nghiên cứu - trao đổi
20 - Tạp chí luật học
Một số vấn đề mới của
Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998
Nguyễn Công Khanh *
uật quốc tịch Việt Nam ngày
28/6/1988 là đạo luật đầu tiên của
Nhà nớc ta quy định khá đầy đủ,
thống nhất các vấn đề về quốc tịch Việt
Nam. Tuy nhiên, vì đợc ban hành vào thời
kì đầu của công cuộc đổi mới đất nớc nên
bớc vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc
tế, các quy định của Luật quốc tịch 1988 đ
bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, không đáp
ứng đợc các yêu cầu của thực tiễn. Vì vậy,
ngày 20/5/1998, Quốc hội khóa X tại kì
họp thứ ba đ thông qua Luật quốc tịch
Việt Nam (Luật số 07/1998/ QH10 - gọi tắt
là Luật quốc tịch 1998).
Trong bài viết này, chúng tôi xin trao
đổi về một số vấn đề mới của Luật quốc
tịch 1998 so với Luật quốc tịch 1988.
I. Mục đích, yêu cầu ban hành
Luật quốc tịch 1998
Việc ban hành Luật quốc tịch 1998
lần này nhằm đạt đợc những mục đích,
hoàn toàn phù hợp với xu thế mở cửa hiện
nay đồng thời góp phần thực hiện thắng
lợi chính sách đại đoàn kết dân tộc do
Đảng và Bác Hồ đề ra.
Thứ hai, đảm bảo phù hợp với các quy
định của Hiến pháp 1992 và đồng bộ với
các văn bản pháp luật khác liên quan đến
quốc tịch Việt Nam. Về thẩm quyền giải
quyết các vấn đề về quốc tịch, tại Điều 15
Luật quốc tịch năm 1988 quy định Hội
đồng bộ trởng (nay là Chính phủ) quyết
định những trờng hợp cho vào, cho trở
lại, cho thôi, tớc quốc tịch Việt Nam,
hủy bỏ quyết định cho vào quốc tịch Việt
Nam trong khi đó tại khoản 10 Điều 103
Hiến pháp 1992 lại quy định Chủ tịch
nớc quyết định cho nhập, cho thôi, tớc
L
* Vụ pháp luật và hợp tác quốc tế
Bộ t pháp nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 21
quốc tịch Việt Nam. Để đảm bảo sự phù
hợp với quy định đó của Hiến pháp 1992,
tại Điều 32 Luật quốc tịch 1998 quy định
II. Một số nguyên tắc cơ bản
đợc Luật quốc tịch 1998 ghi
nhận
1. Quyền bình đẳng đối với quốc
tịch Việt Nam
Điều 1 Luật quốc tịch 1998 quy định
về quyền của cá nhân đối với quốc tịch:
Công dân Việt Nam không ai bị tớc
quốc tịch Việt Nam trừ trờng hợp luật
định; quyền bình đẳng của mọi thành
viên thuộc các dân tộc cùng sinh sống
trên lnh thổ Việt Nam về quốc tịch Việt
Nam. Nguyên tắc này đợc đảm bảo thi
hành bằng các quy định tại Điều 14, 15,
16 và 17 Luật quốc tịch 1998 thông qua
việc xác định quốc tịch Việt Nam của cá
nhân ngay từ khi mới sinh ra theo nguyên
tắc huyết thống hoặc kết hợp yếu tố nơi
sinh trên lnh thổ Việt Nam với nguyên
tắc huyết thống.
2. Nguyên tắc một quốc tịch Việt
Nam
Điều 3 Luật quốc tịch 1998 quy định:
"Nhà nớc Cộng hòa x hội chủ nghĩa
Việt Nam công nhận công dân Việt Nam
có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam".
Quy định này một mặt vẫn tiếp tục khẳng
định nguyên tắc một quốc tịch đ đợc
ghi nhận trong các văn bản pháp luật về
quốc tịch của Nhà nớc ta, mặt khác đợc
cản trở" đến việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam.
3. Nghĩa vụ của Nhà nớc trong
việc bảo hộ ngời Việt Nam ở nớc
ngoài
Đây là nguyên tắc hiến định và đợc
cụ thể hóa rất rõ và nhấn mạnh tại Điều 5
Luật quốc tịch 1998: Các cơ quan nhà
nớc ở trong nớc, cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan lnh sự Việt Nam ở nớc
ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện
pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của
nớc sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế
để thực hiện sự bảo hộ đó.
Cần lu ý thêm về các quy định tại
Điều 6 và Điều 7 Luật quốc tịch 1998 về
chính sách của Nhà nớc Việt Nam đối
với ngời gốc Việt Nam và công dân Việt
Nam ở nớc ngoài. Một mặt, Nhà nớc
có chính sách khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi để ngời gốc Việt Nam ở
nớc ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia
đình, quê hơng, đất nớc, góp phần xây
dựng quê hơng, đất nớc; tạo điều kiện
thuận lợi để những ngời bị mất quốc tịch
Việt Nam đợc trở lại quốc tịch Việt
Nam. Mặt khác, đối với công dân Việt
Nam ở nớc ngoài, lần đầu tiên pháp luật
nớc ta quy định rõ Nhà nớc có chính
sách để họ có điều kiện hởng các quyền
định tại Điều 15 Luật quốc tịch 1998,
một ngời đợc xác định là có quốc tịch
Việt Nam nếu có một trong các căn cứ là
do sinh ra, do đợc nhập quốc tịch Việt
Nam, do đợc trở lại quốc tịch Việt Nam
theo điều ớc quốc tế mà Việt Nam kí kết
hoặc tham gia, do bị bỏ rơi hoặc tìm thấy
trên lnh thổ Việt Nam, do đợc công dân
Việt Nam nhận làm con nuôi.
ở đây, chúng tôi chỉ đề cập việc có
quốc tịch Việt Nam do đợc nhập quốc
tịch. Nhập quốc tịch Việt Nam là việc
ngời vốn không phải là công dân Việt
Nam nay có quốc tịch Việt Nam do đợc
cho phép nhập quốc tịch Việt Nam. Tất
nhiên, cũng nh ở nhiều nớc, việc nhập
quốc tịch Việt Nam phải tuân theo những
quy định hết sức chặt chẽ về điều kiện và
trình tự, thủ tục giải quyết. Luật quốc tịch
1998 khác với Luật quốc tịch năm 1988 ở
chỗ Luật mới quy định đầy đủ hơn về nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 23
những vấn đề này và có tính khả thi hơn.
Cụ thể nh sau:
1. Điều kiện nhập quốc tịch Việt
Nam
bản cam kết về việc từ bỏ quốc tịch nớc
ngoài khi đợc nhập quốc tịch Việt Nam.
Nh trên đ nói, đây đợc coi là điều
kiện bắt buộc đối với công dân nớc
ngoài xin nhập quốc tịch Việt Nam. Công
dân nớc ngoài đợc nhập quốc tịch Việt
Nam phải từ bỏ quốc tịch nớc ngoài trừ
trờng hợp đợc Chủ tịch nớc cho phép
giữ quốc tịch nớc ngoài. Tuy nhiên,
ngời đó phải cam kết bằng văn bản rằng
việc giữ quốc tịch nớc ngoài sẽ không
làm cản trở đến việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam.
2. Miễn, giảm điều kiện nhập quốc
tịch Việt Nam
Theo quy định tại khoản 2 Điều 20
Luật quốc tịch 1998 và khoản 1 Điều 9
Nghị định số 104 thì việc miễn, giảm
điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam đợc
áp dụng cho 3 đối tợng sau;
Thứ nhất, ngời có cha, mẹ, vợ,
chồng, con là công dân Việt Nam (đối
tợng 1), ngời có công lao đóng góp cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam (đối tợng 2). Những ngời
này đợc giảm 2 năm thờng trú tại Việt
Nam và đợc miễn các điều kiện về trình
độ tiếng Việt và khả năng đảm bảo cuộc
sống tại Việt Nam.
Thứ hai, trong trờng hợp cá biệt mà
tịch Việt Nam.
Đơn và hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt
Nam ở trong nớc đợc nộp tại sở t pháp
nơi đơng sự c trú, ở nớc ngoài thì nộp
tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan
lnh sự Việt Nam nơi c trú của đơng sự
theo địa bàn mà cơ quan đó phụ trách.
Thời hạn giải quyết đơn xin nhập
quốc tịch Việt Nam đợc quy định tối đa
là 12 tháng kể từ ngày sở t pháp hoặc cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lnh sự
Việt Nam nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Sau khi một ngời đợc Chủ tịch nớc
kí quyết định cho nhập quốc tịch Việt
Nam, kể từ thời điểm quyết định đó có
hiệu lực pháp luật, ngời đó trở thành
công dân Việt Nam và đợc hởng đầy
đủ quyền, lợi ích hợp pháp cũng nh gánh
vác nghĩa vụ trách nhiệm theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật trên cơ sở
bình đẳng nh mọi công dân Việt Nam
khác.
IV. Mất quốc tịch Việt Nam
Mất quốc tịch Việt Nam là việc ngời
đang có quốc tịch Việt Nam nay không
còn quốc tịch Việt Nam do tự nguyện xin
thôi quốc tịch Việt Nam, do bị tớc quốc
tịch Việt Nam, do bị hủy bỏ quyết định
cho nhập quốc tịch Việt Nam hoặc do bị
mất quốc tịch Việt Nam theo điều ớc
quốc tịch Việt Nam (mục đích là tránh để
họ rơi vào tình trạng không quốc tịch).
Thủ tục và trình tự giải quyết cho thôi
quốc tịch Việt Nam đợc quy định khá kĩ
trong Nghị định số 104, chẳng hạn, đơn
xin thôi quốc tịch Việt Nam ở trong nớc
thì nộp tại ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi
đơng sự thờng trú, ở nớc ngoài thì nộp
tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan
lnh sự Việt Nam ở nớc ngoài nơi đơng
sự c trú theo địa bàn mà cơ quan đó phụ
trách. Quy trình giải quyết việc xin thôi
quốc tịch Việt Nam nhìn chung cũng
tơng tự nh giải quyết việc cho nhập,
cho trở lại quốc tịch Việt Nam. Thời hạn
giải quyết việc xin thôi quốc tịch Việt
Nam là không quá 6 tháng kể từ ngày ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan đại
diện ngoại giao, cơ quan lnh sự Việt
Nam ở nớc ngoài nhận đủ hồ sơ. nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 25
Tuy nhiên, điểm mới cần nhấn mạnh
trong việc giải quyết hồ sơ xin thôi quốc
tịch Việt Nam là việc miễn thủ tục thẩm
tra hồ sơ theo Điều 21 Nghị định số 104.
Ngời xin thôi quốc tịch Việt Nam thuộc
hình sự;
- Ngời cha chấp hành xong bản án,
quyết định của tòa án Việt Nam.
Cần nhấn mạnh thêm rằng trong mọi
trờng hợp, nếu việc thôi quốc tịch Việt
Nam của một ngời dẫn đến hậu quả làm
phơng hại đến lợi ích quốc gia của Việt
Nam thì ngời đó không đợc thôi quốc
tịch Việt Nam (khoản 3 Điều 24 Luật
quốc tịch 1998).
V. Các giấy tờ chứng minh
quốc tịch Việt Nam
Đây là quy định hoàn toàn mới so với
Luật quốc tịch năm 1988. Điều 11 Luật
quốc tịch 1998 quy định các giấy tờ đợc
dùng làm căn cứ chứng minh quốc tịch
Việt Nam gồm: Giấy chứng nhận có quốc
tịch Việt Nam, quyết định của Chủ tịch
nớc cho trở lại quốc tịch Việt Nam, giấy
chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu Việt
Nam, giấy khai sinh của đơng sự kèm
theo giấy tờ chứng minh quốc tịch của
cha mẹ, giấy tờ khác do Chính phủ quy
định.
Trong các loại giấy tờ trên, chúng tôi
đặc biệt lu ý đến giấy chứng nhận có
quốc tịch Việt Nam. Theo quy định tại
Điều 22 Luật quốc tịch 1998, công dân
Việt Nam có quyền yêu cầu ủy ban nhân
dân cấp tỉnh nơi thờng trú ở trong nớc
sự của Việt Nam cấp cho công dân Việt
Nam ở nớc ngoài.
- Giấy tờ, tài liệu để chứng minh
đơng sự là ngời có quốc tịch Việt Nam
theo điều ớc quốc tế mà Việt Nam kí kết
hoặc tham gia (phù hợp với quy định tại
khoản 4 Điều 15 Luật quốc tịch 1998).
- Ngoài ra, Nghị định số 104 còn quy
định nếu đơng sự yêu cầu cấp giấy
chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, nếu
không có giấy tờ nêu trên thì phải nộp
bản sao giấy khai sinh kèm theo bản sao
có chứng thực sổ hộ khẩu gia đình hoặc
thẻ cử tri mới nhất. Trong trờng hợp
không có cả những loại giấy tờ đó thì có
thể nộp bản khai danh dự về ngày, tháng,
năm sinh, nơi sinh, quê quán, nơi c trú
của bản thân; họ, tên, tuổi, quốc tịch, nơi
c trú của cha mẹ và nguồn gốc gia đình.
Bản khai danh dự phải đợc ít nhất 2
ngời biết rõ sự việc làm chứng và đợc
ủy ban nhân dân cấp x nơi đơng sự sinh
ra xác nhận.
Nh vậy, các quy định trên đây là phù
hợp với nhu cầu do thực tiễn phát sinh
ngày càng nhiều yêu cầu của ngời xin
cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt
Nam (để thực hiện những mục đích chính
đáng khác nh bổ sung hồ sơ xin kết hôn,
xin xuất cảnh ).
nớc ngoài trong việc giải quyết các việc
về quốc tịch. Theo quy định tại Điều 35
và Điều 36 Luật quốc tịch 1998 và Điều 4
Nghị định số 104 thì ủy ban nhân dân cấp
tỉnh và cơ quan đại diện ngoại giao, cơ
quan lnh sự Việt Nam tại nớc ngoài có
thẩm quyền tiếp nhận đơn và hồ sơ xin
nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt
Nam, xem xét, kiến nghị việc giải quyết
các hồ sơ đó. Đối với việc xin cấp giấy
chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, các
cơ quan này có thẩm quyền trực tiếp cấp
các loại giấy tờ này theo đơn yêu cầu của
đơng sự.
Thứ hai, theo quy định tại khoản 1
Điều 4 Nghị định số 104, sở t pháp là cơ
quan giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ về quốc
tịch tại địa phơng đồng thời trực tiếp
thực hiện các công việc về quốc tịch nh nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 27
sau:
- Tiếp nhận đơn và lệ phí xin nhập,
xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam,
xin cấp giấy chứng nhận có quốc tịch
Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch
ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan đại
diện ngoại giao, cơ quan lnh sự Việt
Nam ở nớc ngoài trong việc giải quyết
các vấn đề về quốc tịch. Với t cách là cơ
quan trung ơng giúp Chính phủ thực
hiện công tác quản lí nhà nớc trong lĩnh
vực này, Bộ t pháp và các bộ ngành khác
không trực tiếp xem xét, thẩm tra hồ sơ
nh trớc đây mà chỉ kiểm tra trên giấy
tờ, nếu cần bổ sung, hoàn thiện thì đề
nghị ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ
quan đại diện ngoại giao, cơ quan lnh sự
Việt Nam tại nớc ngoài thực hiện. Quy
định nh vậy cũng đồng thời đề cao trách
nhiệm của các cơ quan này trớc nhân
dân và trong quan hệ công tác với nhau.
Tóm lại, chế định quốc tịch Việt Nam
nói chung hay Luật quốc tịch Việt Nam
năm 1998 nói riêng là vấn đề gắn liền với
chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế
và luôn có tính thời sự, nhạy cảm, gắn
liền với lợi ích của ngời dân. Do đó, việc
giải quyết kịp thời, thỏa đáng các vấn đề
về quốc tịch không những đáp ứng đợc
tâm t, nguyện vọng của đơng sự mà
còn góp phần củng cố niềm tin của nhân
dân vào nền hành chính nhà nớc, nâng
cao vị thế của Nhà nớc Việt Nam trên
trờng quốc tế và đơng nhiên còn tạo ra
căn cứ pháp luật cần thiết và quan trọng