nghiên cứu phân tích các trang thiết - Pdf 15

MỤC LỤC
Lời mở đầu
CHƯƠNG I. TRUYỀN LAN SÓNG VÔ TUYẾN ĐIỆN VÀ CÁC HỆ THỐNG
THÔNG TIN VIỄN THÔNG
1.1 Các phương thức truyền lan sóng vô tuyến điện và ứng dụng trong thông tin Vô
tuyến điện Hàng hải
1.1.1 Phân chia dải sóng vô tuyến điện
1.1.2 Đặc điểm môi trường truyền lan sóng điện từ
a. Tầng đối lưu
b. Tầng điện ly
1.1.3 Các phương thức truyền lan sóng điện từ và ứng dụng trong thông tin Vô
tuyến điện Hàng hải
a. Truyền lan sóng đất
b. Truyền lan sóng không gian
c. Truyền sóng trời (phản xạ tầng điện ly)
d. Truyền sóng tự do (Truyền thẳng)
1.2 Các hệ thống thông tin viễn thông
1.2.1. Hệ thống thông tin Vô tuyến điện Hàng hải
a. Hệ thống thông tin vệ tinh
b.Hệ thống thông tin sóng trung, ngắn, cực ngắn -MF/HF/VHF 23
1.2.2 Thông tin Mặt đất (Land line)
a. Phân loại mạng thông tin mặt đất
b. Các dich vụ thông tin Mặt đất
CHƯƠNG II. CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ AN TOÀN VÀ CỨU NẠN
HÀNG HẢI
2.1 CÔNG ƯỚC SOLAS
2.1.1 Giới thiệu
2.1.2 Nội dung công ước SOLAS
a. Giới thiệu
b. Phân chia các vùng biển
1

làm việc và hoạt động ngoài biển khơi đều mong muốn có sự bảo đảm về an toàn
tính mạng. Điều đó có nghĩa là cần thiết phải có những biện pháp để loại trừ những
đến mức thấp nhất mọi tình huống nguy hiểm có thể xảy ra. Nói cách khác tàu phải
đáp ứng được được những yêu cầu về an toàn như kết cấu của tàu, trang thiết bị trên
tàu để trong tình huống bất khả kháng chẳng may xảy ra tai nạn thì bằng mọi kỹ
năng tiến hành báo động cấp cứu và cứu hộ có hiệu quả cao nhất. Do đó việc nghiên
cứu đánh giá các trang thiết bị quy định cho mỗi đài tàu là việc làm thiết thực nhằm
giảm rủi ro cho người đi biển và góp phần phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và
kinh tế ngành Hàng hải nói riêng.
Được sự gợi ý và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Ngô Xuân Hường em đã chọn
đề tài :” Nghiên cứu phân tích các trang thiết bị cho đài tàu và đài duyên hải Hải
Phòng đáp ứng yêu cầu của Công ước Quốc tế về tìm kiếm - cứu nạn Hàng hải
SAR-79”.
Đề tài gồm các nội dung sau:
- Chương I: Truyền lan sóng Vô tuyến điện và hệ thống thông tin viễn thông.
- Chương II: Các Công ước Quốc tế về an toàn - cứu nạn trên biển.
- Chương III: Các trang thiết bị áp dụng cho đài tàu và đài duyên hải Hải
Phòng theo Công ước Solas và SAR.
Do trình độ bản thân còn hạn chế nên đề tài không tránh được thiếu sót, kính
mong sự góp ý của các thầy.
Em xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Điện tử - Viễn thông Khoa Điện
– ĐTTB Trường ĐH Hàng Hải Việt Nam. Đặc biệt là thầy giáo Ngô Xuân Hường
đã giúp đỡ em hoàn thành đồ án này.

Hải phòng, ngày tháng năm 2011
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Nhị Hằng
3
Chương I
TRUYỀN LAN SÓNG VÔ TUYẾN ĐIỆN VÀ CÁC HỆ
THỐNG THÔNG TIN VIỄN THÔNG

Tần số rất cao (sóng mét) VHF 30 - 300 MHz
Tần số cực cao (sóng
decimet)
UHF 300 - 3000 MHz
Tần số siêu cao (sóng
centimet)
SHF 3 - 30 GHz
Tần số vô cùng (sóng
milimet)
EHF 30 - 300 GHz
1.1.2 Đặc điểm môi trường truyền lan sóng điện từ
Nhờ việc phân chia các dải sóng như trên mà ta có thể thiết lập các kênh
thông tin vô tuyến với cự ly thông tin rất lớn, không kể trên mặt đất hay trên vũ trụ.
Mỗi kênh thông tin thường gồm các thiết bị thu phát đặt ở các đầu cuối và tin tức
được mang đi nhờ sóng điện từ lan truyền trong môi trường vật lý trung gian mà sau
đây ta gọi là môi trường truyền sóng. Nói cách khác, môi trường truyền sóng đã
khép kín mạch cho kênh thông tin. Do đó, môi trường truyền sóng chính là một bộ
phận của kênh thông tin.Vì vậy, để đảm bảo chất lượng của thông tin vô tuyến
không chỉ quan tâm đến tính năng và chất lượng các thiết bị đầu cuối mà còn phải
lưu ý tới môi trường truyền sóng, lựa chọn đúng đắn tần số công tác cũng như
phương thức truyền sóng một cách hợp lý.
Theo nghiên cứu khoa học thì môi trường tuyền dẫn sóng vô tuyến có những
đặc điểm sau:
*Nhược điểm:
- Là môi trường truyền dẫn hở: Chất lượng truyền dẫn chịu ảnh hưởng (bị
phadinh) ngẫu nhiên bởi:
• Thời thiết khí hậu: mây, mưa, bão, tuyết…
• Địa hình: Mặt đất,đồi núi nhà cửa,cây cối.
• Nguồn nhiễu trong thiên nhiên: phóng điện trong khí quyển phát xạ của
các hành tinh khác (khi thông tin vệ tinh).

Truyền sóng trong tầng đối lưu sử dụng sóng tần số cao, cực cao nhưng
theo thực nghiệm sự hấp thu sóng trong tầng đối lưu chỉ ảnh hưởng đến dải sóng
cm, mm tần số trên 10 Ghz, những bước sóng lớn hơn 10cm không bị suy giảm.
Sự truyền sóng trong tầng đối lưu chịu ảnh hưởng chủ yếu của mưa và
sương mù nên sẽ gây ra các hiện tượng sau:
+/ Hấp thu sóng gồm có:
- Hấp thu phân tử
 Chủ yếu là do hơi nước và oxi. Phụ thuộc vào tần số khi tần số
công tác < 10GHz có thể bỏ qua còn từ 10 GHz hấp thụ tăng
nhanh theo tần số.
 Sơ đồ trên chỉ ra sự phụ thuộc của hấp thu sóng do phân tử hơi
nước tại tần số 22GHz và oxi tại tần số 60GHz.
Hình 1.2. Sự phụ thuộc của hệ số hấp thụ sóng của O
2
và H
2
O vào tần số
7
- Hấp thu trong mưa và sương mù. Phụ thuộc cường độ mưa tính theo đơn
vị mm/h và tần số ở tần số < 6 GHz hấp thu không đáng kể khi cường độ
mưa tăng thì hấp thụ tăng, như vậy khi tần số tăng càng tỉ lệ thuận với sự
hấp thụ sóng.
Hình vẽ biểu diễn sự phụ thuộc của hệ số hấp thụ trong mưa phụ thuộc
vào tần số của sóng vô tuyến điện và cường độ mưa 100 mm/h
Hình 1.3. Sự phụ thuộc của hệ số hấp thụ trong mưa với cường độ
mưa 100 mm/s vào tần số
+/ Khuếch tán sóng và biến đổi phân cực sóng:
Do bức xạ thứ cấp của cái dòng cảm ứng làm khuếch tán năng lượng của
sóng theo các hướng. Do đó, làm giảm cường độ trường theo hướng chính. Hiện
tượng khuếch tán càng lớn khi hạt mưa có kích thước càng lớn và tần số càng cao.

nhiễu về đêm tín hiệu rõ nét hơn rất nhiều.
+ Lớp E:
• Là lớp đầu tiên quan sát được bằng sóng vô tuyến điện. Chiều cao của lớp
vào khoảng (100 ÷ 110) km và ít thay đổi theo thời gian trong ngày và
năm.
• Mật độ điện tử của lớp tương ứng vào ban ngày mùa hạ khoảng
5
1 2.10÷
với tấn số tới hạn (
3 4÷
) MHz. Ban đêm khoảng
3
5.10

3
/e cm
;
9
0,6
th
f MHz=
. Vào mùa đông mật độ khoảng
3 3
0,5.10 /e cm
. Song mật độ
điện tử của lớp E tương đối ổn định ít chịu ảnh hưởng của các nhiễu loạn
làm ảnh hưởng đến thông tin vô tuyến điện và chủ yếu ảnh hưởng đến
truyền lan sóng trung .
+ Lớp F:
• Nằm ở độ cao từ 200km đến 450 km

• Lớp F đóng vai trò chủ yếu trong việc phản xạ sóng ngắn và có một tầm
quan trong đặc biệt đối với thông tin vô tuyến điện. Chính vì sự phức tạp
của tính chất các tầng khí quyển đã ảnh hưởng lớn đến truyền sóng vô
tuyến về chất lượng cũng như cự ly. Để tìm hiểu rõ các vấn đề này phần 2
sẽ phân tích các phương thức truyền lan sóng vô tuyến điện kèm theo đó là
sự đánh giá tầm ảnh hưởng của bầu khí quyển tới sóng Vô tuyến điện.
Sóng điện từ lan tỏa trong không gian, tại mỗi sóng điện từ được đặc trưng bởi
pha và cường độ. Mặc dù trong thực tế sóng điện từ bức xạ từ anten không phải là
sóng phẳng thuần túy mà thường là sóng trụ hay sóng cầu. Tuy nhiên tại những
điểm khảo sát cách xa nguồn và trong phạm vi hẹp ta có thể coi gần đúng mặt sóng
là những mặt phẳng. Mặt sóng là quỹ tích những điểm trong không gian, tại đó sóng
điện từ có pha như nhau và cường độ bằng nhau.
Sóng điện từ có những tính chất như sau:
• Sóng điện từ bức xạ ra không gian dưới dạng vô số các mặt sóng liên tiếp.
• Nguồn bức xạ sóng điện từ chỉ đóng vai trò là nguồn bức xạ sơ cấp.
10
• Trong quá trình truyền lan sóng các mặt sóng được tạo đóng vai trò là các
nguồn bức xạ thứ cấp tạo ra các mặt sóng tiếp sau đó.
Dựa vào tính chất sóng điện từ ta có được các phương thức truyền sóng VTĐ
như sau:
1.1.3 Các phương thức truyền lan sóng điện từ và ứng dụng trong thông
tin Vô tuyến điện Hàng Hải
a. Truyền lan sóng đất.
Nếu truyền sóng trong cự ly gần có thể coi Mặt đất là mặt phẳng thì sóng có
thể truyền trực tiếp trong giới hạn nhìn thẳng khi đó sóng tới điểm thu sẽ gồm sóng
truyền trực tiếp và sóng phản xạ.

Nếu khoảng cách giữa anten phát và thu xa nhau thì phải xem Mặt đất là dạng
hình cầu. Dưới tác dụng của mặt đất dẫn điện tia sóng phải uốn cong theo mặt cong
trái đất nhờ hiện tượng nhiễu xạ để truyền được tới máy thu. Hiện tượng này xảy ra

chiếm một thể tích nhất định của tầng đối lưu. Anten thu đặt tại B giản đồ hướng
tính của nó được giới hạn bởi BC, BD. Hai giản đồ này giao nhau ở thể tích V. Nếu
trong thể tích V cấu tạo của khí quyển không đồng nhất, nghĩa là trong đó có những
hệ số điện môi cục bộ khác với hệ số điện môi của môi trường xung quanh thì V
được gọi là thể tích tán xạ và sẽ tham gia vào quá trình truyền sóng tán xạ. Khi đó
sóng đi vào vùng này sẽ bị tán xạ ra mọi phía và một phần đi tới anten thu.
12
Trước đây người ta cho rằng dùng sóng cực ngắn chỉ có thể thông tin đi xa khi
phát sinh ống dẫn sóng đối lưu. Tuy nhiên khi sử dụng máy phát sóng công suất cao
(50 hoặc 100) Kw. Với anten phát và anten thu có hệ số hướng tính cao (đường kính
>20 m) thì có thể lợi dụng sự tán xạ sóng để đạt tới cự ly

1000km trong dải sóng
6m
÷
vài cm (nếu xét dải tần 5 Mhz thì không bị méo dạng, truyền sóng sẽ lý
tưởng). Do đó, có thể thực hiện thông tin nhiều kênh.
Nhưng trong thực tế phương thức này ít được sử dụng do độ tin cậy kém, pha
đinh sâu, yêu cầu về máy phát lớn, hướng tính anten cao cũng như kích thước anten
phải lớn.
b2. Khúc xạ tầng đối lưu.
Hiện tượng xảy ra khi tia sóng truyền đi không song song với phương nằm
ngang nên bị khúc xạ liên tục kết quả là bị uốn cong không còn là đường thẳng nữa.
Yếu tố gây nên hiện tượng này là sóng truyền trong 2 lớp khí quyển kề nhau có
chiết suất khác nhau là dN và dh. Hiện tượng khúc xạ tầng đối lưu chỉ xét với sóng
cực ngắn. Khi đó có các trường hợp sau:
a, Khi dN/dh >0 : gọi là hiện tượng khúc xạ âm, quỹ đạo tia sóng sẽ hướng
lên trên không gian làm giảm cường độ thu của máy thu.
Hình 1.7. Hiện tượng khúc xạ âm
b, Khi dN/dh <0: gọi là hiện tượng khúc xạ dương, quỹ đạo tia sóng sẽ

a

< 0
Hình 1.9. Hiện tượng siêu khúc xạ
Với anten phát đặt trong miền siêu khúc xạ, những tia sóng có góc xuất phát
lớn hơn so với mặt phẳng nằm ngang (tia 1,2) sẽ bị khúc xạ ít và xuyên qua miền
siêu khúc xạ mà không bị dữ lại. Còn những tia có góc xuất phát =
α
tới hạn sẽ bị
uốn cong theo đường giới hạn ở độ cao
0
h
(độ cao miền siêu khúc xạ) từ bán kính
cong tia sóng sẽ bằng bán kính trái đất (tia 3). Còn với tia sóng có góc <
α
tới hạn
đề bị uốn cong và trở về mặt đất và phản xạ nhiều lần để truyền đi xa. Hiện tượng
siêu khúc xạ này giống với quá trình truyền sóng trong ống dẫn sóng mà thành trên
ống dẫn sóng là giới hạn trên của miền siêu khúc xạ và thành dưới là mặt đất.
Lợi dụng tính chất này để truyền lan sóng đi xa. Tuy nhiên, miền siêu khúc xạ
xảy ra bất thường, độ cao và chiều dài của miền siêu khúc xạ cũng luôn thay đổi
nên sử dụng phương pháp truyền lan siêu khúc xạ tầng đối lưu thông tin bị thất
thường và không liên tục. Chính vì thế, phương pháp này cũng không sử dụng cho
thông tin viba.
b3. Truyền trực tiếp:
Hai phương pháp trên không được sử dụng rộng rãi vì nó truyền chủ yếu trong
tầng đối lưu nên nhược điểm của nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên. Bởi
vậy, thông tin viba thường sử dụng phương pháp truyền lan trong phạm vi nhìn thấy
trực tiếp. Nghĩa là hai anten thu -phát phải đặt cao trên mặt đất để không bị che
chắn bởi các chướng ngại vật có trên Mặt đất. Và khoảng cách tuyến thường phải

thì tầng điện ly được coi là môi trường trong suốt, và cũng bằng cách phản xạ một
hoặc nhiều lần để đạt được cự ly xa.
- Bên cạnh khả năng phản xạ sóng Vô tuyến điện, do tầng điện ly có miền
không đồng nhất nên nó có khả năng khuếch tán các sóng truyền tới.
Truyền lan sóng trong tầng điện ly cũng có thể bao gồm tất cả các băng sóng
Vô tuyến điện. Song chỉ cần dùng máy phát với công suất trung bình, sóng ngắn dễ
dàng truyền thông tin cự ly rất xa tới hàng nghìn km. Vì vậy trong phương thức này
thường sử dụng sóng ngắn đặc biệt là băng HF và 1 phần dải tần của băng sóng
trung MF. Trong Hàng hải hiện nay sử dụng phương pháp này để truyền thông tin 2
chiều từ tàu – bờ. Vì tính chất phức tạp của tầng điện ly và việc phân chia các lớp
17
D, E, F,1 F2 mà trong băng sóng HF, MF được chia thành các dải tần làm việc là 2,
4, 6, 8, 12, 16, 18, 22, 25 Mhz.
*Ta có thể nhận xét về sự truyền sóng của các dải tần MF/HF trong truyền sóng
như sau:
 Dải 2Mhz năng lượng bị hấp thụ nhiều nhất vào ban ngày bởi lớp D của
tầng điện ly vì ban ngày lớp D mật độ điện tử chưa đủ lớn để phản xạ sóng,
cự ly thông tin lớn nhất chỉ khoảng 120Km. Vào ban đêm thì cự ly có thể
đạt tới vài nghìn Km nhờ sự phản xạ sóng từ lớp F2.
 Dải 4Mhz: Dải này có đặc tính tương tự như dải sóng trung 2 Mhz nhưng
nó bị hấp thụ năng lượng ít hơn khi truyền vào ban ngày do khi tần số tăng
thì năng lượng bị hấp thụ bởi tầng điện ly khi truyền sóng giảm. Cự ly
thông tin liên lạc vào ban ngày của dải này có thể đạt tới 400Km, vào ban
đêm cự ly thông tin có thể tăng đến hàng nghìn Km .
 Dải 6 Mhz : đây là dải thông tin thấp nhất mà có độ tin cậy cao trong việc
thông tin liên lạc tầm xa. Vào ban ngày cự ly thông tin có thể đạt tới 800
Km khi khả năng hấp thụ của lớp D là nhỏ nhất vào ban đêm cự ly thông
tin có thể truyền toàn cầu. Tạp âm khí quyển tác động vào dải này thấp hơn
dải 4 Mhz.
 Dải 8Mhz : cự ly thông tin có thể đạt được tới 1600km vào ban ngày và

+/ Khâu không gian:
Bao gồm các vệ tinh(có thiết bị thông tin, các thiết bị khác, sử dụng pin mặt trời);
các hệ thống nh hệ thống đo xa, truy theo và điều khiển (các đài mặt đất, các đài này
theo dõi vệ tinh, điều khiển vệ tinh đi đúng quỹ đạo. Vệ tinh hoạt động nh một trạm
lặp nhiệm vụ thực hiện kết nối thông tin giữa trạm mặt đất với các trạm khác. Sử
dụng pin mặt trời cung cấp năng lợng cho các thiết bị điện tử của vệ tinh.
Anten vệ tinh cung cấp các vùng phủ sóng theo yêu cầu thu và phát, vùng phủ
sóng (global) hay (spot-beam). Hệ thống ổn định nhiệt duy trì đảm bảo nhiệt độ yêu
cầu trong vệ tinh tuỳ thuộc nhiệt độ môi trờng bên ngoài.
+/ Khâu mặt đất.
20
Gồm các trạm mặt đất và các trang thiết bị của nó nh anten thu/phát, thiết bị
điều khiển truy theo vệ tinh, máy thu tạp âm thấp LNA (Low Noise Amplifier), các
bộ đổi tần lên/xuống, các bộ điều chế/giải điều chế, các bộ khuyếch đại công suất
lớn, ống dẫn sóng, các bộ chia cao tần và ghép công suất.
Nhiệm vụ của trạm mặt đất là điều khiển hệ thống, kết nối thông tin trong mạng
nội bộ và các mạng khác.
+/ Khâu ngời sử dụng
Ngời sử dụng có thể dùng mạng lới thông tin liên lạc vệ tinh thông qua
các thiết bị thông tin vệ tinh. Mỗi thiết bị này bao gồm một anten kèm theo các máy
móc điện tử điều khiển và thông tin. Nó cung cấp mối liên hệ giữa ngời sử dụng và
mạng thông tin liên lạc vệ tinh.
Thụng tin v tinh trong GMDSS gm cú 2 h thng thụng tin :
- Thụng tin qua v tinh INMARSAT.
- Thụng tin qua v tinh COSPAS SARSAT.
a1. H thng thụng tin v tinh INMARSAT:
INMARSAT l ch vit tt tờn ting anh ca t chc v tinh Hng hi th gii
( Internatinal Mobile Satellite Organization) mt t chc a quc gia c thnh lp
nm 1979. INMARSAT iu hnh mt h thng thụng tin liờn lc v tinh ton cu,
cung cỏp dch v thụng tin trờn mt khu vc a lý, tr nhng vựng gn cỏc a cc

Operation Centre – NOCS). Trạm bờ mặt đất (CESs/ LESs) làm nhiệm vụ kết nối
thông tin giữa trạm vệ tinh và các mạng viễn thông quốc gia hoặc quốc tế. Với mỗi
hệ thống INMARSAT, trong một vùng bao phủ có một trung tâm phân bổ mạng
(NCS) làm nhiệm vụ theo dõi và điều khiển thông tin trong vùng bao phủ đó và
LESs đóng vai trò liên kết với NCS.
Các trạm di động (MESs):
 Các trạm đài tàu SES (ship earth station).
 Các trạm di động mặt đất LMES (land mobile earth station).
 Các trạm mặt đất hàng không AES ( aircraft earth station).
a2. Hệ thống COSPAS - SARSAT:
Do tính chất quan trọng của việc biết được vị trí bị nạn nên bốn nước
là CANADA, Pháp, Nga và Mỹ đã thiết lập ra hệ thống vệ tinh COSPAS-SARSAT.
Hệ thống này dùng để thu nhận các tín hiệu cấp cứu và định vị nơi xẩy ra tai nạn
trên khắp thế giới nhằm để giảm thời gian tìm kiếm tai nạn. Là một hệ thống vệ tinh
nhằm trợ giúp cho việc tìm kiếm và cứu nạn, nó nhận tín hiệu từ các phao vô
tuyến(Beacon) hoạt động trên các tần số 406.025MHz, 121.5MHz và 243MHz, sau
đó chuyển tiếp xuống trạm LUT(Local User Terminal) để xử lý và tìm ra vị trí của
Beacon. Sau đó, một tín hiệu báo động cấp cứu có các số liệu về vị trí, số nhận dạng
và các thông tin khác sẽ cùng được gửi tới một trung tâm phối hợp và điều khiển
MCC(Mission Control Centre) và một trung tâm phối hợp cứu nạn RCC(Recue Co-
odination Centre) quốc gia, cũng như tới các MCC khác hoặc tới một tổ chức tìm
kiếm và cứu nạn thích hợp để phối hợp hành động.
Hệ thống COSPAS – SARSAT thực hiện hai dạng bao phủ mặt đất cho việc
phát hiện và xác định vị trí của Beacon. Đó là dạng bao phủ tức thời và dạng bao
phủ toàn cầu. Cả hai loại 121.5MHz và 406.025MHz đều hoạt động ở dạng tức thời,
trong khi đó chỉ có loại 406.025MHz mới có thêm dạng bao phủ toàn cầu.
Hệ thống này sử dụng ba loại Beacon sau:
Loại dùng cho hàng không (ELT-Emergency locator transmitter).
Loại dùng cho hàng hải(EPIRB-Emergency position indicating radio
beacon)

MRCC/RCC
Đài tàu SES
thoại ở các chế độ J3E,H3E (cho tần số cấp cứu 2182KHz) và G3E. Các thiết bị
thông tin thoại này cũng được dùng để gọi cấp cứu khẩn cấp và an toàn. Đây là các
thiết bị thông tin chính phục vụ cho thông tin hiện trường giữa một tàu bị nạn với
các đơn vị làm nhiệm vụ cứu nạn. Đồng thời các thiết bị này sẽ đáp ứng các dịch vụ
thông tin công cộng khác trong nghiệp vụ thông tin lưu động hàng hải. Trên mỗi dải
tần làm việc của các thiết bị thông tin thoại đều có ít nhất một tần số cấp cứu quốc
tế dành cho các thông tin cấp cứu.
Ngoài ra trong thông tin sóng trung, ngắn còn sử dụng thiết bị NBDP – phương
thức truyền chữ trực tiếp băng hẹp để hỗ trợ trong thông tin cấp cứu khẩn cấp và an
toàn. Bên cạnh đó các thiết bị NBDP còn nhằm đáp ứng các dịch vụ thông tin trên
các dải sóng Vô tuyến điện mặt đất giữa tàu với bờ và ngược lại. Các thiết bị NBDP
hoạt động ở chế độ ARQ dùng để trao đổi thông tin giữa hai đài. Chế độ FEC có
tính chất thông báo tới nhiều đài. Trên mỗi dải sóng VTĐ hàng hải đều được thiết
kế một tần số giành riêng cho cấp cứu khẩn cấp và an toàn bằng các thiết bị NBDP.
Trên mỗi dải sóng VTĐ hàng hải đều được thiết kế một tần số giành riêng cho cấp
cứu khẩn cấp và an toàn bằng các thiết bị NBDP. Phương thức này sử dụng phù hợp
với băng sóng trung, ngắn, còn với sóng cực ngắn thì không cần thiết bởi VHF cho
phép liên lạc tầm gần bằng thoại rất nhanh gọn.
1.2.2 Thông tin Mặt đất (Land line).
a. Phân loại mạng thông tin mặt đất.
Thông tin Mặt đất xét tổng quát có thể phân thành các loại sau:
 Mạng chuyển mạch kênh.
 Mạng chuyển mạch gói.
 Mạng chuyển mạch thông báo.
 Mạng Internet.
a1. Mạng chuyển mạch kênh: là mạng khi có 2 thực thể cần trao đổi thông
tin với nhau thì giữa chúng sẽ thiết lập 1 kênh cố định và duy trì cho đến khi 1 trong
2 bên ngắt liên lạc. Các dữ liệu chỉ được truyền theo con đường cố định đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status