tiểu luận sinh học: "đề tài" doc - Pdf 15

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Vi tảo (Microalgae) là những thực vật bậc thấp, có khả năng quang tự
dưỡng. Chúng có cấu trúc hết sức đa dạng: đơn bào, đa bào hay tập đoàn sống
chủ yếu ở nước và phân biệt với nhau bởi các chất màu (diệp lục tố, các sắc tố)
và các chất dự trữ. Đó chính là dấu hiệu hoá học để nhận biết trực tiếp bằng mắt
thường hay dưới kính hiển vi quang học.
Trong tự nhiên và đời sống con người, vai trò của vi tảo hết sức quan
trọng vì chúng là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn của các hệ sinh thái
nước. Vi tảo giữ vai trò quan trọng trong việc cải tạo môi trường (đất và nước),
làm sinh vật chỉ thị cho độ ô nhiễm của môi trường nước. Bên cạnh đó, vi tảo
còn là nguyên liệu để tách chiết các hợp chất có giá trị dinh dưỡng và để chữa
bệnh.
Qua chuyên đề Tảo học, khi học xong chắc hẳn trong chúng ta có những
suy nghĩ và tâm đắc nhất đối với môn học. Điều thú vị đối với những người yêu
thích và quan tâm đến đến các lĩnh vực nghiên cứu vi tảo đều không thể không
tìm hiểu và nghiên cứu hình thái cấu trúc vi tảo tuy rằng đây là một hướng
nghiên cứu mang tính kinh điển.

dụng phục vụ đời sống con người.
3
Nếu sự phân loại Tảo ở các thế kỉ trước đây chủ yếu dựa trên hình thái
cấu trúc tế bào, đặc điểm tế bào sinh sản và chu trình sinh sản của chúng thì ở
thế kỉ XX bên cạnh những đặc điểm đó sự phát triển của khoa hoc đã cho phép
đi sâu vào các lĩnh vực hình thái cá thể phát triển (morphogenese), phân loại các
taxon bậc ngành theo các đặc điểm cấu trúc siêu hiển vi của roi (flagellum), của
màng bao thể màu (thylakoid), các sản phẩm dự trữ dưới góc độ bản chất hoá
học, thành phần chất màu (pigments) với các phổ màu khác nhau. Các chỉ tiêu
sinh lí, sinh hoá (độc tố, hoạt chất) trong các hoạt động sống của các chi (genus),
các loài đã trở thành những dấu hiệu và đặc điểm phân loại taxon ở mức độ loài
và dưới loài. Mục đích của phân loại cuối cùng là để phân biệt được sự đa dạng
của sinh giới và các nhà khoa học phải tìm cho mình một cách đi trong hoàn
cảnh của mình. Chính vì vậy sự phân loại Tảo của trường phái Nga dựa trên đặc
điểm hình thái, cấu trúc vỏ, tính chất chất màu (pigments), cấu trúc roi, đặc điểm
tế bào sinh sản - trường phái này vẫn được trong không ít các công trình nghiên
cứu về tảo ở Việt Nam.
Trong những năm cuối của thế kỉ XX, các nhà sinh học đã cố gắng tìm
kiếm các cơ chế đặc thù của các quá trình sinh học cơ bản nhất nhằm chi phối
toàn bộ thế giới sinh vật. Đồng thời phát hiện ra nhóm sinh vật có tốc độ phát
triển nhanh. Tảo – Algae là nhóm thực vật nằm trong sự chú ý đó vì chúng
không chỉ có những cơ chế đặc thù mà còn có tốc độ sinh trưởng và phát triển
cực kì nhanh. Hàng năm có khoảng 200 tỷ tấn chất hữu cơ được tạo thành trên
toàn thế giới trong số đó 170 – 180 tỷ tấn do tảo được tạo thành.
Những điều ngày nay người ta đã biết và sẽ biết về cơ chế và sản phẩm
của quá trình quang hợp là do nghiên cứu sinh lí tảo. nhờ các quá trình nghiên
cứu hình thái và nghiên cứu tảo nuôi trong phòng thí nghiệm mà chúng ta biết
được thành phần, sự hoạt động của nguyên sinh chất, nhu cầu dinh dưỡng của
thực vật, sư lựa chọn các nguyên tố vai trò của Vitamine. Phản ứng với nguyên
tố khí hiếm, sự cố định đạm và nhiều đặc điểm sinh lí khác (Prescott, 1969).

từ đó ngày nay người ta đặc biệt chú ý đến nghiên cứu các đặc điểm sinh lí, sinh
hoá và ứng dụng tảo trong nền kinh tế.
5
Dần dần những thí nghiệm về Tế bào học, sinh lí và sinh thái được tiến
hành bổ sung cho chúng ta những kiến thức cần thiết.
Từ những ý nghĩa về Tảo thông qua nghiên cứu hình thái, nghiên cứu sinh lí,
sinh hoá
Từ các hệ thống phân loại của các nhà nghiên cứu tiếp cận các loài vi tảo
từ hình thái hình dạng, màu sắc như hệ thống của Harvey (1836) chia thành 4
ngành: Tảo Silic, tảo Lục, tảo Đỏ, tảo Nâu. Từ hình dạng màu sắc bên ngoài
Smith (1933, 1950, 1962) dựa vào số lượng tế bào, sắc tố, roi, cấu trúc tế bào đã
chia thành 8 ngành gồm: tảo Lục, tảo Mắt, tảo Vàng Ánh, tảo Nâu, tảo Giáp, tảo
Lam, tảo Đỏ và Chloromonadophyta. Vanden Hoek (1980, 1994) dựa vào sắc tố,
sản phẩm quang hợp, cấu trúc vách, cấu trúc roi, kiểu phân bào có tơ, màng bọc
của lục lạp, sự liên hệ với lưới nội chất (CER) đã chia tảo thành 11 ngành.
Lee ER (1999) dựa vào tế bào nhân sơ và nhân chuẩn chứa roi, sản phẩm dự trữ,
kiểu phân chia tế bào chia tảo thành ngành tảo Lam (nhân sơ), tảo có nhân
chuẩn, không có sự liên hệ lưới nội chất (CER) như: tảo Lục, tảo Đỏ, tảo
Glaucophyta, Dinophyta, nhóm tảo nhân thực có CER như tảo Mắt,
Cryptophyta, Heterokontophyta, Haptophyta. Graham LE (2000) dựa vào trình
tự gen 18S chia tảo thành 9 ngành.
Theo tài liệu Tảo học của Võ Hành (2007, NXB khoa học kĩ thuật Hà
Nội) và các tài liệu phân loại vi tảo khác thì ở mỗi ngành tảo đều có hình thái
cấu tạo đặc trưng khác nhau, từ các đặc điểm đặc trưng đó giúp cho người tìm
hiểu và nghiên cứu về chúng cách nhận biết và phân loại chính xác từ đơn vị
ngành đến loài và dưới loài dựa trên đặc điểm cấu tạo tế bào như: vách tế bào,
cấu trúc roi, chất nhầy, sắc thể, hạt tạo bột, nhiễm sắc thể, …, dựa trên mức độ
cấu trúc tản như: đơn bào, đa bào ở các dạng tập đoàn, sợi, ống. Ngoài ra khi
phân loại người phân loại phải tìm hiểu kĩ về các hình thức sinh sản và chu trình
sống của các loài vi tảo khác nhau để có cách đánh giá, phân loại chính xác các

Ngoài ra đặc điểm của rãnh sống, đường vân, số u lồi, vị trí rãnh sống, số lượng
rãnh. Đặc điểm ở tảo Silic có hai hình thức sinh sản: sinh sản sinh dưỡng và sinh
sản hữu tính là một tiêu chí dùng để phân loại.
7
* Ngành Dianophyta có hai roi không giống nhau khi phân loại cần chú ý
đến các đặc điểm như: vành đai và vị trí của nó nằm trên vỏ, các tấm vỏ và cách
sắp xếp, số lượng, hình dạng các tấm vỏ để từ đó lập công thức tấm vỏ từ đó
mới phân loại được các loài thuộc ngành Dinophyta.
* Để nhận biết ngành tảo Mắt cần dựa trên các tiêu chí như vách tế bào
cứng, màu sắc thường là màu vàng nâu, trên đỉnh tế bào có cổ nhô lên, tế bào có
2 roi, sản phẩm dự trữ là hạt paramilon khó thay đổi dù hình dạng tế bào thay
đổi… từ đó để phân biệt các loài khác nhau.
* Ở ngành Chlorophyta là một ngành đa dạng nhất. Ba đặc điểm quan
trong khi phân loại tảo Lục: Dựa trên cấu trúc tế bào màng roi, ở tảo lục giữa
thân roi và chân roi là vùng chuyển tiếp dạng hình sao – là đặc điểm đặc trưng
của Chlorophyta. Dựa vào quá trình nguyên phân (có thể là nguyên phân đóng
hoặc nguyên phân mở) và phân bào. Ngoài ra một đặc điểm truyền thống,
nguyên tắc cơ bản được sử dụng khi phân loại đó là đặc điểm cấu trúc hình thái
của tản như: tản kiểu đơn bào có roi – monad (gặp ở Chlamydomonas), kiểu tập
đoàn có roi (gặp ở Volvox, Gonium…), kiểu tập đoàn Palmelloid, kiểu Coccoid
(ở Chlorococcum, Chlorella, Oocytis), kiểu sợi, kiểu bản, kiểu ống


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status