1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC
***0O0***
NGUYỄN THỊ THU THUỶ
PHONG CÁCH
THƠ LƯU QUANG VŨ Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2008
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
1.1 Lưu Quang Vũ là một trong những hiện tượng thơ của thập niên
chung, Lưu Quang Vũ nhận được nhiều thiện cảm và kì vọng, sự động viên
khích lệ cũng rất nhiều.
“Lưu Quang Vũ thơ và đời” do Lưu Khánh Thơ biên soạn được coi
là cuốn sách tổng hợp đầy đủ nhất về thơ Lưu Quang Vũ. Những bài thơ tiêu
biểu nhất của Lưu Quang Vũ đã được lưu lại trong đó, cùng với nó là những
bài viết của những người thân, những bạn thơ cùng thế hệ, những đồng
nghiệp cũng như gia đình Lưu Quang Vũ. Phần đời của Lưu Quang Vũ cũng
được chú ý và giới thiệu với bạn đọc hầu hết những chặng đường gian nan
của Lưu Quang Vũ.
“Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật” cũng của Lưu
Khánh Thơ chủ biên, xuất bản năm 2000, ra đời nhân dịp Lưu Quang Vũ
được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đã giới thiệu những bài viết
của Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Vũ Quần Phương, Phạm Xuân Nguyên, Anh
Ngọc, Hoàng Sơn… cho thấy đánh giá của giới phê bình về Lưu Quang Vũ
từ rất nhiều góc độ. Vũ Quần Phương sau khi “Đọc thơ Lưu Quang Vũ” thì
đặc biệt chú ý đến giọng thơ Lưu Quang Vũ, khẳng định đó là “một giọng
thơ rất đắm đuối”, “đắm đuối là bản sắc cảm xúc của Lưu Quang Vũ”.
Phạm Xuân Nguyên gọi Lưu Quang Vũ như một “tâm hồn trở gió”, phát
hiện ra thơ của Lưu Quang Vũ “bao trùm là gió và tình yêu”, từng chặng
đường thơ Lưu Quang Vũ là từng cơn gió, từng đợt gió, và khám phá thơ
Lưu Quang Vũ với một biểu tượng gió đầy gợi cảm, khẳng định đó là một
4
môtip góp phần làm nên phong cách thơ anh. Nguyễn Thị Minh Thái lại tìm
được cảm giác “Đi suốt chiều dài một đời thơ của Lưu Quang Vũ, ta có cảm
giác như vào một kho báu. Ở những câu thơ ta nhặt vô tình nhất, cũng óng
ánh một vẻ đẹp riêng…” và chỉ rõ thơ Lưu Quang Vũ còn rất nhiều điều cần
khám phá. Với Huỳnh Như Phương “Lưu Quang Vũ thực sự là một nhà thơ
của tuổi trẻ, một tuổi trẻ luôn băn khoăn, dằn vặt, tra vấn về cuộc đời và tự
tra vấn chính lòng mình” . Với Anh Ngọc, chỉ chiếm phân nửa trong tập
“Hương cây - Bếp lửa” cũng đủ để Lưu Quang Vũ “có một vị trí vững vàng,
Bùi Vũ Minh, Anh Chi, Ngô Thảo. Với Anh Chi“Cá nhân tôi coi anh là
một tài năng khá đặc biệt của văn chương Việt Nam nửa sau thế kỉ XX. Do
cách anh đi trên đường đời, đường thơ thật khác biệt so với bạn thơ cùng
trang lứa, cùng thời, nên anh là một số phận thơ khác biệt hẳn ra, có thể coi
là cá biệt”… “một giọng thơ dễ xâm chiếm lòng người”, một tiếng thơ có đủ
“mộng ước, khổ đau và cái đẹp”, một “tứ thơ say đắm, nhiều nước mắt và
cũng thật nồng nàn”…; với Ngô Thảo “Hai mươi năm chưa phải là dài,
nhưng đất nước và thế giới đã có nhiều biến động về chính trị, xã hội, khiến
cho nhiều thước đo giá trị đã thay đổi, nhưng nhiều tác phẩm của Lưu
Quang Vũ không sợ những thước đo mới mẻ: Thấm đượm nhân văn, hướng
thiện, đầy tình yêu với cuộc sống, con người, đất nước, luôn là những giá trị
được nghệ thuật tôn trọng”…
Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, việc nghiên cứu thơ và phong cách
thơ Lưu Quang Vũ mới chỉ dừng lại ở những bài viết riêng lẻ, mang tính
chất cảm nhận, cảm tính nhiều hơn là những công trình nghiên cứu, mang
tính thống kê, phân tích, tổng hợp thực sự để chứng minh Lưu Quang Vũ với
một bản sắc thơ riêng biệt.
6
Do đó, luận văn này chỉ mong muốn tìm được một cách nhìn tổng
quát về đời thơ của Lưu Quang Vũ, chỉ cho ra nét đặc trưng tiêu biểu của
Lưu Quang Vũ trong các tiếng thơ cùng thế hệ, và khẳng định Lưu Quang
Vũ như một gương mặt thơ tiêu biểu của thời kì thơ ca kháng chiến chống
Mỹ cũng như thơ ca của thế kỉ XX.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là ất cả những tập thơ đã xuất bản của
Lưu Quang Vũ.
+ Hương cây – bếp lửa (In chung với Bằng Việt, 1968)
+ Mây trắng của đời tôi (1989)
8
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
VẤN ĐỀ PHONG CÁCH VÀ PHONG CÁCH THƠ
I. Khái niệm Phong cách.
Từ xa xưa, phương Tây cũng như phương Đông, đã có quan niệm:
Phong cách là bản thân con người, hay nói ngắn gọn hơn, Văn tức là người.
(Văn như kỳ nhân) Tính chất cá thể ở đó là vô cùng rõ nét.
Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm về phong cách xuất hiện từ
thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại cùng với sự xuất hiện của khoa học về hùng
biện. Phong cách ngôn ngữ là sự kết hợp của hai nhân tố : “nói gì” và “nói
như thế nào”, có nghĩa đây là sự tổng hòa các phương tiện ngôn ngữ. “Nói
gì” là phạm trù về nội dung và “nói như thế nào” là phạm trù về hình thức.
Thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân cho rằng “Phong cách là
những nét chung, tương đối bền vững của hệ thống hình tượng, của các
ta có thể ‘đoán biết” thì trước hết, tác giả đó phải có một ngôn ngữ, một
giọng điệu rõ nét, nổi bật, nhưng phải khác biệt. Điểm khác biệt đó là yếu tố
căn bản nhất để người đọc có thể nhận diện và gọi tên tác giả cũng như
phong cách tác giả.
1.2. Phong cách thời đại.
“Mỗi thời đại chỉ có được phong cách của mình sau khi đã có được
một cách khám phá riêng cho nó mà đời trước chưa có” (Phan Ngọc)
Phong cách thời đại là một khái niệm rộng lớn, nó bao hàm diện mạo
của cả một thời kì văn học kéo dài. Cũng như vậy, nó phải là sự tập trung
10
nhất, chắt lọc cô đọng nhất những đặc điểm thống nhất và bền vững của
nhiều những phong cách cá nhân khác nhau.
1.3. Phong cách thể loại
Thể loại, bản thân nó cũng phải trải qua một quá trình ra đời, phát
triển, đổi mới, hoàn chỉnh, đạt đến “một cách nhìn riêng” lúc đó, mới có
phong cách.
Thể loại, là một yếu tố của hình thức. Nhưng đặt ra hình thức thì dễ
mà xây dựng phong cách cho nó thì lại rất khó khăn, cần một sự lao động
nghệ thật nghiêm túc và mẫn cảm.
Phong cách thể loại trong mối quan hệ với phong cách tác giả và
phong cách thời đại cũng là một mối quan hệ biện chứng, có quan hệ chặt
chẽ với nhau.
2. Lưu Quang Vũ - Một phong cách thơ.
Với những khái niệm giới thuyết ở trên, người viết chỉ muốn khẳng
định một điều: Trong thời kì thơ ca kháng chiến chống Mỹ, và cả những
năm sau này, Lưu Quang Vũ quả thực là một tiếng thơ có bản sắc rất đậm
nét, một phong cách thơ cần được ghi nhận.
mà nó là nguồn cảm hứng nghệ thuật dồi dào. Đi qua từng giai đoạn với
những mối tình, những cuộc hôn nhân, thơ tình Lưu Quang Vũ cũng luôn
biến chuyển, với những giọng điệu, cung bậc khác nhau.
Điều đặc biệt ở thơ tình Lưu Quang Vũ là qua mỗi một giai đoạn thơ,
người ta lại thấy những dấu ấn đậm nét của những mối tình, những người
12
con gái, người đàn bà. Hay nói ngược lại, mỗi người đàn bà đến với đời Lưu
Quang Vũ đều tạo nên một giai đoạn nhất định trong thơ anh.
2.1.2.1. Những rung động đầu đời:
Đó là thời kì Lưu Quang Vũ học lớp 8, lớp 9, khi ở tuổi mới lớn, cậu
bé Lưu Quang Vũ đã ghi lại những cảm xúc đầu đời.
Có thể thấy, ở những câu thơ ngây thơ, trong trẻo này, người ta đã biết
và tin, tâm hồn trong trẻo này sẽ còn tiến xa. (Cô bé con có đôi mắt mở to.
Đã đánh mất kho vàng và tiếng hát….Hay Chiều mênh mông trên dốc vắng
ngoại ô. Gương mặt em mưa ướt. Đôi mắt to tan vỡ cả trời chiều)
2.1.2.2. Tình yêu đầu tiên.
Tình yêu đầu tiên của Lưu Quang Vũ gắn với 2 tập thơ đầu tiên
“Hương cây” và “Mây trắng của đời tôi”, cũng gắn với người phụ nữ trở
thành một phần đời máu thịt của Lưu Quang Vũ, đó là Tố Uyên.
+ Đây là tình yêu của chàng trai độ tuổi 20, trong sự ao ước về cuộc
đời còn là sự ao ước về tình yêu, xây dựng một tình yêu mộng tưởng. Khi
đó, tâm hồn trong sáng, lạc quan, dạt dào ước vọng, và tình yêu là mộng đẹp
trong cuộc đời, tình yêu làm cuộc sống trở nên bay bổng và diệu kì. “Trong
thành phố có một vườn cây mát, trong triệu người có em của ta….” “Nơi lá
chuối che nghiêng như một cánh buồm. Cánh buồm xanh đi về trong hạnh
phúc. Se sẽ chứ không cánh buồm bay mất. Qua dịu dàng ẩm ướt của làn
môi”
+ Rồi tình yêu trở nên chín chắn hơn với một cuộc hôn nhân. “Những
ngày qua không thể dễ nguôi quên. Em lạc đến đời anh tia nắng rọi. Anh
14
như một cứu cánh. “Quen thất vọng tôi hồ nghi mọi chuyện. Tìm trong mắt
em náo động những chân trời”, một Lưu Quang Vũ đôi khi, hoang mang,
nghi ngại về chính mình, về chính tình yêu, chính cuộc sống. “Môi tôi run
những lời nói dại khờ. Em ẩn hiện sao còn xa lạ thế. Tôi ảo tưởng quá
nhiều ư? Có lẽ. Em cần gì gió lốc của đời tôi”.
Có thể thấy, đó là nỗi hoài nghi của con người quá nhiều tin tưởng,
quá nhiều khát khao. “Lòng tôi như buổi sớm vẫn nguyên lành. Em nhận
lấy, em đừng e ngại mãi”.
Nhưng rồi, nó mãi chỉ là hi vọng, khi tình yêu ấy, vẫn không có nơi để
đến.
2.1.2.4. Tình yêu là lẽ sống: Anh yêu em và anh tồn tại.
Con người luôn “mắc nợ những chuyến đi, những giấc mơ điên rồ,
những ngọt lửa không có thật” ấy cuối cùng cũng tìm được bến đỗ đời mình.
Sau này, Xuân Quỳnh được nhắc tới không chỉ là một nhà thơ nữ xuất sắc,
mà còn được nhắc tới với tư cách người vợ, người đã tạo nên nguồn vui
sống và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật lớn của Lưu Quang Vũ.
Đến với nhau không dễ dàng, khi cả hai đều đã trải qua quá nhiều mất
mát, lỡ làng, đổ vỡ, “Bao nhiêu ngày tháng bao đường sá. Biết mấy vui
buồn để có em” cả hai đã bù khuyết cho nhau, và để lại trong thi ca Việt
nam một mối tình thơ rất đẹp.
Tình yêu ấy bắt đầu từ sự e ngại từ chính Lưu Quang Vũ, con người
đã trúng tên từ cuộc đời và từ tình yêu, “bây giờ anh chỉ còn là một chiếc
cốc vỡ, một vết thương” để rồi sau đó nhận ra một nguồn đồng cảm lớn
“Năm tháng và tuổi trẻ đi qua, mắt em buồn hoang vắng” đến sự tin cậy “
Sẽ hiểu được, sẽ không còn đáng sợ. Chúng ta sẽ chịu được khổ đau, sẽ làm
việc. Đóng một cái đinh, treo một tấm áo. Và yêu nhau dưới một ngọn đèn”.
15
Hết hành trình đó, là tình yêu. Một tình yêu tỉnh táo hơn, bớt ảo tưởng
anh luôn đầy mâu thuẫn. Sự mâu thuẫn đó được thể hiện đầy đủ qua những
cung bậc cảm xúc từ vui buồn cho tới đớn đau, hạnh phúc, hoang mang tuyệt
vọng, và trong sự trộn lẫn, hoặc đẩy từ cực này sang cực khác.
2.2 Phong cách Lưu Quang Vũ thể hiện qua nội dung phản ánh
hiện thực.
2.2.1. Lưu Quang Vũ trước đất nước và lịch sử.
Có thể nói, trong thơ ca kháng chiến chống Mĩ, và cả thời kì hậu
chiến sau này, hiếm có một nhà thơ nào đứng tách ra khỏi nguồn cảm hứng
anh hùng ca, ngợi ca đất nước, cuộc chiến đấu với những con người dũng
cảm… Hình tượng đất nước được xây dựng từ trong kháng chiến chống
Pháp càng được bồi đắp thêm khi bước sang cuộc kháng chiến chống Mĩ với
một lớp các nhà thơ trẻ, đầy nhiệt huyết và tài năng. Trong đó, có Lưu
Quang Vũ.
Nhưng Lưu Quang Vũ có một số phận thơ khác hẳn. Bước vào với
dòng cảm hứng anh hùng ca ấy với bao tin tưởng và dâng hiến, nhưng rồi
chính anh lại tự mình bước ra khi nhận thấy thực tế nghiệt ngã, những mặt
khuất tối, cuộc sống không thể và không bao giờ như mình mong đợi.
Cuộc chém giết lặng dần.
Các dũng sĩ thân tàn ma dại.
Đập nát những cây đàn quí.
Ngồi nướng thịt cóc ăn.
Con mèo đi hai chân.
17
Kêu lên tiếng trẻ khóc…
Lưu Quang Vũ khi đối diện với từng bước lịch sử, anh luôn tự vấn
mình. Đó là một quá trình ngoại nội sinh tổng hợp đã biến đổi Lưu Quang
Vũ, khiến thơ anh không ngừng trưởng thành, chín chắn, sâu sắc và nhiều
cung bậc hơn.
Nịnh đời dễ, chửi đời cũng dễ.
Chỉ dựng xây đời là khó khăn thôi
19
Chương 3. NHỮNG PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN PHONG
CÁCH THƠ LƯU QUANG VŨ.
3.1. Giọng điệu: Đắm đuối, miên man. Trong niềm vui, nỗi buồn, sự
say mê, yêu thương, hi vọng…. tất cả đều đắm đuối. Đây chính là điểm
khiến thơ Lưu Quang Vũ khác người và hơn người, cũng là nét để những
người đọc khi đã đọc thơ anh thì đều cũng sẽ say, sẽ mê như thế.
Sau này, khi những nhà thơ cùng thời bắt đầu biết tỉnh táo hơn, “chân
chân thực thực” hơn, Lưu Quang Vũ vẫn không thay đổi, anh nuôi dưỡng sự
đắm đuối với thơ một cách bền bỉ, chưa bao giờ hụt hơi, đuối sức. Sự đắm
đuối đó bắt nguồn từ những dòng cảm xúc quá mạnh mẽ, cuộn chảy, nó
cuốn đi những gì thuộc về sự sắp đặt và cố ý. Nên, thơ Lưu Quang Vũ đắm
yêu thổi trên đất nước tôi… Các thể nghiệm thơ 7 chữ, 8 chữ của Lưu
Quang Vũ khá nhiều, ngoài ra thơ 5 chữ (Chiều, Thằng Mí), thơ 6 chữ
cũng lác đác xuất hiện (Ngã ba thị xã). Đây là những bài thơ ít nhiều mang
phong cách truyền thống, nhưng càng về sau, trong những giai đoạn nhiều
biến động hơn, thơ anh không thể đứng yên, không thể tuân theo vần luật, nó
trở về nguyên bản đúng như con người anh - tuôn chảy theo dòng cảm xúc,
khó nắm bắt và khó phân chia khổ, đoạn.
3.4. Những hình ảnh lặp đi lặp lại trở thành một mô tip, một nỗi ám
ảnh Hình ảnh là một trong những thành phần cấu tạo nên thơ, nhưng sử
dụng hình ảnh như một thủ pháp thường trực và mang tính hệ thống không
21
phải là đặc điểm mà bất kì nhà thơ nào cũng có. Đọc thơ Lưu Quang Vũ, ta
thấy rất nhiều hình ảnh được lặp đi lặp đi, trở thành một nỗi ám ảnh.
+ Việt Nam
+ Mưa
+ Gió
+ Ngọn lửa
+ Các loài hoa…
Quang Vũ càng được thể hiện rõ hơn bao giờ hết.
4. Phong cách thơ Lưu Quang Vũ còn được thể hiện cụ thể qua những
đề tài mà nhà thơ chọn lựa, qua những mảng nội dung hiện thực mà nhà thơ
phản ánh. Từ hiện thực chiến tranh đến những vấn đề bức thiết của đời sống,
từ số phận của từng cá nhân đến số phận, vận mệnh của cả dân tộc, từ những
23
trăn trở mang tính cá nhân đến những vấn đề mang tính đồng loại và nhân
loại…Nhưng tất cả đều được nhìn qua một thế giới quan đầy khác biệt với
các nhà thơ cùng thế hệ bấy giờ. Đó là một cái nhìn thực thế, trần trụi, đau
xót, nhưng đầy yêu thương, đầy hi vọng, và luôn luôn kiếm tìm, luôm luôn
tranh đấu.
5. Với một cái tôi trữ tình đắm đuối, với những mảng hiện thực nhiều
màu sắc, Lưu Quang Vũ cũng đã lựa chọn cho mình những phương thức thể
hiện độc đáo. Giọng điệu thơ đắm đuối miên man, lối thơ giản dị, chân thành
và chối bỏ mọi sự sắp đặt gọt giũa, thể thơ tự do và phóng túng… Đặc biệt,
Lưu Quang Vũ đã tìm cho mình được những hình ảnh mang sự ám ảnh lớn,
thậm chí đã trở thành những biểu tượng có sức lay động lớn trong thơ anh,
như Mưa, gió, lửa, đất nước….
6. Thơ Lưu Quang Vũ thực sự là một thứ thơ làm người ta yêu nhiều
hơn làm người ta phục. Điều đó có nghĩa rằng, nó đem lại niềm cảm xúc lớn.
Trong chừng gần 30 năm Lưu Quang Vũ đến với thơ ca, anh đã để lại một
khối lượng thơ không nhỏ, và rất nhiều bài thơ trong đó, đã tìm được chỗ
đứng sâu rộng trong lòng bạn đọc và chứng minh được độ bền của nó với
thời gian. Chính vì thế, bên cạnh một Lưu Quang Vũ của sân khấu, người ta
vẫn cần phải nhắc đến một Lưu Quang Vũ nhà thơ, với những cống hiến
không hề ít ỏi của anh.