Đền Bạch Mã - Võ Liệt trong truyền thuyết và tư liệu Hán Nôm
"Chúng ta hãy nhắc lại câu phương ngôn nói lên niềm tự hào của An Tĩnh vì có
bốn ngôi đền đẹp nhất An Nam: Đền Cờn, Đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng" Ấy
là câu mở đầu "Chương III: Những thắng địa và đền đài nổi tiếng" trong An Tĩnh
cổ lục (Le vieux An - Tĩnh) của Le Breton - một nhà giáo nhiều năm dạy ở trường
Quốc học Vinh, "một người bạn, người thầy của dân xứ Nghệ, người rất quan tâm
đến địa chất, đến lịch sử, đến văn hóa dân gian".
"Chúng ta hãy nhắc lại câu phương ngôn nói lên niềm tự hào của An Tĩnh
vì có bốn ngôi đền đẹp nhất An Nam: Đền Cờn, Đền Quả, Bạch Mã, Chiêu
Trưng"
Ấy là câu mở đầu "Chương III: Những thắng địa và đền đài nổi tiếng"
trong An Tĩnh cổ lục (Le vieux An - Tĩnh) của Le Breton - một nhà giáo nhiều
năm dạy ở trường Quốc học Vinh, "một người bạn, người thầy của dân xứ
Nghệ, người rất quan tâm đến địa chất, đến lịch sử, đến văn hóa dân gian".
Bằng những chuyến đi thực địa cùng học sinh và một số bạn bè vốn là các học
giả người bản xứ am tường về lịch sử văn hoá của địa phương, thăm thú khảo sát,
với con mắt tinh tường và những nhận xét khá tinh tế của một học giả phương Tây
yêu xứ Nghệ, Le Breton đã đưa vào sách những trang viết khá rành rõ về thần tích,
về hình thế phong cảnh của các đền đài, đình chùa xứ Nghệ như: Đền Chiêu Trưng,
Đền Quả, Đình Hoành Sơn, Đền Độc Lôi, Đền Mai Hắc Đế, Đền Cuông Song
đối với Đền Cờn và Đền Bạch Mã lại chưa viết rõ.
Ở những cuốn sách khác như "Bạch thần sự tích", Đền Cờn là đệ nhất Tứ linh
từ cùng Đền Quả, Đền Chiêu Trưng đều đã được nói rõ thần tích; Riêng Bạch Mã
là ngôi đền thứ ba trong Tứ linh từ lại chưa được đề cập tới. Và ngay cả "Thanh
Chương huyện chí" - cuốn sách chép khá đầy đủ thần tích các nhân thần, nhiên
thần được tôn thờ trong huyện, còn có cả phụ lục về Đền Cờn, Đền Vua Mai, Bắc
Cầm miếu, nói rõ sự tích về Tứ vị thánh nương, về Mai Hắc Đế, về Tấn quốc công
nhưng tới Đền Bạch Mã cũng chỉ có sơ lược mấy dòng.
Rất may mắn và kì diệu thay, bù lại những thiếu hụt đó Đền Bạch Mã lại có một
kho truyền thuyết trong dân gian và những tập tư liệu cổ còn lưu trong thư tịch của
Viện Hán Nôm, Thư viện Nghệ An và cả chính trong đền sở tại, một khối lượng
Ngài. Đến những ngày ấy, dù gặp đại hạn, khí trời vẫn âm u, dịu mát. Ngày 03
tháng chạp là ngày lễ Hạ nguyên tại nhà thờ cha mẹ Ngài (gọi là Phủ Ngoại).
Tại xã Võ Liệt, đền thờ Ngài có 2 cơ sở: 2 toà tại vườn cũ là Ngài, hàng năm
làm lễ giỗ chạp; 5 toà tại xóm Gia Hoà trên bờ sông Võ Giang do nhà vua lập nên
giao cho thờ phụng. Số là, sau những ngày dẹp xong ngoại xâm, xây dựng đất
nước, vua Lê Thái Tổ nhớ đến công lao, bèn phong tặng cho Ngài chức Đại Tướng
Quân và cấp 10 mẫu ruộng giỗ, phong làm Phúc thần.
Năm Quang Thuận thứ nhất (1460), vua Lê Thánh Tông đích thân làm tướng đi
đánh giặc Chiêm Thành, ban đêm nằm ngủ trong thuyền, mộng thấy một người
mặc áo xanh cưỡi ngựa bạch hướng dẫn vua đi, bèn hỏi là ai thì người ấy trả lời:
"Thần là người xã Võ Liệt, nơi ở: trên có am Bạch Vân, dưới có hồ sen", chỉ trong
chốc lát vua tỉnh mộng. Đến ngày đánh thắng giặc trở về, vua đến thăm Đền - Sở
tại xã Võ Liệt, thấy cảnh sắc đúng như trong mộng, bèn cấp thêm tế khí, sai dân
tôn tạo đền sở, cấp một người thờ tự và 20 người sai phu chuyên lo việc phụng sự
hương khói trong đền, hàng năm họ được miễn trừ mọi tạp dịch.
Do sự linh hiển của thần từng giúp nước cứu dân, các triều vua đã phong nhiều
sắc mệnh.
Theo bản sao: Gia phong thần sắc của xã Võ Liệt (tóm tắt) trong Tờ khải của
Đại Tư đồ Đoan quận công Bùi Thế Đạt, Trấn thủ Nghệ An kiêm châu Bố Chính,
Đốc suất quân doanh Trấn Ninh lập ngày 02 tháng 06 năm Cảnh Hưng 31 (1770)
về việc xin gia phong cho các vị Đại vương vốn thờ phụng ở các đền:
1. Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương. xã Hương Cần, huyện
Quỳnh Lưu.
2. Đô Thiên Đại Đế Trợ thuận bảo quốc hộ dân Đại vương. xã Võ Liệt, huyện
Thanh Chương.
3. Tá Thánh Chính Đức Khuông quốc Đại vương, xã Cát Ngạn, huyện Thanh
Chương.
4. Cao Sơn Cao Các Hiển ứng Đại vương, tổng Quan Trung, huyện Đông
Thành.
5. Cao Các Hiển ứng Phù vận Đại vương, thôn Vĩnh Khánh, xã Yên Việt
16. Năm Khánh Đức thứ 4 (1652), phong 1 đạo.
17. Năm Thịnh Đức thứ 4 (1656), phong 1 đạo cầu thu lại xứ Thuận Quảng.
18. Năm Vĩnh Thọ thứ 3 (1660), phong 1 đạo chém được tướng giặc, bắt được
binh lính giặc.
19. Năm Vĩnh Thọ thứ 3, tháng 11 ngày 29 tiêu trừ được nghịch tặc, gia phong.
Sau đó làm Tờ khải tâu lên vua, được vua phê chuẩn cho tăng số sái phu lên 30
người, hàng năm đến tháng 2 vua sai quan trong triều về xã Võ Liệt làm chủ tế.
Điển lễ Quốc tế bắt đầu từ đó. Năm ấy được phong 1 đạo.
20. Năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), vua Lê Huyền Tông phong 1 đạo, trừ Mạc
nghiệt.
21. Năm Dương Đức thứ 3 (1674), phong 1 đạo.
22. Năm Chính Hoà thứ 4 (1683), phong 1 đạo.
23. Năm Chính Hoà thứ 10 (1689) được cấp thêm Tế phẩm "Tam sinh".
24. Năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710), phong 1 đạo.
25. Năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1731), phong 1 đạo. Năm ấy các bản tổng có thờ
thần Thượng đẳng trong đó có các xã thôn thuộc bản tổng Võ Liệt được vua ban
tiền đặt biện lễ vật cúng tế.
26. Năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740) vua Lê Hiến Tông phong 1 đạo.
27. Năm Cảnh Hưng 28 (1767), gia phong 2 chữ Mỹ tự.
28. Năm Cảnh Hưng 31 (1770), để cầu thảo tặc ở Trấn Ninh, gia phong thượng
đẳng thần.
Từ đó, hàng năm đến tháng 2, phủ huyện hội đồng kính tế, cả tổng Võ Liệt
phục dịch. Đến cuối đời vua Cảnh Hưng phê chuẩn cho các xã thôn phụ cận cứ
đến tháng 2 hàng năm được lãnh tiền công quỹ để sắm sanh tế phẩm hội tế, bèn
đình chỉ việc triều đình cử quan về làm chủ tế.
Đến triều nhà Nguyễn năm Gia Long thứ 9 (1810), sau khi thống nhất quốc gia,
triều đình làm lễ "Đăng trật" phong cho Ngài các mỹ tự: "Khuông thời, Tế thế,
Hoằng độ thuợng đẳng tối linh đại vương" (hiện khắc lên bảng gỗ treo trên chính
điện).
Sắc Đô Thiên Đại Đế Long Vương: Trợ thuận bảo quốc bảo dân/ Phu huệ phổ
Đây là câu đối chủ của đền, chỉ được phép nêu lên khi đã có sắc mệnh của nhà
vua công nhận.
Năm Thiệu Trị thứ 3, vua Hiến Tông Chương hoàng đế phong 2 đạo.
Theo tư liệu lưu trữ tại Thư viện Hán Nôm, vào năm này, các xã thôn của tổng
Võ Liệt đã lập bản "giao từ".
Nguyên hàng năm vào đầu xuân, tổng có lễ tế tự vị tôn thần tại xã Võ Liệt.
Nguồn kinh phí lấy từ tiền lãi của 60 quan tiền vốn cho các xã thôn vay, lãi mỗi
năm 24 quan. Cứ đến hạn đã định, ai vay đem tiền lãi tới nạp để lo việc tế lễ.
Đây là việc trọng đối với đền thờ thần không được xem thường. Vậy, lập thành
3 bản giao các xã Thanh La, Hoàng Xá, Minh Quả cùng giữ mỗi xã 1 bản để lưu
chiếu.
Thiệu Trị năm thứ 3 (1843), tháng 3 ngày 28.
Ký tên:
Ngoại ủy, phó tổng Nguyễn Đạo ký.
Ngoại ủy, phó tổng Nguyễn Cảnh Vĩ ký.
Lý trưởng xã Hoàng Xá Nguyễn Kim Thường ký.
Lý trưởng thôn Chi Nê Trần Phạm Thiều ký.
Ngoại ủy, phó tổng thôn Thanh Nha Nguyễn Văn Cần ký.
Lý trưởng thôn Bão Đức Nguyễn Khắc Cung ký.
Lý trưởng xã Thanh La Nguyễn Văn Lệ ký.
Lý trưởng thôn Hương Thụ Lê Đăng Thụ ký.
Lý trưởng thôn Lai Nha Võ Khắc Kiệm ký.
Hương mục xã Hoà Quân Nguyễn Trọng Toàn ký.
Lý trưởng thôn Bàn Thạch Hoàng Văn Toại ký.
Tả văn từ Lý trưởng xã Minh Quả Nguyễn Đình Chương ký.
(Theo VHv 2525)
Năm Tự Đức thứ 3 (1850) và thứ 33 (1880), phong mỗi năm một đạo.
Vào năm Tự Đức thứ 21 nhân dịp tu sửa di cải đền thờ, Phan Đình Thực - Phó
bảng khoa Tân Hợi (1851), làm quan án sát Nam Định có cúng số tiền 200 quan
để dùng vào việc chuẩn bị vật liệu và thi công công trình.
3. Các tư liệu lưu trữ ở Thư viện Trung ương và Nghệ An.