mức tối đa, hoặc nằm ngoài
khung phạt tiền theo quy định của pháp luật cạnh tranh.
b) Biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài chế tài phạt tiền, các biện pháp khắc phục hậu quả cũng được các cơ quan
thực thi cạnh tranh chú trọng áp dụng như là các giải pháp nhằm cân bằng thị trường,
đưa thị trường trở về trạng thái cạnh tranh hơn hoặc trạng thái như trước khi xảy ra các
hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Các biện pháp khắc phục hậu quả đối với doanh nghiệp có thể là buộc bồi thường,
bù đắp tổn thất, thiệt hại cho khách hàng, người tiêu dùng, đối tác kinh doanh; buộc
loại bỏ những điều khoản vi phạm ra khỏi hợp đồng, bản cam kết, ghi nhớ, thỏa thuận
giữa các doanh nghiệp/cá nhân kinh doanh; buộc cam kết không tái phạm hoặc tiếp tục
vi phạm các quy định của Luật Cạnh tranh hay buộc học tập và được giáo dục nhận
thức về pháp luật cạnh tranh Các biện pháp xử lý này mang tính chiến lược, lâu dài,
có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn các trường hợp tái phạm trong tương lai.
4.1.3. Xử lý vi phạm đối với tổ chức nghề nghiệp
Các tổ chức nghề nghiệp, chẳng hạn như hiệp hội các doanh nghiệp trong cùng
một ngành không phải là đối tượng trực tiếp tham gia thỏa thuận. Tuy nhiên, hiệp hội

pháp luật cạnh tranh của Romania năm 2003, Estonia năm 2002 và Hungary năm 2005.
Gần đây nhất, năm 2009, cơ quan thực thi cạnh tranh tại Úc và Nam Phi cũng đã
thay đổi quan điểm và có thái độ nghiêm khắc hơn đối với các hành vi các-ten, coi các-ten
là một tội hình sự. Theo Luật Cạnh tranh mới được sửa đổi của Úc, cá nhân vi phạm hình
sự trong các vụ việc các-ten có thể chịu mức phạt tù tối đa 10 năm và/hoặc mức phạt tiền
tới 220,000 đô la Úc/hành vi. Tại Nam Phi, từ năm 2009, cá nhân là giám đốc hoặc giữ vị
trí quản lý doanh nghiệp đã chỉ đạo, lôi kéo doanh nghiệp thực hiện thảo thuận hạn chế
cạnh tranh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự dưới hình thức nộp phạt với mức tiền
phạt không quá 500,000 Rand Nam Phi hoặc bị phạt tù tối đa 10 năm, hoặc phải chịu cả
hai chế tài xử phạt.
b) Xu hướng tăng mức phạt
Thể hiện phản ứng mạnh mẽ hơn, quyết tâm cao hơn trong thực thi các quy định
kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh, trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới
có xu hướng tăng chế tài xử phạt đối với doanh nghiệp và cá nhân vi phạm, bao gồm tăng
thời hạn phạt tù, mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân, doanh nghiệp. Cụ thể như dưới đây:

BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
20
Xu hƣớng thay đổi mức phạt đối với cá nhân vi phạm pháp luật về thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh của một số quốc gia 2000 – 2009
Quốc gia
Năm
SĐBS
Mức phạt tù tối đa
Mức phạt tiền tối đa
Trƣớc SĐBS
Sau SĐBS

60,000 €
Hoa Kỳ
2004
3 năm
10 năm
350,000 $
1 triệu $
Xu hƣớng thay đổi mức phạt tiền đối với doanh nghiệp vi phạm pháp luật về
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của một số quốc gia 2000 – 2009
Quốc gia
Năm
SĐBS
Trƣớc SĐBS
Sau SĐBS
Chile
2009

24.2 triệu $
Ai Cập
2008
2 triệu $
55 triệu $
Pháp

5% doanh thu thị trường Pháp
10% doanh thu toàn cầu
Đức


10% doanh thu hoặc 10 triệu €
Hoa Kỳ
2004
10 triệu $
100 triệu $

Mỗi quốc gia lựa chọn một chế độ xử lý riêng đối với hành vi thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh, phù hợp với hệ thống pháp luật của mình. Mặc dù cơ sở và cách tính toán
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
21
mức phạt, khung phạt giữa các quốc gia có sự khác biệt, tuy nhiên với việc thống nhất
nâng cao quan điểm đánh giá đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các cơ
quan cạnh tranh ngày càng có xu hướng hình sự hóa hành vi các-ten nghiêm trọng hoặc
quy định chế tài phạt nặng hơn nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chống các-ten.
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
22
PHẦN 2: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH HIỆN
HÀNH VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM

1. Tổng quan về các quy định hiện hành
1.1. Về các hành vi t hỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Khoản 3, Điều 3, Luật cạnh tranh đưa ra khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh
―là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, làm sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị

8) Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung
cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Mỗi loại thỏa thuận trên được mô tả chi tiết tại Nghị định hướng dẫn thi hành (từ
Điều 14 đến Điều 21, Nghị định 116/2005/NĐ-CP). Như vậy, phạm vi các thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh bị điều chỉnh chỉ nằm trong khuôn khổ các hành vi được quy định
trong Luật và Nghị định.
1.2. Về các quy định cấm
Các quy định cấm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được đề cập tại Điều 9,
Luật Cạnh tranh. Theo đó, các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm đoán ở hai
mức độ: cấm tuyệt đối (trong mọi trường hợp) và cấm khi thị phần kết hợp của các bên
tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan chiếm từ 30% trở lên. Mặc dù vậy, căn cứ
các quy định hiện hành, có thể thấy rằng Luật Cạnh tranh của Việt Nam sử dụng
nguyên tắc vi phạm mặc nhiên khi đánh giá các hành vi thỏa thuận.
1) Quy định cấm tuyệt đối (Khoản 1, Điều 9, Luật Cạnh tranh): được áp dụng
đối với các thỏa thuận quy định tại khoản 6; 7; 8, Điều 8, Luật Cạnh tranh, bao gồm (1)
thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc
phát triển kinh doanh; (2) thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp
không phải là các bên của thoả thuận; (3) thông đồng để một hoặc các bên của thoả
thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
Theo cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh Việt Nam, ba loại thỏa thuận bị cấm
tuyệt đối và không được miễn trừ luôn hàm chứa tính chất hạn chế cạnh tranh mà
không có bất cứ một cơ sở nào để có thể biện hộ về hiệu quả của chúng đối với thị
trường. Do đó, việc xác định hành vi thỏa thuận bị cấm trong các trường hợp này
không đòi hỏi phải chứng minh về sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp tham gia
thỏa thuận.
2) Quy định cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên
thị trƣờng liên quan từ 30% trở lên (Khoản 2, Điều 9, Luật Cạnh tranh): được áp
dụng đối với các thỏa thuận quy định tại khoản 1; 2; 3; 4; 5, Điều 8, Luật Cạnh tranh,
bao gồm (1) thỏa thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
(2) thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

khi thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các bên tham gia từ 30% trở lên. Cụ
thể, theo Điều 10, Luật Cạnh tranh, chỉ những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định
tại khoản 2, Điều 9 mới thuộc phạm vi các thỏa thuận được xem xét miễn trừ có thời
hạn.
Các thỏa thuận nêu trên được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng một trong các
điều kiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng:
a) Hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh
doanh;
b) Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch
vụ;
c) Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ
thuật của chủng loại sản phẩm;
BÁO CÁO RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM
25
d) Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không
liên quan đến giá và các yếu tố của giá;
e) đ) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa;
f) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc
tế.
Để được hưởng miễn trừ, các bên tham gia thỏa thuận phải thực hiện thủ tục đề
nghị hưởng miễn trừ quy định tại Điều 25-38, Luật Cạnh tranh. Trên cơ sở hồ sơ đề
nghị hưởng miễn trừ của các bên, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm xem xét,
đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ Công Thương ra quyết định.
1.4. Về các hình thức xử lý vi phạm
a) Hình thức xử lý vi phạm
Tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân kinh doanh (doanh nghiệp) vi phạm các quy
định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm sẽ bị xử lý theo các hình thức được quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status