tổng quan về công nghệ mobile ip và ứng dụng của nó trong mạng di động - Pdf 15

Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
MỤC LỤC.
MỤC LỤC 1
CÁC HÌNH SỬ DỤNG TRONG ĐỒ ÁN 5
LỜI NÓI ĐẦU 6
TÓM TẮT ĐỒ ÁN 7
CHƯƠNG 1: SỰ BÙNG NỔ THÔNG TIN DI ĐỘNG 9
1.1 Khái quát mạng điện thoại di động: 9
1.2 Tìm hiểu mạng di động GSM: 11
1.2.1.Tiêu chuẩn GSM: 11
1.2.2 Hoạt động của GSM: 11
1.2.3 Các đặc tính kỹ thuật của hệ thống GSM: 13
a. Sử dụng giao diện vô tuyến: 13
b. Sử dụng phương pháp đa truy nhập: 13
1.2.4 Các tiêu chuẩn đang được phát triển: 15
1.3 DỊCH VỤ TRUYỀN SỐ LIỆU GÓI: 17
1.3.1 Kiến trúc hệ thống GPRS: 18
a.Thiết bị đầu cuối số liệu – TE: 19
b. Đầu cuối di động: 20
c. Trạm di động – MS: 20
d. Hệ thống trạm gốc BSS: 21
e. Bộ đăng ký định vị thường trú – HLR: 22
g. Nút hỗ trợ dịch vụ chuyển mạch gói di động – SGSN: 22
h. Nút hỗ trợ dịch vụ chuyển mạch gói di động cổng – GGSN: 23
1.3.2 Hoạt động của GPRS: 24
1.3.3 Các lựa chọn cấu hình triển khai: 27
a.Kết nối trực tiếp: 28
b.Kết nối gián tiếp: 29
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ IP 31
2.1 Giới thiệu: 31
2.2 Bộ giao thức TCP/IP: 31

3.2.2 Các mục tiêu của Mobile IP: 58
3.4 Tổng quan về Mobile IP: 58
3.4.1 Các thành phần chính của mạng Mobile IP: 59
3.4.2 Các đặc tính của Mobile IP: 60
CHƯƠNG 4: HOẠT ĐỘNG CỦA MOBILE IPv4 62
4.1 Tổng quan về giao thức Mobile IP: 62
4.1.1 Khái niệm địa chỉ care – of: 62
4.1.2 Nguyên lý hoạt động của Mobile IPv4: 63
4.1.3 Cấu trúc chung của các bản tin sử dụng trong giao thức 64
4.2 Phương pháp phát hiện đại lý 66
4.2.1 Quảng cáo đại lý 66
Page 2
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
a.Mở rộng quảng cáo đại lý di động 68
b. Mở rộng độ dài tiền tố: 70
c. Byte đệm mở rộng: 70
4.2.2 Tìm kiếm đại lý 71
4.2.3 Hoạt động của đại lý di động 71
4.2.4 Hoạt động của trạm di động 72
a. Đăng ký khi có yêu cầu: 73
b. Trở về mạng gốc: 73
4.2.5 Thông tin liên lạc với đại lý ngoại: 73
4.3 Đăng ký với đại lý gốc: 74
4.3.1 Thủ tục đăng ký với đại lý gốc: 75
4.3.2 Cấu trúc bản tin đăng ký 76
a.Các trường IP: 76
b. Các trường UDP: 77
c. Các trường Mobile IP: 77
4.4 Quá trình truyền và nhận gói tin 78
4.4.1 Vấn đề đi qua hai lần 79

Page 5
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xã hội phát triển như hiện nay, với ngành công nghệ Điện tử thay đổi
theo từng ngày, nhu cầu trao đổi và nắm bắt thông tin là vô cùng quan trọng. Các
hình thức trao đổi thông tin cũng ngày càng đa dạng, phong phú và đòi hỏi chất
lượng cao hơn. Một đất nước muốn phát triển thì việc phát triển cơ sở hạ tầng của
việc thông tin liên lạc của quốc gia đó là tối quan trọng. Và với nước ta cũng không
ngoại lệ, Internet và thông tin di động là hai yếu tố phát triển mang tính chất toàn
cầu. Cùng với các thông tin quan trọng, các dịch vụ và công nghệ điện tử mới hiện
nay thường được triển khai nhanh chóng trên mạng Internet. Do đó với các thiết bị
thông tin di động thì việc kết nối Internet là rất cần thiết.
Trong khuôn khổ báo cáo này thì em tập trung nghiên cứu công nghệ Mobile
IP và ứng dụng của Mobile IP vào việc truyền số liệu trong mạng thông tin di động.
Mục đích của quyển đồ án này là đưa ra cái nhìn tổng quan về công nghệ Mobile IP
và ứng dụng của nó trong mạng di động.
Do sự hạn chế về thời gian cũng như sự hiểu biết chưa được đầy đủ, quyển
đồ án khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được thầy cô và bạn bè đóng
góp ý kiến.
Trong quá trình thực hiện đồ án này em đã nhận được sự giúp đỡ của rất
nhiều tập thể và cá nhân. Trước hết em xin chân thành cảm ơn TS.Phạm Văn Bình,
giảng viên khoa Điện Tử Viên Thông trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã giúp
đỡ em thực hiện đồ án này. Thầy cũng đã dành nhiều thời gian quý báu của mình để
đọc và góp ý cho đồ án được hoàn thiện hơn. Em cũng xin cảm ơn gia đình và bạn
bè đã động viên giúp đỡ trong quá trình làm đồ án.
Vinh tháng 5 năm 2009.
Sinh Viên:
Quan Chế Linh
Page 6
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.

Chapter 4: Focusing on Mobile IPv4 with content: Structure of message, searching
procedures, information packet registration and routing.
Chapter 5: Introduction of operation of station using IPv6 protocol with mobile
ability, or Mobile IPv6, in order to study operation principles and its basic
characterisations compared to Mobile IPv4 protocol.
Chapter 6: Mobile IP applications in data transmission in a mobile information
system.
Page 8
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
CHƯƠNG 1: SỰ BÙNG NỔ THÔNG TIN DI ĐỘNG
1.1 Khái quát mạng điện thoại di động:
Tốc độ phát triển mạng điện thoại di động là đáng ghi nhận. Trong vòng hơn
20 năm nó đã trở thành đối thủ cạnh tranh với mạng cố định đã phát triển 100 năm
để đạt tới trạng thái hiện nay.Và con người ngày càng phải di chuyển nhiều hơn, xa
hơn nên thiết bị di động ngày càng trở thành một phương tiện không thể thiếu được
trong công việc cũng như trong cuộc sống. Người ta dự báo sẽ có khoảng 1 tỷ máy
điện thoại di động được sử dụng vào năm 2003.
Sự phát triển nhanh như mạng điện thoại di động - với tốc độ phát triển điển
hình là 40% năm - chắc chắn các dịch vụ mới sẽ phát triển cho cộng đồng rất nhiều
người sử dụng. Chính điều đó là động lực để phát triển dịch vụ dịch vụ dữ liệu vào
khả năng thoại hiện có. Để hiểu điều này sẽ xảy ra như thế nào, ta hãy xem bức
tranh về mạng hiện tại và cho thấy mạng đó sẽ phát triển như thế nào để hỗ trợ dịch
vụ dữ liệu di động.
Hai yếu tố hạn chế của bất kì hệ thống nào dựa trên truyền dẫn vô tuyến là:
Nguồn tài nguyên phổ tần số là hữu hạn công nghệ hiện có để khai thác nguồn tài
nguyên phổ tần số này. Giới hạn đầu tiên đã được khắc phục phần nào khi viện
nghiên cứu Bell (Bell labs) phát minh ra kĩ thuật sử dụng lại tần số vào những năm
1950. Nhưng phải đến đầu những năm 1980 với sự ra đời của bộ vi sử lý phát minh
này mới được triển khai trong các mạng và thiết bị thực tế.
Công nghệ tế bào cho phép sử dụng có hiệu quả phổ tần số bằng cách chia

Communication ) và DSC – 1800 ( hiện nay gọi là GSM – 1800 ). GSM cũng xuất
hiện trên băng tần 1900MHz ( GSM – 1900 ) ở Bắc Mỹ, Chilê, gần đây đã được quy
định cho băng tần 450MHz ở một số nơi. GSM chịu sự cạnh tranh của các hệ thống
IS-136 và IS-95. Tiêu chuẩn IS-136 triển khai kỹ thuật vô tuyến giống GSM, còn
IS-95 khai thác kỹ thuật vô tuyến trải phổ. Ở đây chúng ta sử dụng GSM vì có rất
Page 10
2
2
14
1
3
4
2 2
1
3
4
3
1
3
4
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
nhiều nhu cầu về dịch vụ dữ liệu di động dựa trên công nghệ GSM, cho tới nay đây
là công nghệ di động tế bào số quan trọng nhất.
Cũng như mạng điện thoại di động thì mạng Internet hiện nay cũng phát triển
với một tốc độ chóng mặt. Người ta tính rằng, cứ mỗi năm thì số lượng thuê bao
internet lại tăng gấp đôi so với năm trước đó. Cùng với đó, giao thức TCP/IP đã trở
thành giao thức sử dụng để trao đổi dữ liệu phổ biến nhất trên thế giới. Và do sự
phát triển kể trên đã đặt ra một nhu cầu tất yếu là kết hợp hai hướng phát triển này
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của khách hàng.
1.2 Tìm hiểu mạng di động GSM:

Hình 1. 2: Cấu trúc của một mạng GSM.
Ngoài các khía cạnh giám sát của hệ thống, một số các hình thức kiểm soát
khác cũng được triển khai. Một thanh ghi nhận dạng thiết bị đươc duy trì sao cho hệ
thống biết cái gì có thể hoặc không thể được kết nối tới mạng. Một bộ thanh ghi
nhận thực chứa đựng chi tiết các mô-đun nhận dạng thuê bao có thể chấp nhận được
( có các thể được đưa vào các máy cầm tay ). Một bộ đăng kí vị trí thường trú chứa
các thông tin về lớp dịch mà một khách hàng cụ thể được pháp sử dụng.
Page 12
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
1.2.3 Các đặc tính kỹ thuật của hệ thống GSM:
a. Sử dụng giao diện vô tuyến:
Trong mỗi ô, trạm BTS liên lạc với nhiều trạm di động. Qua giao diện vô
tuyến trạm di động có thể thiết lập và thực hiện cuộc gọi với bất kỳ thuê bao nào
khác, bao gồm các thuê bao di động cũng như các thuê bao của mạng cố định
PSTN, ISDN,….Việc phân chia các kênh liên lạc cho mỗi trạm di động được gọi là
kỹ thuật đa truy nhập.
Ưu điểm của việc sử dụng giao diện vô tuyến là có thể xây dựng được một
hệ thống đa truy nhập. Điều đó có nghĩa là, trong vùng phủ sóng bất kỳ thuê bao
nào ở bất kỳ vị trí nào đều có thể truy nhập vào mạng.
Hạn chế của việc sử dụng giao diện vô tuyến chính là sự giới hạn về băng
tần. Với hệ thống GSM, tốc độ truyền số liệu bị hạn chế ở mức 9,6kbit/s; GPRS cho
phép thay đổi tốc độ linh hoạt hơn, từ 9,6 đến 179kbit/s (trường hợp sử dụng đồng
thời cả 8 khe thời gian). Tuy nhiên không thể tăng tốc độ lên quá lớn vì sẽ ảnh
hưởng đến lưu lượng của các thuê bao khác. Tốc độ 9,6 nhỏ hơn rất nhiều so với
mạng dial – up 56kbit/s dành cho các máy PC truy cập Internet qua đường điện
thoại. Tốc độ 56kbit/s vẫn được xem là chậm so với sự phát triển nhanh chóng và đa
dạng của các loại hình dịch vụ trên Internet và tạm thời được chấp nhận để truyền
tải dự liệu đơn thuần như các trang Web, hình ảnh, âm thanh,….
Tỷ lệ lỗi bit trên đường truyền vô tuyến cao hơn nhiều so với các phương tiện
truyền hữu tuyến hiện có. Điều đó dẫn tới chất lượng đường truyền vô tuyến thấp.

Một kênh vô tuyến trong hệ thống GSM sử dụng 2 tần số riêng biệt, một
dùng cho tuyến lên và một dùng cho tuyến xuống. Các kênh này được gọi là kênh
song công (FDD – Frequency Division Duplex). Khoảng cách giữa 2 tần số nói trên
là không đổi và bằng 25MHz. Do đó đảm bảo được mạch lọc ở máy thu không thu
tín hiệu của máy phát của cùng một trạm.
Page 14
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
Hình 1. 3: Tần số sóng mang GSM và các khung TDMA.
Vùng mạng trong hệ thống GSM được chia thành nhiều ô vô tuyến, mỗi ô vô
tuyến được điều khiển bởi một trạm thu phát BTS. Để sử dụng triệt để băng tần, hệ
thống GSM đã được ra phương pháp sử dụng lại tần số một cách hiệu quả, qua đó
một nhóm tần số có thể được sử dụng lại ở một khu vực khác với khoảng cách thích
hợp để tránh nhiễu đồng kênh. Kỹ thuật này được gọi là phân chia theo không gian.
1.2.4 Các tiêu chuẩn đang được phát triển:
Nếu dự báo bức tranh tương lai các công nghệ của hệ thống vô tuyến thì có
thể nhận thấy sự hội tụ giữa các mạng di động và cố định hiện đang được khai thác
thông qua sáng kiến với các tên gọi khác nhau là Truyền thông di động quốc tế
(IMT – 2000), Dịch vụ viễn thông di động toàn cầu (UMTS – Universal Mobile
Telecommunication Services) hoặc di động thế hệ thứ ba (3G – Third Generation
Mobile). Các giấy phép khai thác hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba đã được
cấp ở một số nước nhưng các dịch vụ vẫn chưa được cung cấp nên các ý kiến thảo
luận về triển vọng tương lai vẫn còn tiếp tục. Cho đến nay, chúng ta sử dụng tiêu
Page 15
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
chuẩn GSM đã được thiết lập như một chuẩn. Tình trạng của một số công nghệ và
tiêu chuẩn của các ứng cử viên khác cho mạng di động trong bảng 1.2 sau:
Công nghệ Thời điểm Chú thích
Tốc độ dữ liệu nâng cao cho
phát triển GSM (toàn cầu)
(EDGE – Enhanced Data

đang hội tụ với GSM trong các công
nghệ dịch vụ vô tuyếnchuyển mạch
gói chung và EDGE.
Phiên bản CDMA của chuẩn mở
rộng GPRS của GSM.
Hệ thống chuyển mạch kênh chỉ đòi
hỏi nâng cấp phần mềm của GSM
nhưng lại yêu cầu đổi mới các thiết
bị người tiêu dùng.
Bổ xung tính năng trình duyệt Web và
thư điện tử và các máy di động WAP.
Bảng 1.2: Một số công nghệ ứng cử viên cho dịch vụ dữ liệu di động.
Ngoài ra còn có rất nhiều mạng điện thoại di động trị giá nhiều tỷ USD khác.
Thậm chí còn có nhiều công nghệ cho mạng cục bộ vô tuyến (LAN) và mạng truy
Page 16
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
cập cá nhân (PAN – personal Access Network). Do vậy, chúng tôi sẽ giới thiệu các
phần tử cơ bản cần thiết để liên kết cho máy di động tới các máy tính cung cấp dịch
vụ của nó.
1.3 DỊCH VỤ TRUYỀN SỐ LIỆU GÓI:
Sự phát triển của Internet đã thúc đẩy sự phát triển của một số công nghệ truy
nhập dữ liệu nhanh cho điện thoại di động. Và gần đây dữ liệu được truyền qua
mạng GSM giống như cách mà một máy tính gọi đến số kết nối của một nhà cung
cấp dịch vụ Internet (ISP). Kết nối là một kết nối dành riêng mà người sử dụng được
gắn vào mạng trong thời gian cuộc gọi. Tốc độ kết nối thông thường bị giới hạn ở
14,4 kbit/s. GSM thế hệ thứ hai đã đưa ra chuẩn Dịch vụ vô tuyến chuyển mạch gói
chung GPRS cho phép thiết bị di động gửi và nhận các gói tin mà không cần một
kết nối dành riêng.
Khác với kỹ thuật truyền sô liệu theo phương thức kênh, trong phương thức
truyền số liệu gói, mạng chỉ truyền thông tin tới thuê bao khi có nhu cầu. Do đó

nhỏ thành nhiều gói tin. Khi các gói tin này tới nơi nhận, bên nhận tin có nhiệm vụ
sắp xếp và nối ghép các gói tin lại thành bản tin ban đầu. Việc định tuyến các gói tin
tới đích dựa vào các thông tin địa chỉ được gửi kèm trong mỗi gói tin.
Một khía cạnh thú vị của GPRS là nó đạt được tốc độ cao như thế nào khi mà
dữ liệu chuyển mạch kênh ngày nay bị giới hạn ở mức 9.6 hoặc 14.4 kbit/s. GPRS
sử dụng chung một kênh vô tuyến như một cuộc gọi thoại, một kênh rộng 200kHz.
Kênh vô tuyến này truyền tải một luồng tín hiệu vô tuyến số gốc 271 kbit/s. Đối với
các cuộc gọi thoại, luồng dữ liệu này được chia thành 8 luồng dữ liệu riêng rẽ, mỗi
luồng tốc độ 34 kbit/s. Ngoài phần tiêu đề của giao thức và sửa lỗi, khoảng 14 kbit/s
nên kết quả là một nhóm người sử dụng có thể đạt tốc độ cao nhất lên tới 100 kbit/s.
Nhưng không phải tất cả các kênh thoại được sử dụng. Trong thực tế, việc
triển khai kinh tế nhất sẽ là giới hạn băng thông cung cấp cho mỗi người sử dụng,
để giành một phần dung lượng dự phòng cho các mục đích khác. Tiêu chuẩn GPRS
định nghĩa một cơ chế mà một máy di động có thể yêu cầu lượng băng thông cần
thiết tại thời điểm nó thiết lập một phiên liên lạc dữ liệu.
1.3.1 Kiến trúc hệ thống GPRS:
GPRS được xem như là một dịch vụ của mạng GSM. GPRS được thiết kế
bởi ETSI để triển khai trên cơ sở hạ tầng mạng có sẵn của GSM mà không ảnh
Page 18
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
hưởng đến các dịch vụ hiện tại. Mục đích là để cho phép triển khai nhanh các dịch
vụ số liệu gói trên mạng GSM với chi phí đầu vào thấp. Các phần tử hiện hữu của
mạng GSM chỉ cần nâng cấp về phần mềm, ngoại trừ khối BSC phải nâng cấp về
phần cứng. Một số tuyến truyền dẫn được sử dụng chung cho cả dịch vụ chuyển
mạch kênh và dịch vụ chuyển mạch gói, ví dụ như tuyến giữa BTS và BSC. Hai nút
mới được bổ xung là: nút hỗ trợ dịch vụ chuyển mạch gói di động (SGSN) và nút hỗ
trợ dịch vụ chuyển mạch gói di động cổng.
Các giao diện của GSM cũng được sử dụng lại và bổ xung thêm chức năng
để hỗ trợ các nút GPRS. Trạm BTS của GSM được bổ xung thêm các giao thức mới
để truyền tải dữ liệu dưới dạng gói. Ngoài ra một số các chức năng như phân bổ tài

Để hỗ trợ dịch vụ số liệu gói, trạm di động (MS) sẽ bao gồm một thiết bị đầu
cuối di động (MT) và một thiết bị đầu cuối số liệu (TE). Đầu cuối di động và thiết bị
đầu cuối số liệu có thể được đặt trên hai phần tử vật lý riêng biệt. Tuy nhiên trạm di
động cũng có thể là một thiết bị duy nhất thực hiện cả hai chức năng MT và TE.
Các hệ thống GPRS và GSM phải có khả năng tương tác với nhau và chia
sẻ tài nguyên động giữa những người sử dụng. Chính lý do này, ba kiểu thiết bị
đầu cuối (ứng với ba chế độ làm việc khác nhau của trạm di động) được định
nghĩa , đó là:
o Nhóm A: Một trạm di động thuộc nhóm A có thể đồng thời sử dụng các kết
nối chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói (khi trạm di động đang trong chế
độ truyền gói), cho pép thuê bao thực hiện cuộc gọi mà không phải ngắt quá
trình truyền số liệu. Kiểu thiết bị này có thể không được đưa ra thị trường
khi mạng GPRS mới được triển khai do sự phức tạp và giá thành cao.
Page 20
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
o Nhóm B: Một trạm di động thuộc nhóm B có thể giám sát tất cả các dịch vụ
chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói nhưng tại một thời điểm chỉ có thể
hỗ trợ một loại dịch vụ. Trường hợp trạm di động đang trong chế độ truyền
gói và đang trao đổi dữ liệu mà có một cuộc gọi của chuyển mạch kênh đến,
để nhận cuộc gọi, trạm di động phải tạm dừng trao đổi dữ liệu. Khi cuộc gọi
kết thúc, quá trình trao đổi dữ liệu tiếp tục được thực hiện.
o Nhóm C: Trạm di động chỉ có thể sử dụng một trong hai loại dịch vụ tại một
thời điểm. Chế độ hoạt động này thường được áp dụng với các trạm di động
chỉ hỗ trợ dịch vụ GPRS mà không hỗ trợ các dịch vụ của chuyển mạch
kênh.
Tuỳ theo yêu cầu đặc điểm của trạm di động và khả năng của mạng mà trạm
di động có thể lựa chọn chỉ sử dụng các dịch vụ chuyển mạch gói hoặc kết hợp các
dịch vụ chuyển mạch gói và các dịch vụ chuyển mạch kênh.
d. Hệ thống trạm gốc BSS:
Hệ thống GPRS sử dụng chung các tài nguyên với GSM trên giao diện vô

thực thi hầu hết các chức năng trong GPRS, giống như MSC trong hệ thông GSM.
Nghĩa là nó phải điều khiển việc liên kết, huỷ liên kết, cập nhật vị trí cho trạm di
động,
Các thuê bao GPRS có thể được phục vụ bởi bất kỳ SGSN nào tuỳ theo vị trí
hiện tại của chúng. SGSN thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
- Quản lý di động: SGSN quản lý sự di động của thuê bao tại giao diện vô
tuyến. Các thủ tục quản lý di động bao gồm: liên kết GPRS, cập nhật vùng
định tuyến (RA) và các thủ tục cập nhật RA và LA kết hợp.
- Quản lý phiên làm việc: Thủ tục quản lý phiên làm việc bao gồm: kích hoạt,
giải kích hoạt, và hiệu chỉnh giao thức số liệu gói (PDP). Việc kích hoạt giao
thức số liệu gói sẽ thiết lập một kênh dữ liệu ảo giữa thiết bị đầu cuối số liệu
với một GGSN thích hợp.
- Truyền và định tuyến gói tin đi và đến các trạm di động trong vùng phục vụ
của mình. Gói tin từ SGSN sẽ được định tuyến tới BSC, qua BTS tới trạm di
động.
- Bảo mật đường truyền vô tuyến bằng các thủ tục nhận thực và mã hoá.
Page 22
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
- Lựa chon GGSN thích hợp cho trạm di động dựa trên các thông tin như: kiểu
giao thức số liệu gói, tên điểm truy nhận (APN) và các tham số cấu hình.
- Kết nối tới các nút GSM như: MSC, HLR, BSC, SMS – SC,…
- Đưa ra các thông tin về cước: SGSN ghi nhận các thông tin về cước sử dụng
tài nguyên vô tuyến của trạm di động. Cả SGSN và GGSN đều ghi các thông
tin về cước sử dụng tài nguyên mạng của từng trạm di động.
- Thực hiện các chức năng của bộ đăng ký định vị tạm trú (VLR): SGSN thực
hiện tất cả các chức năng giống như chức năng của VLR (trong GSM) cho
các dịch vụ chuyển mạch gói di động. Nghĩa là SGSN chứa các thông tin
hiện thời của thuê bao cũng như các thông tin về thuê bao tạm trú. Khi trạm
di động chuyển tới vùng phục vụ của SGSN mới, SGSN này (đóng vai trò
như một VLR) gửi yêu cầu đến bộ đăng ký định vị thường trú (HLR) của

cho phép mã hoá toàn bộ dữ liệu truyền tải trên mạng, chống lại những truy
cập trái phép, đảm bảo độ tin cậy, tính toàn vẹn và nhận thực được nguồn
gốc dữ liệu.
- Chức năng bức tường lửa (firewall): Khi GGSN kết nối với mạng ngoài,
nhiều lựa chọn gói được thực thi để chống lại sự tấn công và xâm nhập trái
phép. Các thông tin được sử dụng để lọc gói bao gồm: Địa chỉ nguồn, địa chỉ
đích, giao thức, số hiệu cổng,…
- Chức năng cổng biên (BG): Hoạt động như một điểm truy cập mạng trong
trường hợp kết nối các mạng GPRS khác nhau. Chức năng BG thường được
tích hợp trong GGSN và nó sử dụng cùng một bộ định tuyến với GGSN. Do
vậy các giao diện vật lý cũng được dùng chung để truyền số liệu. Trong thực
tế, để tăng khả năng xử lý, BG và GGSN có thể được đặt trên hai phần tử vật
lý riêng biệt.
1.3.2 Hoạt động của GPRS:
Khi hoạt động một thiết bị GPRS làm việc giống như một điện thoại di động
chuẩn - cả hai liên lạc với một trạm gốc và cơ sở hạ tầng gắn kèm cung cấp tính
năng xác thực, kết nối và dịch vụ. Có một số khác biệt lớn, tuy nhiên khác biệt
chính là GPRS cho phép người sử dụng “được kết nối” liên tục tới mạng.
Page 24
Công nghệ Mobile IP. SV:Quan Chế Linh – 4 5K2.
Thay vì gửi dữ liệu tới một đích cố định, kết nối quay số, GPRS cho phép các
gói dữ liệu được chèn vào một luông kết nối thưòng trực. Các gói tin từ những
người sử dụng khác nhau trong một tế bào được đan xen sao cho dung lượng truyền
dẫn luôn có được chia sẻ mà không có khe thời gian định trước thường trực được
phân bổ cho một cá nhân. Do đó, dung lượng có thể được phân bổ khi cần thiết và
giải phóng khi không cần.
Tốc độ dữ liệu GSM là 14.4 thông qua một kết nối cố định được thay thế
trong GPRS bằng cách truy nhập lên tới 8 khe thời gian với dung lượng kết nối vào
khoảng 14.4 kbit/s cho mỗi khe. Tốc độ dữ liệu chính xác phụ thuộc vào các điều
kiện vô tuyến. Dung lượng này có được đến mức nào thì có thể biến đổi khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status