MỤC LỤC
MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của các ngành công nghệ như điện tử, tin học, công
nghệ thông tin di động trong những năm qua đã phát triển rất mạnh mẽ cung cấp
các loại hình dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng.
Kể từ khi ra đời vào cuối năm 1940 cho đến nay thông tin di động đã phát triển qua
nhiều thế hệ và đã tiến một bước dài trên con đường công nghệ.
Trao đổi thông tin là nhu cầu thiết yếu trong xã hội hiện tại. Các hệ thống
thông tin di động ra đời tạo cho con người khả năng thông tin mọi lúc, mọi nơi.
Phát triển từ hệ thống thông tin di động tương tự, các hệ thống thông tin di động số
thế hệ 2 (2G) ra đời với mục tiêu chủ yếu là hổ trợ dịch vụ thoại và truyền số liệu
tốc độ thấp. Hệ thống thông tin di động động 2G đánh dấu sự thành công của công
nghệ GSM với hơn 70% thị phần thông ti di động trên toàn cầu .Hệ thống thông tin
di động thế hệ 3 (3G) ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu các dịch vụ số liệu tốc độ
cao như: điện thoại thấy hình, video streamming, hội nghị truyền hình, nhắn tin đa
phương tiện (MMS)…Hiện nay mạng thông tin di động 3G đang phát triển mạnh
mẽ trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Khi các nhu cầu của người sử dụng ngày cầng gia tăng dịch vụ đòi hỏi chất
lượng tốt hơn, tốc độ cao hơn và khả năng cung cấp dịch vụ nhiều hơn thì cá hệ
thống thông tin nói trên sẽ không đáp ứng hết được các nhu cầu đó, đòi hỏi hệ thống
thông tin di động phải có một bước tiến mới mẻ hơn để bắt kipj với nhu cầu của
người sử dụng
Do đó thế hệ di động thứ 4 đã ra đời và bắt đầu được áp dụng trên thế giới
MC-CDMA là một giải pháp.MC-CDMA kế thừa tất cả những ưu điểm của CDMA
và OFDM: tốc độ truyền cao, tính bền vững với fading chọn lọc tần số, sử dụng
băng thông hiệu quả, tính bảo mật cao và giảm độ phức tạp của hệ thống.Có rất
nhiều các vấn đề đặt ra cho một hệ thống thông tin để đạt hiệu quả cao và ổn định
trong đó điều khiển công suất phát cũng là một vấn đề rất quan trong trong hệ thống
kỹ thuật điều chế tương tự để mang dữ liệu thoại của mỗi người, và sử dụng phương
pháp đa truy cập phân chia theo tần số (FDMA). Hệ thống di động thế hệ 1 sử dụng
phương pháp đa truy cập đơn giản. Tuy nhiên hệ thống không thoả mãn nhu cầu
ngày càng tăng của người dùng về cả dung lượng và tốc độ. Vì các khuyết điểm trên
mà nguời ta đưa ra hệ thống di dộng thế hệ 2 ưa điểm hơn thế hệ 1 về cả dung
lượng và các dịch vụ được cung cấp.
Tất cả hệ thống thông tin di động thế hệ 2 sử dụng điều chế số. Và chúng sử
dụng 2 phương pháp đa truy cập:
- Đa truy cập phân chia theo thời gian (TDMA).
- Đa truy cập phân chia theo mã (CDMA).
Hệ thống thông tin di động chuyển từ thế hệ 2 sang thế hệ 3 qua một giai đoạn trung
gian là thế hệ 2,5 sử dụng công nghệ TDMA trong đó kết hợp nhiều khe hoặc nhiều
tần số hoặc sử dụng công nghệ CDMA trong đó có thể chồng lên phổ tần của thế hệ
hai nếu không sử dụng phổ tần mới, bao gồm các mạng đã được đưa vào sử dụng
như: GPRS, EDGE và CDMA2000-1x. Ở thế hệ thứ 3 này các hệ thống thông tin di
4
động có xu thế hoà nhập thành một tiêu chuẩn duy nhất và có khả năng phục vụ ở
tốc độ bit lên đến 2 Mbit/s
Hệ thống di động 3G đang được triển khai rộng rãi nhưng vẫn chưa thoả mãn được
các nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng .Các dịch vụ di động 4G được chào
đón bởi khả năng cung cấp băng thông rộng, dung lượng lớn, truyền dẫn dữ liệu tốc
độ cao, cung cấp cho người sử dụng những hình ảnh video màu chất lượng cao, các
trò chơi đồ hoạ 3D linh hoạt, các dich vụ âm thanh số. Các mạng 4G cũng có đặc
trưng liên hệ IP cho truy nhập Internet di động không ngắt quãng và tốc độ bit có
thể đạt 100 Mbps hay cao hơn.
Những các nghiên cứu về hệ thống 4G, mà công nghệ chủ yếu là các kỹ thuật đa
sóng mang, đã được tiến hành và MC-CDMA là một ứng cử viên sáng giá. Vì vậy,
việc tìm hiểu về hệ thống thông tin di động dùng kỹ thuật MC-CDMA là cần thiết
và mang ý nghĩa thực tế.
1.3 KĨ THUẬT TRẢI PHỔ CDMA TRONG THÔNG TIN DI
Máy thu dùng mã giả ngẫu nhiên được tạo ra giống như bên phát cộng module 2
với tín hiệu thu được, thực hiện giải trải phổ để lấy tín hiệu mong muốn. Đây là hệ
thống được biết đến nhiều nhất trong các hệ thống thông tin trải phổ. Là hệ thống
tương đối đơn giản vì nó không yêu cầu tốc độ tổng hợp tần số cao
a.Kỹ thuật DS/SS – BPSK
Đây là hình thức đơn giản và hay dùng của kỹ thuật trải phổ dãy trực tiếp. Quá
trình điều chế trải phổ DS – BPSK là quá trình dùng dãy mã trải phổ P(t) là dãy
xung NRZ chỉ nhận các giá trị ± 1 trực tiếp điều chế dữ liệu vào theo kiểu dịch pha
nhị phân BPSK. Tín hiệu b(t).P(t) nhận được sau đó sẽ điều chế cho sóng mang sử
dụng BPSK, cho ta tín hiệu DS/SS - BPSK.
]
Hình 1.2 Sơ đồ khối DS/BPSK (máy phát)
6
Bản tin nhị phân cần phát có tốc độ bit Rb = 1/Tb được mã hoá theo NRZ sao cho
b(t)= ±1. Ta có thể biểu diễn b(t) như sau:
( ) ( )
b t = bk T t - kT
k
∞
Π
∑
=∞
(1.1)
Trong đó, bk = ±1 là bit số liệu thứ k và T là độ rộng xung của một bit số liệu.
Tín hiệu b(t) được trải phổ bằng cách nhân với tín hiệu p(t).
p(t) = ±1 là tín hiệu giả ngẫu nhiên có tốc độ Rc= 1/Tc lớn hơn nhiều lần so với Rb.
Phần tử nhị phân của chuỗi p(t) được gọi là một chip để phân biệt nó với phần tử
nhị phân (bit) của bản tin. Tín hiệu b(t)p(t) nhận được sẽ được điều chế một sóng
mang theo phương pháp điều chế BPSK. Tín hiệu phát DS/SS – BPSK là:
s(t) = Ab(t)p(t) cos(2πfct + θ(t)) (1.2)
mặt thời gian là τ.
8
Thực tế quá trình nén phổ, bên thu sẽ nhận đồng thời tín hiệu s(t) xếp chồng cùng
với các tín hiệu sóng mang si(t) (i=1,2 N-1) không mong muốn của (N-1) người
dùng khác ở cùng một tần số. Do đó tín hiệu thu được sẽ là:
r(t) = s(t)+
( )
i
s t
∑
(1.6)
Trong đó:
∑ si (t ) = bi(t).pi(t). cos
c
ω
(t) (1.7)
Khi giải trải phổ, đầu ra của tín hiệu nhân là:
2
x(t)= b(t).p (t)+ b (t)p (t)p(t)= b(t)+ b (t)p (t)p(t)
i i i i
∑ ∑
(1.8)
Do đã chọn p(t), pi(t) là các hàm trực giao nên tương quan giữa chúng rất nhỏ. Việc
nhân
( ) ( )b t p t
i i
∑
với p(t) tương đương với việc trải rộng phổ một lần nữa cho bản
tin bi(t) đã bị trải phổ trước đây. Do đó mật độ phổ của tạp âm
θ(t) = 7π/4 nếu sI(t) = 1, sQ(t) = 0
Như vậy, tín hiệu s(t) có thể nhận 4 trạng thái pha khác nhau là: π/4, 3π/4, 5π/4,
7π/4. Nó được tổ hợp từ hai thành phần sóng mang lệch pha nhau π/2. Do đó, nó
được trải phổ bằng hai mã giả ngẫu nhiên khác nhau là pI(t) và pQ(t). Tương ứng là
hai quá trình trải phổ độc lập với nhau.
10
Hình 1.6 Sơ đồ khối giải trải phổ DS/SS – QPSK
Ta có:
uI(t) = {Ab(t- τ)p1(t- τ) cos[2πfc ( t- τ) + θ(t- τ)] + Ab(t- τ)p2(t- τ) sin[2π fc (t- τ) +
θ(t- τ)]} p1(t- τ) cos[2πfc (t- τ) + θ(t- τ)]
= Ab(t- τ)p1 (t- τ) p2(t- τ)cos[2πfc ( t- τ) + θ(t- τ)]sin[2πfc (t- τ) + θ(t- τ)]+
Ab(t- τ)p12(t- τ) cos2[2πfc ( t- τ) + θ(t- τ)]
= Ab(t- τ) cos2[2πfc ( t- τ) + θ(t- τ)] + Ab(t- τ)p1 (t- τ) p2(t- τ)cos[2πfc (t- τ) +
θ(t-τ) ]sin[2πfc (t- τ) + θ(t- τ)]
uQ(t) = Ab(t- τ) sin2[2πfc ( t- τ) + θ(t- τ)] + Ab(t- τ)p1 (t- τ) p2(t- τ)cos[2πfc (t- τ) +
θ (t- τ)]sin[2πfc (t- τ) + θ(t- τ)]
Tín hiệu tại đầu vào bộ lọc thông dải (BPF) bỏ qua tập âm:
u(t) = Ab(t- τ) + 2Ab(t- τ)p1 (t- τ) p2(t- τ)cos[2πfc ( t- τ) + θ(t- τ)]sin[2πfc (t- τ)+ θ (t-
τ)]
Tín hiệu tại đầu ra bộ lọc thông dải:
x(t) = Ab(t- τ)
Tín hiệu x(t) được cho qua bộ tích phân lấy trong một chu kỳ bit của dữ liệu gốc
được tín hiệu thu mong muốn.
1.3.2 Kỹ thuật trải phổ nhảy tần (FH-CDMA)
a.Nguyên lý chung
Kỹ thuật trải phổ nhảy tần FH/SS là sự chuyển dịch sóng mang có tần số được
11
chọn theo mã trong một tập hợp các tần số. Độ rộng toàn bộ băng tần được chia
nhỏ thành các khe tần số không lấn lên nhau. Chuỗi mã PN sẽ xác định khe tần số
nào được dùng để truyền tin trong một khoảng thời gian nhất định.
thống trải phổ nhảy tần chậm với T/TH= 1/2:
13
Hình 1.9 Biểu đồ tần số của hệ thống FH/SS nhanh với T/TH= ½
1.3.3 Kỹ thuật trải phổ nhảy thời gian (TH-CDMA)
Nhảy thời gian tương tự như điều chế xung. Nghĩa là, dãy mã đóng/mở bộ phát,
thời gian đóng/mở bộ phát được chuyển đổi thành dạng tín hiệu giả ngẫu nhiên
theo mã và đạt được 50 % yếu tố tác động truyền dẫn trung bình. Sự khác nhau
nhỏ so với hệ thống FH/SS đơn giản là trong khi tần số truyền dẫn biến đổi theo
mỗi thời gian chip mã trong hệ thống FH/SS thì sự nhảy tần số chỉ xảy ra trong
trạng thái dịch chuyển dãy mã trong hệ thống TH/ SS.
Hình 1.10 Sơ đồ khối bộ thu phát của hệ thống TH/SS
14
TH/SS có thể làm giảm giao diện giữa các hệ thống trong hệ thống ghép kênh theo
thời gian. Vì mục đích này mà sự chính xác thời gian được yêu cầu trong hệ thống
nhằm tối thiểu hóa độ dư giữa các máy phát. Do hệ thống TH/SS có thể bị ảnh
hưởng dễ dàng bởi giao thoa nên cần sử dụng hệ thống tổ hợp giữa hệ thống này
với hệ thống FH/SS để loại trừ giao thoa có khả năng gây nên suy giảm lớn đối với
tần số đơn.
Ưu điểm của hệ thống trải phổ nhảy thời gian là dễ thực hiện hơn so với kỹ thuật
FH – SS. Hiệu quả sử dụng băng tần cao hơn nhiều so với việc sử dụng kỹ thuật
TDM. Tránh được hiệu ứng gần – xa và thời gian mà mỗi user truyền là độc lập,
user ở gần trạm gốc không gây ảnh hưởng đến các user ở xa.
1.3.4 Hệ thống lai (Hybrid)
Bên cạnh các hệ thống đã miêu tả ở trên, điều chế hybrid của hệ thống DS và FH
được sử dụng để cung cấp thêm các ưu điểm cho đặc tính tiện lợi của mỗi hệ thống.
Thông thường đa số các trường hợp sử dụng hệ thống tổng hợp bao gồm : FH/DS,
TH/ FH, TH/ DS. Các hệ thống tổng hợp của hai hệ thống điều chế trải phổ sẽ cung
cấp các đặc tính mà một hệ thống cơ bản đã nói đến ở trên không thể nào có được.
a.Hệ thống FH/ DS
Hệ thống FH/ DS sử dụng tín hiệu điều chế DS với tần số trung tâm được chuyển
Mã dùng để trải phổ là một chuỗi tín hiệu giả ngẫu nhiên. Tín hiệu ngẫu nhiên là tín
hiệu mà ta không thể dự đoán trước sự thay đổi của nó theo thời gian và để biểu
diễn tín hiệu người ta dựa vào lý thuyết xác suất thống kê. Với tín hiệu giả ngẫu
nhiên thì không hoàn toàn ngẫu nhiên. Có nghĩa, với thuê bao này nó không ngẫu
nhiên, là tín hiệu có thể dự đoán trước cả phía phát và phía thu nhưng với các thuê
bao khác thì nó là ngẫu nhiên. Nó hoàn toàn độc lập với tín hiệu, không phải là tín
hiệu và có tính chất thống kê của một tín hiệu nhiễu trắng. Các mã trải phổ có thể là
các mã giả tạp âm PN hoặc các mã được tạo ra từ các hàm trực giao.
Một chuỗi nhị phân được gọi là có tính ngẫu nhiên nếu thoả mãn 3 tiêu chuẩn sau:
16
• Tính cân đối:
Trong một chu kỳ của dãy, số bit nhị phân 1 và số bit nhị phân 0 khác nhau nhiều
nhất là một bit nhị phân.
• Tính chạy:
Một bước chạy là một dãy các bit nhị phân cùng loại (cùng loại bit “1” hoặc bit “0”
giống nhau): Sự xuất hiện của một bit khác loại chỉ ở một bước chạy mới. Độ dài
của bước chạy là số bit nhị phân có trong bước chạy.
Trong số các bước chạy của một chu kỳ nếu có: 1/2 số bước chạy mỗi loại có độ dài
1 bit, 1/4 số bước chạy mỗi loại có độ dài 2 bit, 1/8 số bước chạy mỗi loại có độ dài
3 bit, 1/16 số bước chạy mỗi loại có độ dài 4 bít, tổng quát là số bước chạy n bằng
1/2
n
tổng số bước chạy.
• Tính tương quan:
Nếu so sánh từng bít của một chu kỳ của dãy với dịch vòng của nó, tương quan tốt
nhất nếu số bit giống nhau và số bit khác nhau chỉ khác nhau không quá một bit.
Nếu vi phạm quá 1 chỉ số đếm (bit) là dãy có tính tương quan kém, không đạt tiêu
chuẩn ngẫu nhiên.
a.Chuỗi mã giả ngẫu nhiên PN
Chuỗi PN là một chuỗi nhị phân có hàm tương quan giống như hàm tương quan
m
+ 1
• Hàm tương quan chéo của một cặp chuỗi m được ưa chuộng 3 trị {- 1, -t
(m), t (m) - 2} với:
t(m)=
Như vậy chỉ có những cặp chuỗi m thoả mãn điều kiện tương quan chéo trên mới
tạo thành cặp chuỗi m để tạo ra dãy gold.
Tập hợp các chuỗi gold bao gồm cặp chuỗi m là x và y và các tổng mod 2 của x với
dịch vòng y, chẳng hạn tập hợp các chuỗi gold là:
S
gold
= {x, y, x⊕ y, x ⊕ T
-1
y, x ⊕ T
-2
y, x ⊕ T
-(N-1)
y}
Trong đó: T
-1
y = { y
1
, y
2
, y
3
, , x ⊕ Y
N-1
, y
0
ISDN
s
TA
PSTN
w
LMN
Các mạng ngoài
VLR
HLR
Quản lý di động
AUCEIR
D
H
MSC
OS
AUX
IWF
PI
AI
MI
DI
G
F
MSC
DMH
E
I
I
A
O
thậm chí trong nhiều trường hợp nó được đặt giữa BSC và MSC.
c.Bộ điều khiển trạm gốc BSC
BSC (Base Station Controller) có nhiệm vụ quản lý tất cả giao diện vô tuyến thông
qua các lệnh điều khiển từ xa của BTS và MS. Các lệnh này chủ yếu là các lệnh ấn
định, giải phóng kênh vô tuyến và quản lý chuyển giao (Handover). Một phía BSC
được nối với BTS còn phía kia nối với MSC. Trong thực tế BSC là một tổng đài
nhỏ có khả năng tính toán. Vai trò chủ yếu của nó là quản lý các kênh ở giao diện
vô tuyến và chuyển giao. Một BSC trung bình có thể quản lý tới vài chục BTS phụ
thuộc vào lưu lượng của các BTS này. BTS cũng có thể kết hợp chung với BSC vào
một trạm gốc.
d.Trung tâm chuyển mạch và các dịch vụ di động MSC
Ở hệ thống thông tin di động chức năng chuyển mạch chính được thực hiện bởi
MSC (Mobile Switching Center) nhiệm vụ chính của MSC là điều phối việc thiết
lập các cuộc gọi đến các người sử dụng mạng thông tin di động. Một mặt MSC giao
diện với BSC, mặt khác nó giao diện với mạng ngoài. MSC làm nhiệm vụ giao diện
với mạng ngoài là MSC cổng (GMSC). Để kết nối MSC với một số mạng khác cần
phải thích ứng các đặc điểm truyền dẫn của mạng thông tin di động với các mạng
này. Các thích ứng này gọi là các chức năng tương tác (IWF: Interworking
Function). IWF bao gồm một thiết bị để thích ứng giao thức và truyền dẫn. Nó cho
phép kết nối các mạng PSPDN (Packet Switched Public Data Network- Mạng số
liệu công cộng chuyển mạch gói) hay CSPDN (Ciruit Switched Public Data
Network- Mạng số liệu công cộng chuyển mạch kênh) nó cũng tồn tại khi các mạng
khác chỉ đơn thuần là PSTN (Public Switched Telephone Network-Mạng điện thoại
chuyển mạch công cộng) hay ISDN (Integrated Services Digital Network-Mạng số
liên kết đa dịch vụ) IWF có thể được thực hiện trong cùng chức năng MSC hay có
thể ở thiết bị riêng.
20
e.Bộ đăng kí vị trí thường trú HLR
Ngoài MSC mạng thông tin di động bao gồm cả các cơ sở dữ liêụ. Các thông tin
liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ viễn thông được lưu giữ ở HLR (Home
tính cước cuộc gọi. Cước phí phải được tính và gửi đến thuê bao. Quản lý thuê bao
ở mạng thông tin di động chỉ liên quan HLR và một số thiết bị OS riêng chẳng hạn
mạng nối HLR với các thiết bị giao tiếp người máy ở các trung tâm giao dịch với
thuê bao. Việc quản lý thuê bao được thực hiện thông qua một khoá nhận dạng dạng
bí mật duy nhất cho từng thuê bao. AUC (Authentication Center) quản lý các thông
tin nhận thực và mật mã liên quan đến từng cá nhân thuê bao dựa trên khoá bí mật
mày. AUC có thể được đặt trong HLR hay MSC hay độc lập với tất cả hai. Khoá
này cũng được lưu giữ vĩnh cửu và bí mật trong bộ nhớ ở MS. Ở GMS bộ nhớ này
có dạng SIM_CARD có thể rút ra và cắm lại được.
i.Quản lý thiết bị di động EIR
Quản lý thiết bị di động được thực hiện bởi bộ đăng kí nhận dạng thiết bị EIR
(Equiment Identity Register). EIR lưu trữ tất cả các dữ liệu liên quan đến trạm di
động MS. EIR được nối đến MSC qua đường báo hiệu để kiểm tra sự được phép
của thiết bị. Một thiết bị không được phép sẽ bị cấm.
1.4.2 Các đặc tính của mạng CDMA
a.Phân tập trong CDMA
Trong CDMA có thể sử dụng 3 phương pháp phân tập để giảm phading là:
• Phân tập theo thời gian: Đạt được nhờ sử dụng chèn và mã sửa sai.
• Phân tập theo tần số: Nhờ việc mở rộng khả năng báo hiệu trong băng tần
rộng và fading liên hợp với đoạn tần số thường gây ảnh hưởng đến băng tần
báo hiệu (200 - 300) KHz để làm giảm ảnh hưởng của đoạn tần số này.
• Phân tập theo khoảng cách (hay theo đường truyền) theo ba phương pháp
sau:
- Thiết lập nhiều đường báo hiệu (chuyển vùng mềm) để kết nối máy di động đồng
thời với 2 hoặc nhiều BS.
- Đặt nhiều anten tại trạm gốc BS.
- Phân tập đa đường: sử dụng môi trường đa đường qua ứng dụng chức năng trải
phổ để thu nhận tín hiệu đi thẳng và tín hiệu đến trễ khác nhau nhưng đều mang số
liệu giống nhau sau đó tổ hợp chúng lại.
22
dụng phương thức chuyển giao này.
Chuyển giao cứng dựa trên nguyên tắc “cắt trước khi nối” (Break Before Make) có
thể được chia thành: chuyển giao cứng cùng tần số và chuyển giao cứng khác tần
số. Trong quá trình chuyển giao cứng, kết nối cũ được giải phóng trước khi thực
hiện kết nối mới. Do vậy, tín hiệu bị ngắt trong khoảng thời gian chuyển giao. Tuy
nhiên, thuê bao không có khả năng nhận biết được khoảng ngừng đó. Trong trường
hợp chuyển giao cứng khác tần số, tần số sóng mang của kênh truy cập vô tuyến
mới khác so với tần số sóng mang hiện tại.
Nhược điểm của chuyển giao cứng là có thể xảy ra rớt cuộc gọi do chất lượng của
kênh mới chuyển đến trở nên quá xấu trong khi kênh cũ đã bị cắt.
c.Điều khiển công suất trong CDMA
Trong CDMA, điều khiển công suất được thực hiện cho cả đường lên lẫn đường
xuống. Về cơ bản, điều khiển công suất đường xuống có mục đích nhằm tối thiểu
nhiễu đến các cell khác và bù nhiễu do các cell khác gây ra cũng như nhằm đạt
được mức SNR yêu cầu. Tuy nhiên, điều khiển công suất cho đường xuống không
thực sự cần thiết như điều khiển công suất cho đường lên. Hệ thống CDMA sử
dụng công suất đường xuống nhằm cải thiện tính năng hệ thống bằng cách kiểm
soát nhiễu từ các cell khác.
Điều khiển công suất đường lên tác động lên các kênh truy nhập và lưu lượng. Nó
được sử dụng để thiết lập đường truyền khi khởi tạo cuộc gọi và phản ứng lên các
thăng giáng tổn hao đường truyền lớn. Mục đích chính của điều khiển công suất
đường lên nhằm khắc phục hiệu ứng xa-gần bằng cách duy trì mức công suất truyền
dẫn của các máy di động trong cell như nhau tại máy thu trạm gốc. Do vậy việc
điều khiển công suất đường lên là thực hiện tinh chỉnh công suất truyền dẫn của
máy di động.
Hệ thống CDMA sử dụng hai phương pháp điều khiển công suất khác nhau:
24
- Điều khiển công suất vòng hở (OLPC).
- Điều khiển công suất vòng kín (CLPC).
• Điều khiển công suất vòng hở (OLPC)